Đa dạng sinh học rừng ngập mặn tỉnh sóc trăng - Pdf 30

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÓC TRĂNG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN THỊ MINH KHAI
------------

CHUYÊN ĐỀ

ĐA DẠNG SINH HỌC
RỪNG NGẬP MẶN TỈNH SÓC TRĂNG

Những người thực hiện:
GV tổ Sinh – KTNN
HS lớp 10A4S
HS lớp 11A4S
Sóc Trăng, 2012


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÓC TRĂNG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN THỊ MINH KHAI
------------

CHUYÊN ĐỀ

ĐA DẠNG SINH HỌC
RỪNG NGẬP MẶN TỈNH SÓC TRĂNG

Những người thực hiện:
GV tổ Sinh – KTNN
HS lớp 10A4S
HS lớp 11A4S
Sóc Trăng, 2012


3.4 Vai trò của RNM trong việc bảo vệ vùng ven biển ................................................................ 46
3.4.1 Tác dụng của RNM trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần ................................... 46
3.4.2 Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đê biển Việt Nam ............................................... 47
3.4.3 Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn ... 47
3.4.4 Tác dụng của RNM đối với môi trường sinh thái ........................................................... 47
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................ 49


CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng ngập mặn (RNM) không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh
dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven
biển, đồng thời là nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển. Thêm vào đó, RNM còn có tác dụng
chắn sóng, chống xói mòn bờ biển và giữ lại các chất phù sa nên nâng cao được thềm lục địa
tại thềm lục địa ven biển, nó tạo thành một bờ bao tự nhiên ngăn chặn nước biển dâng do ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu. Sau khi đã tàn phá RNM vì những lợi ích trước mắt, sau đó phải
gánh chịu những cơn thịnh nộ của tự nhiên, thiên tai, bão lũ, xâm nhập mặn, đất rừng bị thoái
hóa,… xảy ra ngày càng nghiêm trọng và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, bài học bảo vệ RNM
đã được con người thấu hiểu và nhân lên ở nhiều địa phương ven biển.
Nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của RNM đối với nền kinh
tế và hệ sinh thái, đặc biệt là vai trò hạn chế gió bão ở những vùng ven biển tỉnh nhà; tạo điều
kiện cho học sinh đi tham quan thực tế, đồng thời thực hiện nhiệm vụ năm học 2011 – 2012,
vào ngày 26/02/2012, tập thể giáo viên tổ Sinh – Kỹ thuật Nông nghiệp trường THPT Chuyên
Nguyễn Thị Minh Khai đã tổ chức chuyến tham quan RNM Sóc Trăng cho các em học sinh
lớp Chuyên Sinh 10 và 11 để thực hiện chuyên đề “Đa dạng sinh học RNM tỉnh Sóc Trăng”.

1


CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC
2.1 CHỌN ĐIỂM THAM QUAN VÀ THU MẪU

4


Hình 2.7. Bãi cát Hồ Bể
Ngoài ra, đoàn còn tham dự buổi báo cáo chuyên đề “Tìm hướng đi mới cho RNM
Sóc Trăng” do anh Lý Hòa Khương – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vĩnh Châu thực hiện.

Hình 2.8. Anh Lý Hòa Khương – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vĩnh Châu báo cáo chuyên
đề tại hội trường Hạt Kiểm lâm Vĩnh Châu.

5


Hình 2.9. Học sinh lắng nghe báo cáo chuyên đề tại hội trường
2.2 THU MẪU
Để thuận lợi trong việc thu thập và xử lí mẫu vật, chúng tôi chia học sinh thành 2
nhóm như sau:
- Nhóm thu mẫu thực vật: Gồm 14 học sinh lớp chuyên Sinh 10, thu và xử lí mẫu
thực vật.

