trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015

Đề tài:

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ

Giảng viên hƣớng dẫn:
Th.S VÕ DUY NAM

Sinh viên thực hiện:
QUÁCH VĂN TÒNG

Bộ môn: Luật Hành chính

Mã số sinh viên: 5117356
Lớp: Luật Hành chính – Khóa 37
Cần Thơ, 11/2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
………………………………………………
Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2014
Hội đồng phản biện


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 8
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 8
2. Mục đích của đề tài .................................................................................................... 8
3. Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu ......................................................... 9
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................... 9
5. Kết cấu luận văn ........................................................................................................ 9

CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC ............................................................................... 10
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ ................................................. 10
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý ................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức ............................. 10
1.1.2.1. Trách nhiệm chủ động của cán bộ, công chức ....................................... 10
1.1.2.2. Trách nhiệm bị động của cán bộ, công chức .......................................... 10
1.1.3. Đặc điểm trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức ............................... 10
1.1.4. Các dạng trách nhiệm pháp lý ..................................................................... 11
1.1.5. Công vụ và hoạt động công vụ ..................................................................... 12

chính .................................................................................................................................. 36
2.2.6. Thẩm quyền quy định và xử phạt trách nhiệm hành chính ............................. 36
2.2.7. Thủ tục xử lý vi phạm trách nhiệm hành chính ............................................... 37
2.3. TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ............................................................................. 38
2.3.1. Khái niệm trách nhiệm vật chất ..................................................................... 38
2.3.2. Đặc điểm trách nhiệm vật chất ....................................................................... 39
2.3.3. Nguyên tắc trách nhiệm vật chất ..................................................................... 39
2.3.4. Hình thức của trách nhiệm vật chất ................................................................ 40


2.3.5. Thủ tục xử lý trách nhiệm vật chất .................................................................. 41
2.4. TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ................................................................................ 43
2.4.1. Khái niệm trách nhiệm kỷ luật ........................................................................ 43
2.4.2. Đặc điểm trách nhiệm kỷ luật ......................................................................... 43
2.4.3. Nguyên tắc xử lý trách nhiệm kỷ luật ............................................................. 44
2.4.4. Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật ..................................................................... 47
2.4.4.1. Thời hiệu xử lý trách nhiệm kỷ luật ........................................................ 47
2.4.4.2. Thời hạn xử lý trách nhiệm kỷ luật ......................................................... 47
2.4.5. Các hình thức xử lý trách nhiệm kỷ luật ........................................................ 48
2.4.5.1. Các hình thức xử lý kỷ luật cán bộ ......................................................... 48
2.4.5.2. Các hình thức xử lý kỷ luật công chức ................................................... 49
2.4.6. Thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật ............................................................... 51
2.4.6.1. Thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật cán bộ .......................................... 51
2.4.6.2. Thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật công chức..................................... 51
2.4.7. Thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức .......................................................... 52
2.4.7.1. Thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ .................................................................... 52
2.4.7.2. Thủ tục xử lý kỷ luật công chức .............................................................. 52

CHƢƠNG 3 THỰC TIỄN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN
BỘ CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ .................. 54

Thực tế cho thấy, thành tựu khoa học pháp lý ở nƣớc ta nói chung và quy định về
trách nhiệm pháp lý về quy định hoạt động công vụ của cán bộ, công chức nói riêng đã
đạt đƣợc thành tựu đáng kể. Hiện nay đa số cán bộ, công chức thực hiện tốt trách
nhiệm pháp lý khi thi hành công vụ nhƣng bên cạnh đó có một bộ phận nhỏ cán bộ,
công chức thoái hóa biến chất, tham nhũng, hách dịch, mất dân chủ, vô kỷ luật, vô
trách nhiệm, làm việc tắc trách, năng lực kém. Vì vậy, vấn đề hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả chế độ công vụ phải tiến hành đồng thời với việc hoàn thiện pháp luật về cán
bộ, công chức, công vụ, nhất là về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hoạt động
công vụ.
Từ lý do đó ngƣời viết chọn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm pháp lý của cán bộ,
công chức trong hoạt động công vụ ” làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật năm 2014
– 2015.
2. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu văn bản pháp luật về cán bộ, công chức và một số bài viết,
sách, báo… Từ đó ngƣời viết nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm pháp lý của cán bộ,
công chức trong hoạt động công vụ. Ngƣời viết nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm
rõ khái niệm, đặc điểm về hoạt động công vụ, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý của
cán bộ, công chức và mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý của công chức với các
dạng trách nhiệm xã hội khác.
Nêu lên thực trạng vi phạm về trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức ở nƣớc
ta hiện nay, xác định những nguyên nhân mặt hạn chế của thực trạng đó. Kiến nghị các
giải pháp hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức cả về quy định pháp
luật và tổ chức.
Đề tài nghiên cứu còn với mục đích góp phần nhỏ giúp các khóa sau tham khảo.


3. Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Do mục đích của vấn đề nghiên cứu, ngƣời viết chỉ tập trung nghiên cứu trách
nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức ở khía cạnh trách nhiệm tiêu cực đối với chủ thể
chịu trách nhiệm là cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ. Đối tƣợng nghiên cứu

quan điểm để định nghĩa về trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức và ngƣời viết
đã đúc kết lại thành hai khái niệm cụ thể đó là: trách nhiệm chủ động của cán bộ,
công chức và trách nhiệm bị động của cán bộ, công chức.
1.1.2.1. Trách nhiệm chủ động của cán bộ, công chức
Trách nhiệm chủ động của cán bộ, công chức là nghĩa vụ mà cơ quan, cá nhân
cán bộ, công chức phải thực hiện trƣớc Nhà nƣớc, nhân dân trên cơ sở quy định của
pháp luật và các nguyên tắc trong quản lý Nhà nƣớc.
1.1.2.2. Trách nhiệm bị động của cán bộ, công chức
Trách nhiệm bị động của cán bộ, công chức là hậu quả mà Nhà nƣớc áp dụng
chế tài pháp luật đối với cơ quan, cá nhân cán bộ, công chức vi phạm nghĩa vụ khi thi
hành công vụ, phải gánh chịu những bất lợi thiệt hại về vật chất, tinh thần do cơ quan
có thẩm quyền quy định.
1.1.3. Đặc điểm trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức
Thứ nhất, cơ sở của trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức là hành vi vi
phạm pháp luật, gây thiệt hại trực tiếp vật chấ hoặt tinh thần trên thực tế của Nhà
nƣớc, tổ chức, nhân dân trong khi thi hành công vụ.
Hành vi của cán bộ, công chức đƣợc coi là vi phạm khi thi hành công vụ khi thực
hiện hành vi trái pháp luật và quyết định cấp trên, từ chối thực hiện quy định của
pháp luật, lạm quyền, chậm trễ trong công vụ.
Thứ hai, vấn đề trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức chia ra làm hai
nhóm: nhóm cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý và nhóm cán bộ, công chức thực thi


công vụ. Việc chia ra làm hai nhóm thì dễ dàng trong việc xác định đối tƣợng cụ thể
chịu trách nhiệm pháp lý, tránh việc chồng chéo trách nhiệm giữa các đối tƣợng.
Thứ ba, trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức đang là vấn đề đƣợc Đảng và
Nhà nƣớc quan tâm, chấn chỉnh. Nội dung này đƣợc thể chế hóa vào quy định pháp
luật, cụ thể là các nguyên tắc khi hoạt động công vụ đƣợc quy định tại điều 3 Luật
cán bộ, công chức năm 2008.
Thứ tư, hình thức lỗi của trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức là: cố ý

