ảnh hưởng của gốc ghép mướp và bầu địa phương đến sinh trưởng, năng suất khổ qua vụ hè thu 2012 - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHẠM THỊ KIM TƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP MƯỚP VÀ
BẦU ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG,
NĂNG SUẤT KHỔ QUA
VỤ HÈ THU 2012

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC

Cần Thơ, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP MƯỚP VÀ
BẦU ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG,
NĂNG SUẤT KHỔ QUA
VỤ HÈ THU 2012

Giáo viên hướng dẫn:
PGS. TS. Trần Thị Ba

quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào trước đây.

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Tác giả luận văn

Phạm Thị Kim Tường

iii


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NHIỆP
-oOoHội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành
Nông học với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP MƯỚP VÀ
BẦU ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG,
NĂNG SUẤT KHỔ QUA
VỤ HÈ THU 2012
Do sinh viên: Phạm Thị Kim Tường thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng,
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp………………………………………
……………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………….
Luận văn tốt nghiệp được đánh giá ở mức:……………….…………………………..
Cần Thơ, ngày…tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng
Thành viên 1


Con bà: Nguyễn Thị Nam

Sinh năm: 1955

Quê quán: ấp An Lợi A, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1. Tiểu học
Thời gian đào tạo: 1998 đến năm 2003
Trường: Tiểu học Định Yên 1
Địa chỉ: xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
2. Trung học cơ sở
Thời gian đào tạo: 2003 đến năm 2007
Trường: Trung học cơ sở Định Yên
Địa chỉ: xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
3. Trung học phổ thông
Thời gian đào tạo: 2007 đến năm 2010
Trường: Trung học phổ thông Lấp Vò 1
Địa chỉ: Quốc lộ 80, thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
4. Đại học
Thời gian đào tạo: 2010 đến năm 2013
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Ninh Kiều – Cần Thơ
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

Phạm Thị Kim Tường

v


LỜI CẢM TẠ

nghiệp kỹ sư Nông học, khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học
Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ba, ThS. Võ Thị Bích Thủy.
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại Trại thực nghiệm khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng, Đại học Cần Thơ (ĐHCT) vụ Hè Thu 2012 nhằm mục tiêu tìm ra gốc
ghép thích hợp cho khổ qua sinh trưởng tốt và đạt năng suất cao. Thí nghiệm được
bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức với 4 lần lặp lại.
Các nghiệm thức gồm: (1) Khổ qua không ghép-đối chứng, (2) Khổ qua ghép gốc
bầu địa phương và (3) Khổ qua ghép gốc mướp. Diện tích thí nghiệm là 180 m2.
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ sống của khổ qua ghép gốc mướp và khổ qua
không ghép-đối chứng rất cao (100%); khổ qua ghép gốc bầu địa phương có tỉ lệ
sống 7,14%. Khổ qua ghép gốc mướp và không ghép-đối chứng có sức sinh trưởng
và cho năng suất tốt hơn khổ qua ghép gốc bầu địa phương. Tại thời điểm kết thúc
thu hoạch (KTTH), khổ qua ghép gốc mướp có chiều dài thân chính (445,23 cm) và
số lá (61,21 lá/cây), khổ qua không ghép có chiều dài thân chính (444,45 cm) và số
lá (54,93 lá/cây) cao hơn khổ qua ghép gốc bầu địa phương (295,92 cm và 37,94
lá/cây). Năng suất thương phẩm của khổ qua ghép gốc mướp và khổ qua không
ghép-đối chứng đạt 21,45-23,27 tấn/ha, cao gấp 3,39 lần khổ qua ghép gốc bầu địa
phương.

vii


MỤC LỤC
Nội dung

Trang
Tóm lược...........................................................................................vii
Mục lục..............................................................................................xiii
Danh sách bảng..................................................................................x

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi.............................................................................................. 16
2.2.4 Phân tích số liệu ............................................................................................. 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .................................................................. 18
viii