Hình 2.10. Nhóm thu mẫu thực vật

6


Hình 2.11. Mỗi mẫu được thu các bộ phận như rễ, thân, lá, cành, hoa, hoặc cả cây (đối
với cây có kích thước nhỏ) bằng tay hoặc kéo cắt cây được đựng trong túi nilon riêng có nhãn
ghi đầy đủ các thông tin như tên cây, đặc điểm, nơi thu mẫu,….

Hình 2.12. Mẫu sau khi thu


Hình 2.19. Tiếp tục thay formol, rửa sạch mẫu lần nữa và ngâm vào formol 4% ở
phòng thí nghiệm

Hình 2.20. Mỗi loài động vật như tôm, cua, cá,…được đựng trong một keo nhựa riêng
có dán nhãn ghi đầy đủ thông tin như tên khoa học, tên địa phương của loài, nơi thu mẫu,
ngày thu mẫu và người thu mẫu.

11


Hình 2.21. Thân mềm Chân bụng (Ốc) và Hai mảnh vỏ thì lấy hết thịt, rửa sạch, phơi
khô và dán thành bộ sưu tập.

12


CHƯƠNG 3. ĐA DẠNG SINH HỌC RNM SÓC TRĂNG
3.1 ĐẶC ĐIỂM RNM SÓC TRĂNG
Rừng ngập mặn ven biển tỉnh Sóc Trăng được quản lý và bảo vệ bởi Chi cục Kiểm
lâm và chính quyền địa phương. Tính đến năm 2012, tổng diện tích rừng ngập mặn phòng hộ
là 5.300ha trong đó Cù Lao Dung: 1.433ha; Trần Đề và Long Phú: 830ha; Vĩnh Châu:
3.187ha. Do nằm ở cửa sông Hậu nên RNM nơi đây nhận lượng phù sa dồi dào từ thượng
nguồn, mỗi năm lấn ra biển từ 20 đến 50m. Tính chất của nền đáy có nguồn gốc phù sa sông
và biển, vì vậy tính chất cơ giới là bùn sét, bùn cát, cát bùn và cát lẫn nhiều trầm tích hữu cơ
từ đất liền đưa ra theo nước sông và từ biển vào. Độ mặn thay đổi rất lớn, từ khoảng 5‰ tới
29‰ tùy nơi gần hay xa cửa sông. Hệ thống kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều
ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4m đến 1m.
RNM nơi đây có 3 loại cây chính, đó là: bần, đước và mắm. Ngoài ra còn có dừa
nước, cây mắm, giá vẹt, ô rô,… Đước, mắm được trồng nhiều ở vùng ven biển Vĩnh Châu vì


(B)

(A)

(C)

(E)

(D)
Hình 3.2. Cây bần (A) với lá (B), hoa (C), trái (D) và rễ thở (E)

15


3.2.2 Họ Acanthaceae
Cây mắm trắng - Avicennia alba
Cây mắm có giá trị kinh tế không đáng kể, nhưng là loài cây tiên phong lấn biển và có
công rất lớn trong việc hình thành và phát triển của RNM. Sự phát triển tự nhiên của RNM
bắt đầu bằng sự tiến nhập của loài mắm. Chúng có sức sống rất mãnh liệt, từ những bãi bùn
ngâm mình trong nước biển đến những khu đất rẫy cao đều xuất hiện mắm tái sinh. Vai trò
lớn nhất của loài mắm là cố định đất, do bộ rễ được cấu trúc vững chắc ăn sâu xuống đất, nó
có sức chịu đựng được sóng và gió, chịu được nước mặn ngập quanh năm. Mắm tái sinh và
phát triển đến giai đoạn già cỗi thì suy vong, cây đước nhảy vào thay thế. Khoảng tháng 8 - 10
âm lịch là mùa trái mắm chín rụng.
Nhân dân miền Nam thường dùng cây mắm để đuỗi muỗi, vỏ cây mắm chữa hủi, chữa
ghẻ, phong.

