xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 37 (2011-2015)
ĐỀ TÀI

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC CÔNG CHỨNG

Giảng viên hướng dẫn:
NGUYỄN LAN HƢƠNG

Sinh viên thực hiện:
VÕ THỊ DIỄM MY
MSSV: 5117324
Lớp: HG1163A1
Cần Thơ, 11/2014


MỤC LỤC
♦♦♦
Trang
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................. 3
5. Kết cấu luận văn ................................................................................................ 3
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

................................................................................................................................33
2.3 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng .......34
2.4 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng ...39
2.5. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng ...........43
2.5.1. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính ............................................44
2.5.2. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành
chính .......................................................................................................................44
2.5.3 Lập biên bản về vi phạm hành chính .........................................................44
2.5.4. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình
sự ............................................................................................................................45
2.5.5 Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính .......................46
2.5.6 Quyết định xử phạt ......................................................................................46
CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG
3.1. Một số điểm bất cập trong thực tiễn của hoạt động công chứng hiện nay
và Luật Công chứng hiện hành ...........................................................................48

3


3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
công chứng.............................................................................................................58
3.2.1. Tình hình hoạt động công chứng hiện nay và những hành vi vi phạm hành
chính .......................................................................................................................58
3.2.2 Thực tiển áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công
chứng......................................................................................................................61
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực công chứng ......................................................................................................62
KẾT LUẬN ...........................................................................................................63

ứng nhu cầu cung ứng dịch vụ công cho ngƣời dân, giúp giảm thiểu sự quá tải của các
Phòng Công chứng, góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo an toàn pháp lý trong các
quan hệ tƣ pháp nhƣ dân sự, kinh tế, thƣơng mại và các quan hệ xã hội khác, thúc đẩy
phát triển xã hội, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tăng cƣờng pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt đƣợc sau khi có hiệu lực, Luật
Công chứng cũng đã bộc lộ một số bất cập. Trong đó đáng kể là sự non kém về nghiệp
vụ và kinh nghiệm của không ít Công chứng viên dẫn đến tình trạng cẩu thả, ký xác
thực mà không đọc kỹ văn bản, không thẩm định, xác minh tài sản, nhân thân của
ngƣời ký hợp đồng giao dịch. Kết quả là có nhiều văn bản công chứng bị cơ quan chức
1

Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về Chiến lƣợc Cải cách tƣ pháp đến năm 2020.

5


năng trả lại, không chấp thuận hoặc gây ra tranh chấp trong giao dịch hợp đồng. Hệ
thống các tổ chức hành nghề công chứng thiếu sự liên kết thông qua mạng nội bộ để
chia sẻ thông tin, không có cơ sở dữ liệu chung để kiểm soát thực trạng các hợp đồng...
Do vậy, đã có trƣờng hợp một căn nhà đem bán cho hai ngƣời, mang đi công chứng
hợp đồng tại hai tổ chức hành nghề công chứng khác nhau; một tài sản đem thế chấp,
bảo lãnh ở nhiều ngƣời, nhiều nơi; ngƣời đã chết nhƣng vẫn “giao dịch”, công chứng
cho ngƣời có tài sản đã bị cƣỡng chế, kê biên, bán đấu giá thành, ký kết hợp đồng bán
đấu giá thành trƣớc khi tổ chức bán đấu giá tài sản, công chứng hợp đồng có mục đích,
nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, công chứng hợp đồng chuyển nhƣợng
dựa trên hợp đồng uỷ quyền giả, công chứng hợp đồng giao dịch không đúng ngƣời
yêu cầu công chứng (do công chứng viên chấp nhận giấy chứng minh nhân dân photo,
do nhầm ngƣời, do chứng minh nhân dân giả...), công chứng hợp đồng cho ngƣời
không đủ năng lực hành vi dân sự... gây hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng.