3.1 Ghi nhận tổng quát ................................................................................................ 18
3.2 Tỉ lệ sống sau khi ghép .......................................................................................... 19
3.3 Đặc điểm sinh trưởng ............................................................................................. 19
3.3.1 Chiều dài thân chính ....................................................................................... 19
3.3.2 Số lá trên thân chính ........................................................................................ 20
3.3.3 Đường kính gốc, ngọn ghép ............................................................................ 21
3.3.4 Tỉ lệ sống sau khi trồng ................................................................................... 23
3.3.5 Kích thước trái ................................................................................................ 24
3.4 Thành phần năng suất và năng suất ............................................................................ 25
3.4.1 Trọng lượng trung bình trái ............................................................................. 25
3.4.2 Số trái trên cây và số trái thương phẩm trên cây .............................................. 25
3.4.3 Trọng lượng trái trên cây và trọng lượng trái thương phẩm trên cây ................ 26
3.4.4 Trọng lượng toàn cây và tỉ lệ trọng lượng trái trên trọng lượng toàn cây.......... 27
3.4.5 Năng suất tổng và năng suất thương phẩm....................................................... 28
3.5 Độ cứng và độ Brix trái........................................................................................ 29
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ...................................................................... 30
4.1 Kết luận ................................................................................................................. 30
4.2 Đề nghị .................................................................................................................. 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 31

PHỤ CHƯƠNG

ix


Số lá trên thân chính của khổ qua ghép gốc và không ghép ở các
giai đoạn khảo sát

21

3.4

Đường kính gốc ghép của khổ qua ghép gốc và không ghép ở các
giai đoạn khảo sát

22

3.5

Đường kính ngọn ghép của khổ qua ghép gốc và không ghép ở các
giai đoạn khảo sát

23

3.6

Tỉ số đường kính gốc ghép và ngọn ghép của khổ qua ghép gốc và
không ghép ở các giai đoạn khảo sát

23

3.7

Tỉ lệ sống sau trồng (%) của khổ qua ghép gốc và không ghép ở
các giai đoạn khảo sát

Tên hình

Trang

2.1

Tình hình khí hậu tại thành phố Cần Thơ tháng 5-8/2012 (Đài khí
tượng thủy văn thành phố Cần Thơ, 2012)

13

2.2

Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của gốc ghép mướp và bầu địa
phương đến sinh trưởng, năng suất khổ qua, vụ Hè Thu 2012”

14

3.1

Sự sinh trưởng của khổ qua ghép gốc và không ghép 12 NSKT

18

3.2

Hiện tượng rễ ngọn khổ qua đâm xuống đất làm gốc ghép bầu địa
phương bị chết

18

NSKT
KTTH

Đại học Cần Thơ
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
Ngày sau khi ghép
Ngày sau khi trồng
Kết thúc thu hoạch

xii


MỞ ĐẦU

Sử dụng gốc ghép trên cây ăn trái và rau ăn trái là một trong những kỹ thuật
canh tác phổ biến hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới có nền nông nghiệp phát
triển, thông qua việc sử dụng khả năng chống chịu tốt của gốc ghép để giúp bảo vệ
cây trồng trước những điều kiện bất lợi của môi trường. Kỹ thuật này đã được áp
dụng thành công và mang lại hiệu quả cao trong việc kháng một số mầm bệnh trong
đất trên các đối tượng cây trồng như: cam, quýt, cà chua, dưa hấu, dưa leo… Ở
nước ta trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu và ứng dụng gốc ghép trong
sản xuất rau phát triển khá mạnh mẽ đồng thời đã đạt được nhiều thành công khi
đưa dưa hấu ghép vào thực tế sản xuất. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về khổ qua
ghép chưa nhiều. Trong khi điều kiện canh tác nhiều vụ trên một nền đất đã dẫn đến
vấn đề các mầm bệnh lưu tồn trong đất ngày càng gia tăng với đặc tính rất khó
phòng trị, gây thiệt hại nặng nề đến năng suất khổ qua. Chính vì vậy, đề tài “Ảnh
hưởng của gốc ghép mướp và bầu địa phương đến sinh trưởng, năng suất khổ
qua vụ Hè Thu 2012” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra gốc ghép thích hợp để
cây khổ qua sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và tạo nền tảng cho những nghiên
cứu tìm gốc ghép kháng bệnh tốt trên khổ qua.