(B)


phát sốt nóng hơi rét, nhức đầu, khát nước, tức ngực, khó chịu. Lá có hương thơm, thường
dùng để xông, còn dùng chữa đau mỏi lưng.

17


Hình 3.5. Cây lức trắng
3.2.5 Họ Bìm Bìm - Convolvulaceae
Rau Muống biển - Ipomoea pes-carpae
Thân bò, mọc khắp nơi dọc bờ biển, không leo, phân nhiều cành, thân tím, đặc, có 2
đường rãnh nông ở 2 bên thân; lá hình thận, tròn hay lõm ở đầu, gốc sâu hình tim. Là cây cố
định cát ở biển. Ra hoa quang năm, chủ yếu vào mùa hạ và mùa thu.
Cây dùng làm thuốc chữa cảm mạo, sốt, sốt rét, tê thấp, chân tay đau nhức, mỏi, thông
tiểu tiện, chữa thuỷ thũng, đau bụng.

Hình 3.6. Rau muống biển

18


3.2.6 Họ Sam Biển - Aizoaceae
Cây Sam biển - Sesuvium portulacastrum (L.) L
Còn gọi là cây Hải châu, loài này chỉ mọc ở vùng đất mặn ven biển, lá trông giống lá
hoa mười giờ. Có thể làm thuốc chữa cảm cúm, giải nhiệt, lợi tiểu, chống ung thư gan.

Hình 3.7. Rau sam biển
3.2.7 Họ Đậu - Fabaceae
Cây Cóc kèn - Derris trifoliata
Có thể sống ở vùng nước ngọt, lợ, mặn. Là loại dây leo bền chắc, dùng để trói buộc rất
tốt. Mọc ở tầng thấp xen lẫn với ô rô, dừa nước tạo thành thảm thực vật dày, là nơi trú ẩn của

chung được nên rừng đước thường có sự phân chia lãnh địa riêng rẽ: đước ra đước, mắm ra
mắm,…Đây là điểm khác biệt của rừng đước so với các loại rừng khác.
Gỗ cây đước có thể dùng để làm nhà, đóng đồ mộc, xẻ ván, đặc biệt dùng sản xuất
than hầm có chất lượng rất cao, là nguồn xuất khẩu quan trọng.

Hình 3.9. Cây đước với hoa và trái
()

20


3.2.9 Họ Myrsinaceae
Cây Sú cong - Aegiceras corniculatum (L.) Blanco
Là cây gỗ nhỏ, lá hình trứng ngược, quả hình sừng màu ánh xanh đến hồng. Phân bố
ven biển hoặc cửa sông, phát triển mạnh trên đất bồi đã ổn định.
Hạt của chúng không có thời kì nghỉ mà mà nảy mầm ngay trên cây mẹ, nhận chất
dinh dưỡng từ cây mẹ để phát triển thành cây mầm nằm trong vỏ quả. Khi cây con đủ sức
sống độc lập thì quả chín rụng xuống và cây mầm bắt đầu mọc rễ bám vào đất. Trong bầu có
nhiều noãn song chỉ có một noãn phát triển thành hạt, đây là tính chất chọn lọc thích ứng với
điều kiện khí hậu khắc nghiệt của RNM.

Hình 3.10. Cây sú cong với hoa và trái
3.2.10 Họ Ráy - Araceae
Cây Mái dầm - Cryptocoryne ciliata Wydler
Cây thảo thuỷ sinh có thân ngầm trong bùn. Lá đứng hình giáo thon cao đến 30cm,
nhọn hai đầu, gân phụ xéo, không dày lắm; cuống dài đến 20cm. Ra hoa quả tháng 5-8. Cây
sống ở cửa sông và RNM ven biển, ở các tỉnh phía Nam. Thân rễ có thể sắc uống giải nhiệt,
dùng trị kiết lỵ. Lá dùng ngoài trị rắn cắn.

Hình 3.11. Cây mái dầm

Trích đoạn Các loài Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) và Hai mảnh vỏ (Bivalvia)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status