Xu hướng chọn nghề của học sinh Trung học phổ thông chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà Nam - Pdf 30

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung Ương Đảng
khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát
triển mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
của sự phát triển nhanh và bền vững”. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con
người là trọng tâm của sự phát triển - yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự
nghiệp CNH - HĐH đất nước. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có được
những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu
của các hoạt động kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng mang tính chiến lược. Trong văn kiện Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã chỉ rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp
và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao
động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và
từng địa phương”.
Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong
nhà trường phổ thông giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng.
Như vây, Đảng và Nhà nước đã và đang đặt ra cho nền giáo dục mục
tiêu chiến lược: “ Đào tạo con người phát triển toàn diện về Đức – Trí – Thể Mĩ – Dân – Quân- Lao”. Nền giáo dục Việt Nam đang hướng tới phát triển
con người có nhân cách toàn diện thông qua việc dạy chữ - dạy nghề - dạy
người, qua đó hình thành nên những con người có hàm lượng lao động chất
xám cao, tránh tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” như hiện nay.
Ở các trường Trung học Phổ thông chuyên, việc đào tạo nặng về vấn
đề dạy chữ mà đang coi nhẹ dạy nghề. Đây cũng là mối quan tâm lớn của

1


nhiều người về các vấn đề dạy lí thuyết nhiều hơn thực hành, chưa quan tâm
đến nghề nghiệp của học sinh trường chuyên.
Phải chăng nó xuất phát từ chính “Xu hướng chọn nghề” trong cuộc đời của

5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
Khách thể khảo sát: Học sinh THPT chuyên toán trường THPT chuyên Biên
Hòa, tỉnh Hà Nam.
Do thời gian đề tài tập trung nghiên cứu 45 học sinh chuyên toán khối lớp 12
Trường THPT chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà Nam.
6. Giả thuyết khoa học.
Học sinh khối lớp 12 chuyên toán trường THPT chuyên Biên Hòa tỉnh Hà
Nam đã có xu hướng chọn nghề nhưng chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp tâm lý-giáo dục ngay trong quá trình
hướng nghiệp và tăng cường tư vấn hướng nghiệp thì sẽ tác động tích cực đến
xu hướng chọn nghề của học sinh Trường THPT chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà
Nam.

3


B. NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XU HƯỚNG CHỌN NGHỀ CỦA HỌC
SINH KHỐI 12 CHUYÊN TOÁN TRƯỜNG THPT CHUYÊN
1.1.

Lịch sử nghiên cứu xu hướng chọn nghề của học sinh THPT

chuyên.
1.1.1.Ở nước ngoài
Có thể nói những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có
từ thời cổ đại, tuy nhiên ở dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc
phân chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của
mỗi người trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị
và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi

trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng
bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất
thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện
giáo dục hướng nghiệp chưa mang lại hiệu quả cao.
Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi
nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các
ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là người đầu tiên quan tâm đến công tác
hướng nghiệp cho học sinh. Trong bài viết “Học sinh và lao động” (bài viết
tay năm 1957 hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh). Bác viết “Thi đỗ
tiểu học rồi thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học.
Riêng về mỗi cá nhân của người học sinh thì ý muốn ấy không có gì lạ.
Nhưng chung đối với nhà nước thì ý muốn ấy thành vô lý. Vì ở bất kỳ nước
nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học lại càng ít
hơn trường trung học. Thế thì những học trò tiểu học và trung học không
được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở thành một vấn
đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay. Bác đã gạch chân câu trả
5


lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con đường lao
động là con đường đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vươn lên chứ
không nhất thiết là phải vào trường đại học.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác
hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên,
thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Luật Giáo dục năm 2005 của nước
ta đã khẳng định: “Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp cho học sinh
củng cố và phát triển những kết quả của Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn
để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học huyên nghiệp, học nghề, và đi vào