thi công vụ xảy ra với hành vi vi phạm nghĩa vụ phục vụ, tổn thất trật tự pháp luật
trong quá trình hoạt động công vụ.
Các dạng trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức là nghĩa vụ bắt buộc nhằm
quản lý cán bộ, công chức khi sai phạm xảy ra. Các dạng trách nhiệm pháp lý của cán
bộ, công chức trong hoạt động công vụ sẽ đƣợc phân tích, bàn rõ ở chƣơng 2.
1.1.5. Công vụ và hoạt động công vụ
Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý, cán bộ, công chức là đối
tƣợng đƣợc Nhà nƣớc trao quyền lực với mục đích phục vụ lợi ích chung cho Nhà
nƣớc, xã hội và nhân dân.
Công vụ và hoạt động công vụ gắn liền với nhau. Hoạt động công vụ là hoạt động
cán bộ, công chức thực thi quyền lực Nhà nƣớc đã trao đảm bảo thực hiện đúng mục
đích, các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong quản lý toàn diện các mặt của
đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của quốc gia.
Có thể nói công vụ và hoạt động công vụ là yếu tố, nền tảng thể hiện bản chất
Nhà nƣớc, phƣơng cách quản lý của Nhà nƣớc.
Công vụ và hoạt động công vụ với chủ thể đƣợc trao quyền lực thực thi công vụ
là cán bộ, công chức nên sẽ có những đặc điểm, nguyên tắc riêng biệt. Những đặc
điểm, nguyên tắc hoạt động công vụ sẽ đƣợc ngƣời viết trình bày cụ thể ở phần tiếp
theo.
1.1.6. Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức
1.1.6.1 Khái quát về quy định cán bộ, công chức
Thuật ngữ cán bộ, công chức khá phổ biến với mọi quốc gia. Tùy vào thể chế
chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nƣớc và ảnh hƣởng của lịch sử, văn hóa
mỗi quốc gia nên thuật ngữ cán bộ, công chức đƣợc giải thích theo cách khác
nhau.
Theo quy định của Quy chế công chức Anh (ban hành tháng 6/2006) và Luật về
cải cách công chức năm 1978 của Hoa Kỳ, thì công chức là những ngƣời làm việc
trong bộ máy của Chính phủ trung ƣơng, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí công
tác xác định trên cơ sở cạnh tranh cởi mở, lành mạnh. Nhƣ vậy, công chức ở Anh và
Hoa Kỳ chỉ có ở trung ƣơng, không có ở địa phƣơng, là những ngƣời làm việc trong

chỉ đƣợc bầu cử không có chế độ phê chuẩn hay bổ nhiệm.
Theo quy định, việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm phụ thuộc vào việc cán bộ của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc hay tổ chức chính trị - xã hội. Bởi vì, việc bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, cán bộ còn chịu sự tác động của quy định, điều lệ của cơ
quan, đơn vị, tổ chức.
Việc bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng
sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội đƣợc thực hiện theo quy định của điều lệ,
pháp luật có liên quan.4

2
3

Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 4, khoản 1.
Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 4, khoản 3.

4

Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 23.


Thứ hai, về phạm vi hoạt động của cán bộ. Cán bộ hoạt động trong phạm vi Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ ba, về thời gian công tác của cán bộ. Thời gian công tác của cán bộ đƣợc
tính theo nhiệm kỳ, thời hạn nhiệm kỳ cũng chính là thời hạn giữ chức vụ, chức danh
của cán bộ và thời hạn đó đƣợc quy định ra trƣớc trong các văn bản chính thức.
Thứ tư, về chế độ lao động. Cán bộ đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc và
làm việc theo biên chế.
Đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm tiền lƣơng tƣơng xứng với nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc
giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Cán bộ, công chức làm việc
ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều


ban nhân dân cấp tỉnh giao (đối với công chức cấp xã đƣợc quy định cụ thể tại Nghị
định 112/2011 NĐ – CP Về công chức xã, phƣờng thị trấn).
Thứ hai, về phạm vi hoạt động. Phạm vi hoạt động của công chức rộng hơn so
với phạm vi hoạt động của cán bộ. Phạm vi hoạt động của công chức có cả trong cơ
quan thuộc đơn vị quân đội nhân dân, công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo quản
lý thuộc đơn vị sự nghiệp công lập.
Ngƣời làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là
sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.7
Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu; ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng,
cấp phó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ, Ủy
ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ.
Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc
ngân sách nhà nƣớc cấp kinh phí hoạt động thuộc các Ban và cơ quan tƣơng đƣơng
của Trung ƣơng Đảng, Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán
Nhà nƣớc, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan Trung
ƣơng các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Thủ tƣớng Chính phủ.
Ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp kinh
phí hoạt động thuộc Tổng cục, Cục và tƣơng đƣơng trực thuộc Bộ, cơ quan ngang
Bộ; tỉnh ủy, thành ủy; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh;
huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Ngƣời giữ các vị trí việc làm gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trong đơn vị sự
nghiệp công lập đƣợc giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc.8
Thứ ba, về thời gian công tác. Thời gian công chức công tác không theo nhiệm
kỳ mà thời gian công tác của công chức là từ khi đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm đến khi
nghỉ hƣu. Công chức đƣợc nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật lao động. Trƣớc 06
tháng, tính đến ngày công chức nghỉ hƣu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức

1.1.6.4. Nguyên tắc hoạt động công vụ của cán bộ, công chức9
Thứ nhất, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Khi hoạt động công vụ, cán bộ, công
chức phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bên cạnh việc tuân thủ Hiến pháp
và pháp luật, cán bộ, công chức còn phải thể hiện tinh thần Hiến pháp, áp dụng pháp
luật đúng đắn khi thi hành công vụ.
Thứ hai, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công
dân.
Hoạt động công vụ là hoạt động mà cán bộ, công chức đƣợc Nhà nƣớc trao quyền
nhằm mục đích vì quyền lợi của Nhà nƣớc, tổ chức, công dân, chính vì thế khi hoạt
động công vụ cán bộ, công chức phải bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, tổ chức và công
dân.
Thứ ba, công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát.
Hoạt động công vụ là hoạt động mang tính phổ biến, nhƣng rất phức tạp chính vì
vậy khi hoạt động công vụ cần công khai, minh bạch tạo sự rõ ràng, khách quan, đúng
9

Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 3.


thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế tình trạng sai phạm có thể xảy ra
trong khi thực thi công vụ.
Thứ tư, bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả là
nguyên tắc tất yếu, thể hiện đƣợc sự hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành của bộ
máy Nhà nƣớc, đảm bảo không có sự gián đoạn trong hoạt động quản lý Nhà nƣớc.
Thứ năm, bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ. Trong hoạt động
công vụ phải đảm bảo thứ bậc hành chính tránh trƣờng hợp sai thẩm quyền, sai thủ tục,
bên cạnh việc đảm bảo thứ bậc hành chính cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các
cơ quan, tạo sự chặt chẽ, bổ sung cho nhau trong hoạt động công vụ.
1.1.6.5. Quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong công vụ
Quyền lợi của cán bộ, công chức là quyền mà cán bộ, công chức đƣợc hƣởng,

Quyền được bảo vệ bởi pháp luật và nhân dân khi thi hành nhiệm vụ
Cán bộ, công chức khi thi hành công vụ sẽ đƣợc pháp luật và nhân dân bảo vệ,
đảm bảo đúng thẩm quyền, đƣợc tôn trọng, trong lúc làm nhiệm vụ nếu gặp phải
chống đối, ngƣời thi hành công vụ giải thích cho ngƣời vi phạm biết lỗi mắc phải,
yêu cầu chấm dứt ngay hành vi. Nếu họ không chấp hành, ngƣời thi hành công vụ
mới đƣợc sử dụng biện pháp bắt giữ, cƣỡng chế.
Ví dụ: Điều 14 các biện pháp ngăn chặn hành vi chống ngƣời thi hành công vụ
theo Nghị định 208/2013/ NĐ – CP Quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn
và xử lý hành vi chống ngƣời thi hành công vụ.
Giải thích cho ngƣời có hành vi vi phạm biết rõ là họ đã vi phạm pháp luật và
yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm đó. Yêu cầu ngƣời vi phạm xuất trình chứng
minh nhân dân và các giấy tờ cần thiết khác để kiểm tra.
Cƣỡng chế ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật chấm dứt hành vi vi phạm và
chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của ngƣời thi hành công vụ.
Bắt giữ ngƣời có hành vi chống ngƣời thi hành công vụ; khám ngƣời, phƣơng
tiện vi phạm; tƣớc bỏ, vô hiệu hóa hung khí, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Trình tự, thủ tục bắt giữ, khám xét ngƣời có hành vi chống ngƣời thi hành công
vụ, khám phƣơng tiện vi phạm đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trƣờng hợp tập trung đông ngƣời chống ngƣời thi hành công vụ thì tiến hành các
biện pháp vận động, thuyết phục đối tƣợng chấm dứt hành vi vi phạm; trƣờng hợp
cần thiết phải tiến hành các biện pháp cƣỡng chế theo quy định của pháp luật về bảo
đảm trật tự công cộng nhằm giải tán đám đông; ngăn chặn, bao vây, khống chế, cô
lập, bắt giữ đối tƣợng cầm đầu, tổ chức, xúi giục.
Trong trƣờng hợp cần thiết, cấp bách hoặc ngƣời có hành vi chống ngƣời thi
hành công vụ sử dụng vũ khí quân dụng hoặc vũ khí thô sơ tấn công ngƣời thi hành
công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và từng trƣờng hợp cụ thể, ngƣời thi
hành công vụ đƣợc sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ và các phƣơng tiện, thiết bị kỹ
11

Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 30, khoản 1.

Chấp hành nghiêm chỉnh đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nƣớc.12
Giữ gìn bí mật Nhà nước và bí mật công tác

12

Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 8.


Cán bộ, công chức là chủ thể có trách nhiệm đặc biệt trong hoạt động công tác
có điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu, những vấn đề bí mật của Nhà nƣớc, bí mật công
tác. Chính vì thế nên cán bộ, công chức phải có nghĩa vụ giữ gìn bí mật Nhà nƣớc và
bí mật công tác. Nếu cán bộ, công chức vi phạm sẽ chịu trách nhiệm tƣơng ứng,
thông thƣờng đối với loại nghĩa vụ này nếu cán bộ, công chức vi phạm sẽ phải chịu
trách nhiệm hình sự và đi kèm là trách nhiệm kỷ luật.
Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan,
tổ chức, đơn vị; báo cáo ngƣời có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật Nhà nƣớc.13
Thi hành mọi mệnh lệnh hợp pháp của cấp trên
Cán bộ, công chức có nghĩa vụ thi hành mọi mệnh lệnh của cấp trên, nếu mệnh
lệnh của cấp trên không hợp pháp hoặc trái với pháp luật thì cán bộ, công chức phải
báo cáo ngay với ngƣời ra quyết định.
Chấp hành quyết định cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định trong đó là trái
pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với ngƣời ra quyết định; trƣờng hợp
ngƣời ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và ngƣời thi hành
phải chấp hành nhƣng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời
báo cáo cấp trên trực tiếp của ngƣời ra quyết định của mình.14
Trƣờng hợp vẫn chấp hành mệnh lệnh thì cán bộ phải báo cáo lên cấp trên trực
tiếp của ngƣời ra quyết định. Nếu cán bộ, công chức chấp hành mệnh lệnh không hợp
pháp mà không báo cáo với ngƣời ra quyết định, cấp trên ngƣời ra quyết định dù lỗi

thức kỷ luật đảng đối với những cán bộ là đảng viên khi thực hiện hành vi vi phạm kỷ
luật Đảng. Xem xét trách nhiệm trƣớc tập thể cơ quan nơi cán bộ làm việc, trách
nhiệm của đại biểu dân cử trƣớc cử tri, việc cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, phẩm
chất năng lực yếu kém sẽ phải chịu trách nhiệm trƣớc tập thể nơi cán bộ, công chức
làm việc.
Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị có mối quan hệ với nhau, thể hiện
đƣợc ý chí của Đảng, thể chế Nhà nƣớc, thể hiện đƣợc tính nghiêm khắc, sự ràng
buộc cán bộ khi mang bên mình yếu tố chính trị, chức vụ.
1.1.7.2. Mối quan hệ trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức với trách nhiệm
xã hội
Trách nhiệm đạo đức là ý thức của mỗi ngƣời, là những chuẩn mực của xã hội.
Trong mối quan hệ giữa trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý của cán bộ,
công chức thấy đƣợc sự quan trọng. Trách nhiệm đạo đức là công cụ hỗ trợ cho trách
nhiệm pháp lý, đƣợc thể chế hóa thành pháp luật. Ngƣời cán bộ, công chức khi làm
việc không chỉ có trách nhiệm mà phải có cái tâm, nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
nói “ cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân ”.16
Như vậy, qua chương 1 người viết đã làm sáng tỏ trách nhiệm pháp lý của cán
bộ, công chức là một dạng trách nhiệm xã hội. Dưới góc độ tiêu cực, trách nhiệm
pháp lý của cán bộ, công chức là hậu quả pháp lý bất lợi phát sinh từ phía nhà nước
đối với người công chức vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý Nhà nước.