Cường, 2007). Theo Đỗ Huy Bích và ctv. (2004), khổ qua trồng ở Việt Nam gồm
nhiều giống, cây được trồng ở hầu hết các tỉnh từ đồng bằng đến trung du và miền
núi. Một số vùng cao và lạnh như Sa Pa (Lào Cai), Phó Bảng (Hà Giang),… không
thấy trồng khổ qua.
1.1.3 Đặc tính thực vật
* Rễ: Bộ rễ của khổ qua gồm nhiều rễ nhỏ, phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt
sâu 30 cm (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Rễ chính ăn sâu từ
0,9 m đến hơn 2 m. Khổ qua có khả năng chịu hạn tốt do bộ rễ phát triển mạnh, nếu
2


ẩm độ quá cao và mạch nước ngầm cao sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cả
bộ rễ. Hệ rễ có khả năng hút nước ở tầng đất sâu, có khả năng chịu hạn nên chúng
có thể sinh trưởng ở vùng bán sa mạc và vùng thảo nguyên (Tạ Thu Cúc, 2005).
* Thân: Khổ qua là cây rau ăn trái hằng niên, thân leo bằng tua cuốn đơn,
mảnh, thân có cạnh. Thân có thể vươn dài đến 5 m và có trường hợp dài hơn thế
nữa (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Tuy nhiên, với điều kiện thời tiết thuận lợi và
để cây sinh trưởng tự nhiên không áp dụng kỹ thuật bấm ngọn thì thân khổ qua có
thể vươn dài 8-10 m. Thời kỳ cây con (1-2 đến 4-5 lá thật) khổ qua phát triển chậm,
đốt ngắn, thân mảnh. Thời kỳ ra hoa là lúc thân phát triển mạnh nhất, tốc độ sinh
trưởng nhanh, lóng dài. Đến lúc cây già thì độ dài thân đạt tối đa. Trên thân, mỗi
nách lá mọc ra tua cuốn không phân nhánh (Tạ Thu Cúc, 2005).
* Lá: Lá đơn mọc so le, phiến lá chia 5-7 thùy, dài 5-10 cm, rộng 4-8 cm,
hình trứng, mép có khía răng cưa, gốc lá hình tim, đầu thùy nhọn hoặc hơi tù, gân lá
có lông ngắn (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004). Mặt dưới lá màu nhạt hơn mặt trên, trên
gân lá có lông ngắn (Đường Hồng Dật, 2002). Lá là cơ quan thực hiện quá trình
quang hợp, biến đổi chất vô cơ dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời thành chất hữu
cơ cung cấp cho các hoạt động của cây, giúp cây trồng tồn tại và phát triển. Số lá
nhiều hay ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây, giúp cây cho năng
suất và phẩm chất trái cao (Phạm Thị Minh Tâm, 2000).

kéo dài, năng suất trên đơn vị diện tích cao nên trong những thời kỳ sinh trưởng
quan trọng cần phải cung cấp đủ nước. Khổ qua có thể trồng trên nhiều loại đất
nhưng sinh trưởng thuận lợi nhất trên đất giàu dinh dưỡng và thoát nước tốt (Trần
Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2002). Độ pH thích hợp cho đất trồng khổ qua là 6,06,7 (Narinder, 2013).
* Dinh dưỡng: Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007) thì
cây khổ qua cần lượng chất dinh dưỡng khá nhiều. Cần bón cân đối các chất dinh
dưỡng đa lượng đạm (N), lân (P) và kali (K). Đạm và lân giúp cây tăng trưởng thân
lá, nhiều trái còn kali giúp cây cứng cáp, tăng sức chống chịu sâu bệnh và tăng chất
lượng trái. Không những thế, khổ qua cũng cần đầy đủ các chất trung và vi lượng để
cây phát triển cân đối, góp phần tăng năng suất và chất lượng trái.
1.1.5 Kỹ thuật canh tác
* Mùa vụ: Khổ qua có thể trồng được quanh năm, nhưng tốt nhất là vụ Đông
Xuân, gieo hạt từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Gieo vụ Hè Thu (tháng 4-5) cũng
cho năng suất cao nhưng rất dễ bị sâu bệnh, nhất là ruồi đục trái (Nguyễn Mạnh
Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).
* Làm đất: Cây khổ qua thích hợp đất thịt nhẹ hoặc cát pha, có thể thoát
nước tốt. Đất cần cày bừa kỹ, để ải, lên liếp cao 20-25 cm, rộng 1-1,2 m. Dùng
màng nilon phủ luống để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và sâu bệnh (Nguyễn Mạnh Chinh
và Phạm Anh Cường, 2007). Trước khi trãi màng phủ cần thực hiện bón phân lót và
cho nước ướt đều mặt liếp (Trần Thị Ba, 2010).
* Làm giàn: Canh tác cây khổ qua cần làm giàn để cây có thể phát triển tốt
và cho trái thương phẩm, nên làm giàn cây hoặc giàn lưới khi cây bắt đầu bò. Cây
4