hành chính trong lĩnh vực công chứng ngày càng có hiệu quả hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do yêu cầu của một đề tài Luận văn tốt nghiệp và trong khuôn khổ thời gian
cho phép nên ngƣời viết chỉ tập trung vào nghiên cứu, làm rỏ những quy định hiện
hành của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng ở Việt
Nam, thực trạng áp dụng những quy định đó vào thực tế đời sống xã hội và từ đó rút ra
những nhận định, tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực công
chứng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, ngƣời nghiên cứu chủ yếu vận dụng các phƣơng pháp sau:
- Vận dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê Nin.
- Dùng phƣơng pháp lịch sử để đánh giá vần đề. Sử dụng phƣơng pháp phân tích
luật viết, phƣơng pháp tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn...
- Bên cạnh đi sâu vào tìm hiểu thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực công chứng hiện nay thông qua việc thu thập tài liệu, thông tin đã đƣợc nghiên
cứu sẵn và tìm hiểu tình hình thực tế để nhìn nhận đúng đắn vấn đề.
Cùng một số phƣơng pháp nghiên cứu khác mà ngƣời viết đã vận dụng để hoàn thành
bài luận văn này.
5. Kết cấu luận văn
Nội dung luận văn tốt nghiệp ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo thì nội dung của đề tài đƣợc trình bày trong ba chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về công chứng và xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực công chứng
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực công chứng
Chƣơng 3: Thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực công chứng

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM

5 năm thực hiện Nghị định trên nên những quy định của pháp luật nói chung và pháp
luật về công chứng nói riêng cần đƣơc hoàn thiện hơn cho phù hợp với thực tiễn. Vì lý
do đó, ngày 18/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP về tổ chứng hoạt động
công chứng thay thế cho Nghị định 45/HĐBT ngày 27/02/1991. Nghị định 31/CP cụ
thể hóa một phần các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS), đổi mới một bƣớc và tạo
cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục phát triển hoạt động công chứng ở nƣớc ta.
Sau khi có hiệu lực nhiều quy định của Nghị định 31/CP đã có nhiều bất cập,
không còn phù hợp với thực tế. Vì lẽ đó, ngày 08/12/2000 Nghị định số 75/2000/NĐCP về công chứng chứng thực đƣợc Chính phủ ban hành thay thế cho Nghị định
31/CP. Theo quy định của Nghị định này thì có sự tách bạch giữa hoạt động công
8


chứng và chứng thực, tức là đã có sự phân biệt giữa hoạt động của cơ quan chuyên
trách thực hiện hoạt động công chứng là phòng công chứng và cơ quan kiêm nhiệm
thực hiện hoạt động chứng thực là UBND cấp huyện, cấp xã. Cụ thể là theo Điều 2 của
Nghị định “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp
đồng đƣợc giao kết hoặc giao dịch đƣợc xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thƣơng
mại và quan hệ xã hội khác theo quy định của Nghị định; Còn chứng thực là việc
UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá
nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ”. Mặc dù vậy,
nhƣng sự phân biệt công chứng và chứng thực chỉ ở khía cạnh cơ bản là chủ thể thực
hiện hoạt động công chứng hoặc chứng thực, có nghĩa là cùng một việc, nếu do Phòng
công chứng thực hiện thì đƣợc gọi là hoạt động công chứng, nếu do UBND cấp huyện,
cấp xã thực hiện thì đƣợc gọi là chứng thực.
Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội thứ XI, ngày 29 tháng 11 năm 2006 Quốc hội đã
thông qua Luật công chứng (có hiệu lực ngày 01/7/2007). Luật Công chứng đã có sự
phân định rõ ràng giữa công chứng và chứng thực ở Điều 2 và theo đó các Phòng công
chứng chỉ tập trung chứng nhận các hợp đồng, giao dịch dân sự mà không thực hiện
các việc chứng thực nhƣ sao y, chứng nhận chữ ký... Theo quy định của Nghị định
79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực

được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nƣớc quy định : “ Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ
theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp
phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp
đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”.
Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về hoạt động công chứng nhà
nƣớc quy định: “ Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy
tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được
công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền
chứng nhận có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô
hiệu”.
Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng,
chứng thực, tại điều 2 quy định“ Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận
tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong
quan hệ dân sự, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo
quy định của pháp luật”. Điểm chú ý của nghị định này là đã phân định rõ ràng công
chứng và chứng thực, điều mà các Nghị định trƣớc đây chƣa làm rõ, bản chất của công
chứng là : “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng”, còn chứng thực là việc “xác
nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký cá nhân”. Nhƣ vậy theo định nghĩa
trên công chứng là hoạt động xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn chứng
thực chỉ là sao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi.