16

Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 252, 253.


Xuất phát từ bản chất Nhà nước và đặc thù hệ thống chính trị ở Việt Nam trách
nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức luôn có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với các
trách nhiệm chính trị và trách nhiệm đạo đức tạo cơ sở toàn diện cho việc truy cứu

đặc biệt, gắn liền với hoạt động công vụ của Nhà nƣớc.
Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm đƣợc quy định chặt chẽ về nội dung lẫn
hình thức có thể nói đây là bƣớc tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam nói chung, pháp luật về trách nhiệm cán bộ, công chức nói riêng.
2.1.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Chúng ta xem xét đến cơ sở của trách nhiệm hình sự của cán bộ, công chức đó là
tội phạm đƣợc quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm
2009.
“ Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự ”.
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thông thƣờng các tội
phạm cán bộ, công chức phạm phải là các tội phạm về chức vụ quy định tại chƣơng


XXI. Tuy nhiên khi xét đến trách nhiệm hình sự khi hoạt động công vụ thì đƣợc phân
chia làm nhiều loại: các tội phạm về tham nhũng, các tội phạm khác về chức vụ, xâm
phạm hoạt động tƣ pháp và xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
Thứ nhất, xét về các hành vi tham nhũng trong hoạt động công vụ đƣợc quy định
tại Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Luật phòng, chống tham
nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, cụ thể đƣợc quy định nhƣ sau:
Các hành vi về tham nhũng trong hoạt động công vụ quy định theo Bộ luật hình sự
năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là những hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ,
lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong
khi thi hành công vụ, lạm dụng quyền trong khi thi hành công vụ, lợi dụng chức vụ,
quyền hạn ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi, giả mạo trong công tác.17
Các hành vi về tham nhũng theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa
đổi, bổ sung năm 2007 quy định là những hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì
vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng với ngƣời khác để trục lợi, giả mạo

định cán bộ, công chức chỉ trở thành chủ thể của tội phạm khi họ đã lợi dụng chức vụ
đƣợc giao để phạm tội.
Bàn về các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp quy định tại chƣơng XXII, khi nói
đến vấn đề xử lý các tội xâm hại hoạt động tƣ pháp thấy sự quyết tâm, đúng đắn của
Đảng và Nhà nƣớc trong vấn đề xử lý nghiêm các xâm hại đến hoạt động tƣ pháp, trên
tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải
cách tƣ pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự nghiêm khắc
hơn đối với những tội phạm là ngƣời có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những
ngƣời lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội và Hiến pháp năm 2013 về quyền tƣ
pháp và hoạt động tƣ pháp, đồng thời để khắc phục những điểm hạn chế, bất cập trong
thực tiễn cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về nhóm các tội
xâm phạm hoạt động tƣ pháp, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm hiện nay.
Những hành vi mà cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ trong hoạt động tƣ
pháp nếu phạm phải sẽ chịu trách nhiệm hình sự là những hành vi: truy cứu trách
nhiệm hình sự ngƣời không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự ngƣời không
có tội, ra bản án trái pháp luật, ra quyết định trái pháp luật, ép buộc nhân viên tƣ pháp
làm trái pháp luật, dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án, thiếu trách
nhiệm để ngƣời bị giam, giữ trốn, tha trái pháp luật ngƣời đang bị gaim, giữ, lợi dụng
chức vụ quyền hạn giam, giữ ngƣời trái pháp luật, không thi hành án, cản trở việc thi
hành án.20
Trách nhiệm hình sự của tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là
những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đƣợc Bộ luật hình sự quy định là những tội
phạm cụ thể xâm hại đến nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, cấu thành loại tội
phạm này đƣợc ghi nhận tại chƣơng XXIII của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ
sung năm 2009. Khi xem xét loại trách nhiệm này cần làm rõ quân nhân là những ai?
Theo quy định Luật cán bộ, công chức năm 2008, thì chỉ quy định quân nhân ở đối
tƣợng là công chức cụ thể: nếu công chức thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status