làm giàn có chiều dài lớn hơn 2 m, có thể làm giàn hình vuông hay hình chữ nhân
(X) (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
* Khoảng cách trồng: Do đặc tính thân bò sum xuê nên mỗi liếp khổ qua chỉ
nên trồng theo 1 hàng, khoảng cách cây cách cây trên hàng thích hợp là 0,4-0,5 m
tương ứng với mật độ 15.000-20.000 cây/1000 m2 (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).


đục trái cây là phần ngực có vạch vàng ở chính giữa, cánh trước có một vệt màu
đậm dọc gân ngang ở gần cuối cánh (Trần Thị Ba, Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị
Sen, 2004). Ấu trùng là dòi màu trắng ngà, đục thành đường hầm ngoằn ngoèo bên
trong làm trái đèo đẹt, thối vàng và rụng sớm (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001; Trần
Văn Hòa và ctv., 2000). Nên thu gom tiêu hủy những trái bị bệnh, phơi đất, cho
ngập nước để tiêu diệt nhộng tồn lưu trong đất. Tiến hành dùng bao nilon bao bọc
những trái non (vừa mới được thụ phấn), trái đã thụ phấn nhằm cách ly không cho
ruồi đục được (Trần Thị Ba, 1999).
* Bệnh
- Bệnh héo xanh (héo rũ) do nấm Fusarium oxysporum gây nên. Khi cây còn
nhỏ bị héo như mất nước, chết khô từ đọt, nhổ lên thấy gốc bị thối đen. Trên cây đã
lớn biểu hiện bệnh đầu tiên là cây sinh trưởng kém, sau đó lá biến vàng từ gốc trở
lên, cây bị héo từng nhánh cuối cùng héo cả cây và chết khô, cắt ngang thân gần gốc
thấy mạch dẫn bên trong bị thâm đen (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường,
2007).
- Bệnh đốm phấn, sương mai do nấm Pscudoperonospora cubensis. Lúc mới
xuất hiện, ở mặt trên lá có vết bệnh màu xanh nhạt sau đó chuyển sang màu vàng
nâu và đốm bệnh có hình dạng góc cạnh. Bên dưới vết bệnh có lớp tơ nấm từ màu
trắng chuyển sang màu vàng tím. Bệnh nặng làm vàng lá, cây phát triển chậm, trái
nhỏ kém chất lượng. Bệnh phát triển trong điều kiện ẩm độ cao (Phạm Hồng Cúc và
ctv., 2001).
1.2 Khái quát về gốc ghép
1.2.1 Bầu địa phương
Bầu địa phương (bottle gourd), thuộc họ dưa bầu bí (cucurbiteae). Cây bầu
có nguồn gốc từ Châu Phi, Ấn Độ. Ngày nay, bầu được trồng rộng rãi ở các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Trái non là bộ phận để sử dụng, thường
luộc, xào, nấu canh, kho... Tỉ lệ dinh dưỡng trong trái bầu thấp thơn các loại cây
trong cùng họ, nhưng thịt trái non ngọt, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, có thể trị
được bệnh đái tháo, mụn lỡ. Hoa bầu còn được dùng để chữa bệnh trong Đông y