10


Luật Công chứng 2006 quy định: “công chứng là việc công chứng viên chứng

Nhà nƣớc thực hiện việc quản lý đối với tổ chức và hoạt động công chứng. Ở
Việt Nam công chứng đƣợc giao cho công chứng viên, thuộc Phòng công chứng hoạt
động theo biên chế hoặc thuộc Văn phòng công chứng theo Luật Doanh nghiệp hoặc
cơ quan đại diện nƣớc ngoài thực hiện. Công chứng viên có sự độc lập trong tác
nghiệp chuyên môn, công chứng viên không chịu trách nhiệm trƣớc các cơ quan cấp
11


trên hay trƣớc trƣởng phòng, trƣởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trƣớc pháp
luật. Vì vậy, trong tác nghiệp chuyên môn công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp
trên.
Công chứng là một biện pháp đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, hợp
đồng. Tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đƣợc công chứng viên xác nhận.
Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch vụ
công. Tính công quyền thể hiện ở chỗ công chứng viên của Phòng công chứng hay của
các Văn phòng công chứng đều do Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp bổ nhiệm để thực hiện
nhiệm vụ công chứng các hợp đồng giao dịch giữa các tổ chức, công dân theo quy
định của pháp luật. Khi tác nghiệp, công chứng viên nhân danh nhà nƣớc thực thi công
việc. Hoạt động công chứng cong mang tính chất dịch vụ công tức là thực hiện một
loại dịch vụ của nhà nƣớc nhƣng đƣợc Nhà nƣớc giao cho tổ chức hành nghề công
chứng đảm nhiệm, đó là các hợp đồng, giao dịch mà các tổ chức cá nhân yêu cầu. Một
trong những nguyên tắc cơ bản của dịch vụ công là phải đảm bảo đƣợc tính liên tục,
không bị gián đoạn. Các tổ chức hành nghề công chứng đƣợc Nhà nƣớc chuyển giao
một phần quyền của nhà nƣớc để thực hiện chức năng của Nhà nƣớc trong một lĩnh
vực cụ thể là công chứng các hợp đồng giao dịch. Đồng thời, Nhà nƣớc cũng chuyển
giao cho tổ chức hành nghề công chứng một trách nhiệm và nghĩa vụ lớn là phải thực
hiện công chứng một cách đúng pháp luật và đảm bảo lợi ích của Nhà nƣớc, của công
dân, tổ chức.
1.2.3. Phân biệt công chứng và chứng thực
Pháp luật hiện hành quy định công chứng, chứng thực là hai hoạt động khác

thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trƣờng
hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác. Có giá trị chứng cứ;
những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trƣờng
hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.
 Giá trị pháp lý của văn bản đƣợc chứng thực: “Bản sao đƣợc cấp từ sổ gốc, bản
sao đƣợc chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong
các giao dịch. Chữ ký đƣợc chứng thực có giá trị chứng minh ngƣời yêu cầu chứng
thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của ngƣời ký về nội dung của
giấy tờ, văn bản”.4
1.3. Khái quát về tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên
1.3.1. Tổ chức hành nghề công chứng
Mô hình Văn phòng công chứng đã xuất hiện rất lâu trên thế giới còn ở Việt
Nam mô hình này chỉ mới đƣợc hình thành sau khi Luật Công chứng 2006 có hiệu lực
pháp luật. Văn phòng công chứng tồn tại song song bên cạnh Phòng Công chứng theo
quy định tại Chƣơng III của Luật công chứng 2006 về cách thức tổ chức, trình tự, thủ
tục thành lập, quyền, nghĩa vụ của hai mô hình tổ chức hành nghề công chứng này.
Những quy định về tổ chức hành nghề công chứng thể hiện rất rõ nét tinh thần đổi mới
hình thức tổ chức công chứng theo hƣớng xã hội hoá và dịch vụ hoá.
* Phòng Công chứng:
Do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, đƣợc quy định là đơn vị sự
nghiệp thuộc Sở Tƣ pháp. Trƣởng Phòng công chứng phải là công chứng viên và do
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Tên gọi của
Phòng công chứng theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ƣơng nơi Phòng công chứng đƣợc thành lập.5
Việc thành lập Phòng công chứng do Sở Tƣ pháp xây dựng Đề án trên cơ sở xét
thấy nhu cầu công chứng của địa phƣơng. Đề án thành lập quy định cần nêu rõ các vấn
đề nhƣ sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự,
địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện. Sau khi
4


pháp luật quy định chặt chẽ hơn:
Theo quy định thì Văn Phòng công chứng do công chứng viên thành lập. Trong
đó, Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập đƣợc tổ chức và hoạt
động theo loại hình doanh nghiệp tƣ nhân; Văn phòng công chứng do hai công chứng
viên trở lên thành lập đƣợc tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Văn
phòng công chứng có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công
chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác.6 Đây là quan điểm hoàn
toàn mới là một trong những quan điểm tiến bộ nhất từ trƣớc đến nay đối với các văn
bản pháp luật quy định về công chứng và cũng là một bƣớc bứt phá ra khỏi sự ràng
buộc và quan niệm công chứng phải là cơ quan công quyền của Nhà nƣớc, do Nhà
nƣớc quản lý, thành lập, quyết định và cho chỉ tiêu biên chế. Văn phòng công chứng
đƣợc quy định trong Luật công chứng thể hiện một bƣớc xã hội hoá hoạt động công
chứng ngay tại thời điểm khi Luật công chứng có hiệu lực thi hành.
6

Điều 26 Luật công chứng 2006.

14


Về tên gọi của Văn phòng công chứng: Theo quy định thì “tên gọi của Văn
phòng công chứng do công chứng viên lựa chọn”. Tuy nhiên “không đƣợc trùng hoặc
gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không đƣợc sử dụng từ
ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục
của dân tộc” (khoản 3 Điều 2).
Mô hình Văn phòng công chứng là một hình thức mới của tổ chức hành nghề
công chứng. Về lâu dài hình thức Văn phòng công chứng sẽ là hình thức phổ biến của
tổ chức hành nghề công chứng ở nƣớc ta. Mô hình Phòng công chứng nhà nƣớc trƣớc
mắt là cần thiết, đặc biệt là ở các địa phƣơng miền núi, vùng sâu, vùng xa nhƣng trong