từng chùm dạng chùy. Hoa cái mọc riêng lẻ, cánh hoa rộng màu vàng tươi, có bầu
noãn. Trái hình trụ thuôn, dài khoảng 30-50 cm, rộng 5-8 cm, vỏ mướp có màu
xanh lục nhạt bên trên có gân đen chạy dọc theo chiều dài của trái, khi già chuyển
sang màu nâu. Trái mướp có nhiều hạt bên trong. Hạt có dạng trứng dài, màu nâu,
dài khoảng 8-9 mm, mép có khía hơi. Khi trái chín vỏ ngoài hạt và chất nhày tróc ra
hết còn lại bao khối khô xơ cứng, khi thấm nước thì phồng to lên và mềm nhũng.
Người dân có thể dùng xơ mướp để rửa chén và miếng kỳ mình khi tắm rất sạch.
Thời gian từ khi gieo hạt đến thu hoạch từ 80-100 ngày tùy theo mỗi giống. Thời
gian thu hoạch thường kéo dài 2-3 tháng, năng suất đạt 40-50 tấn/ha.
Mướp là cây rau của mùa hè, ưa khí hậu nóng ẩm, ánh sáng nhiều khả năng
chịu hạn tốt. Mướp trồng được trên nhiều loại đất, nhiều mùn, giữ ẩm nhưng thoát
nước. Do diện tích thân lá lớn nên cây mướp sử dụng nhiều nước và nhiều chất dinh
dưỡng. Nhu cầu đạm, lân, kali nói chung đều cao. Đặc biệt là đạm, nếu thiếu cây sẽ
sinh trưởng kém hẳn, trái ít và nhỏ, năng suất giảm rõ rệt. Tuy nhiên, nhiều đạm quá
7


cây phát triển thân lá mạnh cũng ít trái. Ảnh hưởng của chất vi lượng không lớn đối
với loại cây này (Nguyễn Mạnh Trinh và Phạm Anh Cường, 2007).
1.3 Khái quát về ghép trên dưa bầu bí
1.3.1 Tầm quan trọng của việc ghép
Theo Phạm Văn Côn (2007), ghép cây là một phương pháp nhân giống vô
tính được thực hiện bằng cách đem một phần của cây giống (cành, ngọn ghép) gắn
sang một cây khác (gốc ghép) thông qua việc áp sát các mô phân sinh để tạo nên
một cây mới giữ những đặc tính của cây giống ban đầu và những đặc tính chống
chịu quý của gốc ghép. Ghép cành trên cây ăn trái là một phương pháp đem cành
hay mầm nhánh cây mẹ có nhiều ưu điểm như phẩm chất tốt, năng suất cao… gắn
sang một gốc cây khác để tạo thành một cá thể mới thống nhất. Ưu điểm của
phương pháp này là lợi dụng đặc tính tốt của gốc ghép chịu đựng được điều kiện
môi trường bất lợi như hạn, úng, sâu bệnh (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,

Ngọn ghép và gốc ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và
mối liên hệ của chúng quyết định. Cành ghép và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp
càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự tiếp hợp càng được cũng cố, sự
trao đổi giữa chất dinh dưỡng vô cơ của gốc ghép và chất dinh dưỡng hữu cơ của
ngọn ghép càng dễ dàng. Vì thế trong khi ghép cần lưu ý làm cho ngọn ghép áp sát
vào gốc ghép để cho phần tượng tầng ngọn ghép tương ứng với phần tượng tầng của
gốc ghép thì kết quả mới được đảm bảo (Nguyễn Duy Minh, 2009). Ngoài ra thao
tác khi ghép phải thực hiện trong thời gian nhất định, nhanh chóng để đảm bảo khả
năng sống tốt của cây ghép (Phạm Văn Côn, 2007).
1.3.3 Ưu điểm và hạn chế của cây ghép
Theo Trần Thế Tục (1998), cây ghép có những ưu điểm: Cây ghép sinh trưởng
phát triển tốt, giữ được đặc tính di truyền của giống, tăng cường khả năng chống
chịu của cây với điều kiện ngoại cảnh bên ngoài như khô hạn, rét, sâu bệnh… Ngoài
ra việc ghép cây còn mang lại nhiều lợi ích khác như: cây sinh trưởng tốt, tăng
cường sức sống cho cây cũng như khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của
môi trường, giúp cây có khả năng kháng lại các tác nhân gây bệnh trong đất, góp
phần tăng năng suất cây trồng trong cùng một điều kiện canh tác.
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên cây ghép vẫn còn có mặt hạn chế:
Việc ghép cây sẽ tốn nhiều thời gian và công lao động hơn, khó áp dụng phổ biến
(Trần Thị Ba và ctv., 1999). Thời gian sinh trưởng của cây ghép chậm so với cây
gieo bằng hạt vì cây ghép cần thời gian phục hồi vết ghép.
1.3.4 Yêu cầu của giống làm gốc ghép
Ghép là lấy cành hay mầm nhánh của cây mẹ có nhiều ưu điểm: phẩm chất tốt,
năng suất cao gắn sang một loại cây khác để tạo thành một cá thể thống nhất
(Nguyễn Bảo Vệ, Lê Thanh Phong, 2012). Theo Trần Thế Tục (1998), giống làm
gốc ghép phải đạt được những điều kiện: sinh trưởng khỏe, có khả năng thích ứng
cao với điều kiện địa phương; phải có độ đồng đều và không có sự phân ly tính
trạng giữa các thế hệ con cái sau này; có khả năng chống chịu với sâu bệnh, điều
kiện ngoại cảnh bất lợi; sinh trưởng nhanh, được trồng phổ biến, dễ gây giống; có
sự tương thích tiếp hợp cao với ngọn ghép để thúc đẩy nhau sinh trưởng tốt.