Đối với việc thành lập và đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng đƣợc
quy định tại Điều 27 Luật công chứng. Công chứng viên muốn thành lập Văn phòng
công chứng phải có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh.
Thủ tục hồ sơ gồm có:
- Đơn đề nghị thành lập Văn phòng công chứng;
- Đề án thành lập Văn phòng công chứng cần nêu rõ sự cần thiết thành lập Văn
phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều
kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện
- Bản sao quyết định bổ nhiệm công chứng viên.Trong thời hạn hai mƣơi ngày,
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng. Trƣờng hợp
từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Ngƣời bị từ chối có quyền khiếu
nại theo quy định của pháp luật.
- Trong thời hạn chín mƣơi ngày, kể từ ngày nhận đƣợc quyết định cho phép
thành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tƣ pháp của địa
phƣơng cho phép thành lập. Khi đăng ký hoạt động phải có đơn đăng ký hoạt động,
giấy tờ chứng minh về trụ sở ở địa phƣơng nơi quyết định cho phép thành lập.
- Trong thời hạn mƣời ngày làm việc, kể từ ngày nhận đƣợc các giấy tờ đăng ký
hoạt động, Sở Tƣ pháp cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; trƣờng
hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Ngƣời bị từ chối có quyền
khiếu nại theo quy định của pháp luật. Văn phòng công chứng đƣợc hoạt động kể từ
ngày Sở Tƣ pháp cấp giấy đăng ký hoạt động.
- Đối với trƣờng hợp đã cấp giấy đăng ký hoạt động nhƣng chƣa hoặc không hoạt
động thì Luật công chứng quy định nhƣ sau: “Trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày
đƣợc cấp giấy đăng ký hoạt động, nếu Văn phòng công chứng không hoạt động hoặc
trong trƣờng hợp Văn phòng công chứng không hoạt động liên tục từ ba tháng trở lên
thì Sở Tƣ pháp đăng ký thu hồi giấy đăng ký hoạt động” (khoản 4 Điều 27).
Việc thu hồi quyết định thành lập Văn phòng công chứng đƣợc Luật quy định
đối với trƣờng hợp sau: “Trong thời hạn chín mƣơi ngày, kể từ ngày nhận đƣợc quyết

ngày bắt đầu hoạt động.
- Trƣờng hợp đƣợc cấp lại giấy đăng ký hoạt động do thay đổi trụ sở, tên gọi,
Văn phòng công chứng phải đăng báo những nội dung giấy đăng ký hoạt động đƣợc
cấp lại”.
Những quy định trên cho thấy thủ tục thành lập và việc đăng ký hoạt động đối với Văn
phòng công chứng đƣợc quy định rất cụ thể, chi tiết tạo điều kiện cho ngƣời muốn
tham gia thành lập Văn phòng công chứng thực hiện dễ dàng.
- Đối với Văn phòng công chứng thì việc chấm dứt hoạt động đƣợc thực hiện
theo quy trình nhƣ sau 8:
- Trƣờng hợp tự chấm dứt hoạt động đƣợc quy định: chậm nhất ba mƣơi ngày
trƣớc thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động, Văn phòng công chứng phải có báo cáo
bằng văn bản gửi Sở Tƣ pháp nơi đăng ký hoạt động. Văn phòng công chứng có nghĩa
vụ thanh toán các khoản nợ, làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với ngƣời
lao động, thực hiện các yêu cầu công chứng đã tiếp nhận và đăng báo trung ƣơng hoặc
báo địa phƣơng trong hai số liên tiếp về thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động. Sở Tƣ
pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hoạt động của Văn
phòng công chứng với các cơ quan quy định tại Điều 29 của Luật công chứng.
8

Điều 34 Luật Công chứng 2006.

17


-

Trƣờng hợp bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động do Văn phòng công chứng vi

phạm pháp luật hoặc không còn công chứng viên do bị miễn nhiệm đƣợc quy định:
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày thu hồi giấy đăng ký hoạt động, Sở Tƣ

pháp luật.
1.3.2. Công chứng viên

18


Với vai trò quan trọng, ảnh hƣởng đến giá trị của văn bản công chứng nên trong
Luật Công chứng 2006 nhà làm luật đã dành riêng một chƣơng để quy định về Công
chứng viên. “Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này,
được bổ nhiệm để hành nghề công chứng”9. Theo đó, với vai trò là nhà chuyên môn về
pháp luật, Công chứng viên do Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp bổ nhiệm chịu trách nhiệm để
tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của ngƣời yêu cầu công
chứng, đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sai khi chứng nhận có giá trị pháp lý nhƣ
một văn bản của cơ quan công quyền và để làm đƣợc nhiệm vụ trên công chứng viên
phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định:
-