rau đã phát triển và áp dụng rất phổ biến trên toàn thế giới. Tỉ lệ sống của cây dưa
hấu ghép khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương đương nhau ở
các loại gốc ghép bầu Nhật và bầu địa phương (85-87%). Bầu Nhật và bí Nhật có
đặc tính kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum, dễ đậu trái, làm tăng năng
suất hơn dưa trồng không ghép mà vẫn giữ nguyên chất lượng trái. Tỉ lệ sống của
cây con dưa hấu ghép khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương
đương nhau ở các lọa gốc ghép bầu Nhật và bầu địa phương (85-87%). Bầu Nhật
và bia Nhật có đặc tính kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum, dễ đậu
10


trái, làm tăng năng suất hơn dưa trồng không ghép mà vẫn giữ nguyên chất lượng
trái (Trần Thị Ba, 2010).
Gốc ghép bầu địa phương và bầu Nhật trên dưa hấu làm sinh trưởng và năng
suất cao hơn so với đối chứng không ghép. Năng suất dưa hấu thấp nhất là đối
chứng không ghép (9,28 tấn/ha) so với 3 gốc ghép cho năng suất cao hơn (10,6312,92 tấn/ha) (Hồ Phương Quyên, 2008). Nghiên cứu của Trần Hồng Thơi (2007)
và Lê Văn Mác (2007), cho rằng duă hấu ghép trên các loại gốc bầu đều cho tỉ lệ
héo rũ thấp hơn đối chứng không ghép.
Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thơi (2007) và Lê Văn Mác (2007), cho rằng
dưa hấu ghép trên các loại gốc bầu đều cho tỉ lệ bệnh héo rũ thấp hơn đối chứng
không ghép.
Bên cạnh các loại gốc ghép bầu, bí được sử dụng phổ biến trong canh tác dưa
thì hiện nay gốc ghép bình bát dây cũng bắt đầu được đưa vào nghiên cứu và có
những kết quả rất triển vọng trong việc tuyển chọn thêm gốc ghép nhằm năng cao
hiệu quả canh tác cho nông dân. Nguyễn Thanh Thức (2011), bước đầu khảo sát sự
tương thích của bảy loại bầu bí dưa trên gốc bình bát dây. Kết quả thí nghiệm cho
thấy hầu hết các loại dưa bầu bí đều có khả năng tương thích tốt với gốc bình bát
dây, cây ghép sinh trưởng mạnh cho năng suất cao: Dưa lê 3,13 kg/cây, dưa leo
3,90 kg/cây, khổ qua 3,04 kg/cây, bí đỏ 4,31 kg/cây và bầu hồ lô 5,03 kg/cây.
Một số kết quả nghiên cứu mới đây tại Đại học Cần Thơ cho thấy, gốc ghép


Thời gian thực hiện
Hình 2.1 Tình hình khí hậu tại thành phố Cần Thơ tháng 5-8/2012 (Đài khí tượng thủy văn
thành phố Cần Thơ, 2012)

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm
- Giống khổ qua TN166: Giống F1 do Công ty giống cây trồng Trang Nông
cung cấp có đặc điểm sinh trưởng mạnh, kháng bệnh vàng lá, trồng được quanh
năm. Thích nghi nhiều vùng khí hậu khác nhau. Trái màu xanh bóng, suôn, dài,
không bị nứt trái vào mùa mưa, vận chuyển xa tốt. Thời gian bắt đầu thu hoạch 3638 ngày sau khi gieo.
- Gốc ghép: Giống mướp hương và bầu địa phương.

12


Trích đoạn Số lá trên thân chính Đường kính gốc, ngọn ghép Kích thước trái
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status