Công dân Việt Nam thƣờng trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ

Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn thì đƣợc
xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên, cụ thể:
 Có bằng cử nhân luật;
 Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức
(thời gian đào tạo nghề công chứng sáu tháng và tập sự hành nghề công chứng mƣời
hai tháng đƣợc tính vào thời gian công tác pháp luật).
 Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng;
 Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;
 Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng.10
- Những ngƣời sau đây đƣợc miễn đào tạo nghề công chứng (ngƣời đƣợc miễn
đào tạo nghề công chứng cũng đƣợc miễn tập sự hành nghề công chứng) :

chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định rõ.
 Hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng.
- Công chứng viên Phòng công chứng là công chức, viên chức nhà nƣớc đƣợc
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; Công chứng viên Văn phòng công chứng không
phải là công chức, viên chức nhà nƣớc, lƣơng và các khoản thu nhập khác đƣợc trích
từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và nguồn thu hợp pháp khác từ hợp
đồng công chứng.
- Chế độ hành nghề của công chứng viên đƣợc quy định cụ thể: Công chứng viên
phải hành nghề chuyên trách; không đƣợc đồng thời hành nghề khác, không đƣợc
kiêm nhiệm các chức danh tƣ pháp nhƣ luật sƣ, đấu giá viên, trọng tài viên, thừa phát
lại hoặc các chức danh tƣ pháp khác. (Điều 2 Nghị định 04/2013/NĐ-CP của Chính
phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng).
1.3.3. Quản lý nhà nước về công chứng
Để tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc về công chứng, Luật công chứng phân
định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan trong quản lý về tổ chức và hoạt động
công chứng, theo hƣớng tăng cƣờng vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với việc
phát triển và quản lý hệ thống tổ chức hành nghề công chứng ở địa phƣơng mình, đồng
thời bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý nhà nƣớc về công chứng trên phạm vi
toàn quốc, trong đó Bộ Tƣ pháp là đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.
Bên cạnh các Phòng công chứng đã trở thành truyền thống và có “thƣơng hiệu”
theo thời gian thì một số Văn phòng công chứng cũng đã tạo đƣợc uy tín, khẳng định
đƣợc niềm tin và thu hút đƣợc số lƣợng khách hàng đông đảo, chính vì điều đó đã tạo
ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức hành nghề công chứng, nếu muốn củng cố và phát
triển phải cải tiến và đổi mới để nâng cao uy tín, vƣơn lên khẳng định vị trí, thƣơng
hiệu của mình trong xã hội. Tuy nhiên cũng không tránh khỏi những sai phạm trong
quá trình hoạt động nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức hành
nghề công chứng và chủ yếu là các Văn phòng công chứng vì mục đích lợi nhuận, dẫn
đến nhiều vấn đề pháp lý phát sinh. Vì lý do đó, quản lý nhà nƣớc về công chứng nói
20


quan (công chứng hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng
đất). Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tƣ vấn : Công chứng viên tƣ vấn cho ngƣời
yêu cầu công chứng về các thủ tục pháp lý trong hoạt động công chứng (khác với luật
sƣ)....
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm
pháp luật, ngăn ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro tranh chấp xảy ra các cơ
21


quan nhà nƣớc có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để giải quyết các vụ
việc tranh chấp.
 Quản lý nhà nước về công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức
hành nghề công chứng nói chung và Văn phòng công chứng nói riêng đúng phạm vi
quy định của pháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Quản lý nhà nƣớc có
vai trò định hƣớng sự phát triển của ngành theo lĩnh vực công chứng, xuất phát từ tính
chất của hoạt động công chứng là hoạt động mang tính công quyền nhà nƣớc, công
chứng là hoạt động đƣợc nhà nƣớc ủy quyền để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác
thực của hợp đồng giao dịch. Vì lẽ đó, việc xác định phạm vi và ranh giới các việc
công chứng cũng là xác định thẩm quyền của các tổ chức hành nghề công chứng đƣợc
làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nƣớc trong quản lý đối với
Văn phòng công chứng, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực
này.
-

Các nguyên tắc quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực công chứng:

 Nguyên tắc đảm bảo sự quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ
chức hành nghề công chứng.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chổ: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nƣớc

thành lập, hoạt động, giải thể, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý
vi phạm về công chứng, có thể chia thành 3 nội dung nhƣ sau:
 Quản lý tổ chức hành nghề công chứng về mặt hình thức. Luật Công chứng và
các văn bản có liên quan đều có các quy định trực tiếp về tổ chức, hoạt động quyền và
nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng; Tiêu chuẩn bổ nhiệm, quyền và nghĩa
vụ của Công chứng viên; Thủ tục yêu cầu đối với hoạt động công chứng.
 Quản lý tổ chức hành nghề công chứng về mặt nội dung. Vấn đề này không
đƣợc quy định trực tiếp trong Luật Công chứng mà pháp luật chỉ có thể tác động gián
tiếp thông qua các quy định về nguyên tắc của hoạt động công chứng, áp dụng pháp
luật của nhiều lĩnh vực khác nhau.
 Quản lý tổ chức hành nghề công chứng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm là một nội dung quan trọng trong
công tác lãnh đạo, quản lý nhà nƣớc, là nhiệm vụ không thể thiếu của cơ quan lãnh
đạo, chỉ đạo; là một trong ba việc phải làm của cơ quan Đảng và chính quyền các cấp,
là một bộ phận hợp thành công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc: quyết định đƣờng
lối, chính sách, chủ trƣơng, pháp luật; tổ chức thực hiện kiểm tra tranh tra việc thực
hiện đó.
1.4. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng
1.4.1. Vi phạm hành chính
1.4.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm xảy ra phổ biến trong đời sống xã hội.
Cần phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, góp phần tăng cƣờng
đấu tranh, phòng chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính vì vậy hiểu rỏ về vi
phạm hành chính là điều rất cần thiết.
- Về định nghĩa vi phạm hành chính đã đƣợc quy định trong nhiều văn bản theo
từng thời kỳ khác nhau:
23


 Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định 143/CP ngày 27/5/1971

phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
1.4.2.3. Đặc điểm vi phạm hành chính
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật xâm hại đến các quy tắc
và trật tự quản lý Nhà nƣớc do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện một cách cố ý hay vô ý.
24


Hành vi vi phạm hành chính có khả năng làm thay đổi trật tự bình thƣờng của
quản lý hành chính nhà nƣớc: Vi phạm hành chính pháp sinh xâm hại hoặc có nguy cơ
xâm hại đối với các quan hệ xã hội hình thành trong quản lý hành chính nhà nƣớc. Các
quan hệ này đƣợc nhà nƣớc điều chỉnh bằng pháp luật. Tuy có nội dung đa dạng
nhƣng các quan hệ này đƣợc sắp xếp, phân loại thành những nhóm nhất định do quy
phạm hành chính điều chỉnh tạo nên trật tự quản lý hành chính nhà nƣớc. Tính xâm hại
các quy tắc quản lý nhà nƣớc của hành vi vi phạm hành chính là khả năng làm tổn hại
đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật quy định và bảo vệ.
Tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã
hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang. Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải
là ngƣời không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh làm mất khả năng nhận thức, khả năng
điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định. Cá nhân và tổ chức nƣớc ngoài
cũng có thể là chủ thể của vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam
trừ trƣờng hợp Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Lỗi là dấu hiệu cơ bản, bắt buộc phải có trong mọi loại vi phạm hành chính do cá
nhân thực hiện. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi đƣợc thực hiện với dạng cố
ý hoặc vô ý. Nói cách khác, ngƣời thực hiện hành vi này phải có đủ khả năng nhận
thức và điều khiển đƣợc hành vi của mình nhƣng vô tình không nhận thức đƣợc hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức đƣợc điều đó nhƣng
vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý). Hành vi vi phạm hành chính đƣợc xem là không xảy ra
khi có đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có đủ khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Nhƣ vậy,pháp luật hành
chính đã không chia nhỏ lỗi vô ý và lỗi cố ý nhƣ pháp luật hình sự vì mức độ nguy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status