Vậy Xu hướng chọn nghề là xu thế thiên về một số ngành nghề nào đó
của phần đông học sinh.
1.2.2 Các biểu hiện của xu hướng
Hiện nay xu hướng chọn nghề của học sinh THPT không còn giới hạn
theo một số ngành nghề nhất định như: giáo viên, bác sĩ, công nhân, thợ thủ
công, bán hàng hay các nghề liên quan đến việc kinh doanh... Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế và trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nền kinh tế xã hội
của nước ta đã thay đổi và theo đó cơ cấu nhân lực cũng thay đổi để đáp ứng
sự phát triển các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Điều đó đòi hỏi
người lao động phải có hiểu biết về ngành nghề, yêu cầu của các nghề và các
ngành nghề, kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với đòi hỏi của thị trường lao
động.
Chính vì vậy đã đặt ra nhiều cơ hội và thử thách cho các học sinh
THPT- những người lao động tương lai của đất nước. Xu hướng chọn nghề
của học sinh THPT được biểu hiện trong các cách phân loại của xu hướng
chọn nghề sau:
1.2.2.1 Căn cứ vào đối tượng và tính chất của mối quan hệ lao động
Tác giả E.A.Klimov đã phân thành 5 nhóm nghề chủ yếu:

7


- Người - Thiên nhiên: đối tượng làm việc của nhóm này là các chất hữu cơ,
các quá trình sinh vật…như các nghề trồng trọt, chăn nuôi, bác sĩ thú y, trồng
rừng…
- Người - Kỹ thuật: đối tượng làm việc là hệ thống các thiết bị kỹ thuật, các
nguyên vật liệu, năng lượng…như các nghề lái xe, thợ máy, thợ xây…
- Người - Người: đối tượng làm việc là các nhóm người, con người như các
nghề bán hàng, giáo viên, người quản lý…
- Người - Hệ thống ký hiệu: đối tượng làm việc là các con số, ký hiệu, công

chế tạo máy…. Nhóm nghề này đòi hỏi người lao động phải có kiến thức
vững chắc trong lĩnh vực của mình, tiếp cận nhanh các công nghệ hiện đại của
nhân loại, tư duy tốt, yêu câu việc, ham học hỏi…
- Nghề trong lĩnh vực văn học nghệ thuật: gồm một số nghề như nhà văn,
nhạc sĩ, diễn viên, ca sĩ, nhiếp ảnh, họa sĩ… Nhóm nghề này đỏi hỏi tính sáng
tạo cao, có óc thẩm mỹ, năng khiếu…
- Nhóm nghề nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực
như văn học, sử học, toán học, thiên văn học…. Đây là các nghề đỏi hỏi phải
có tính sáng tạo, hoạt động trí tuệ mạnh mẽ. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi
phải khát khao tiếp cận chân lý, trung thực, khách quan…
- Nhóm nghề tiếp xúc với thiên nhiên như chăn nuôi (gia cầm, thủy sản…)
rồng trọt, khai thác, trồng rừng… Nhóm nghề này đòi hỏi tình yêu thiên
nhiên, hiểu sâu sắc các quá trình sinh trưởng của cây, con giống, có sức khỏe,
chịu

khó.

- Nhóm nghề trong điều kiện lao động đặc biệt như du hành vũ trụ, thám
hiểm. Nhóm nghề này đòi hỏi sự dũng cảm, sức khỏe, thích tìm tòi khám
phá…
1.2.2.4 Căn cứ vào hứng thú của người học với các lĩnh vực nghề
nghiệp A.E.Gôlômstốc đã phân thành các nhóm nghề như sau:
- Nghề hoạt động trong lĩnh vực vật lý

9


- Nghề hoạt động trong lĩnh vực hoá học
- Nghề hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử
- Nghề hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật

cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên… nhưng trường vẫn nỗ lực phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Năm 1963, trong phong trào kết nghĩa Bắc - Nam, trường mang tên
Trường phổ thông cấp III Biên Hoà (Biên Hòa là một địa danh ở miền Nam,
kết nghĩa với tỉnh Hà Nam). Ngày 28/4/1999, Trường PTTH Chuyên Hà Nam
được thành lập trên cơ sở trường PTTH Hà Nam. Từ đây, trường bắt đầu
tuyển chọn những học sinh giỏi nhất ở các môn văn hoá để đào tạo bồi dưỡng
trở thành nhân tài cho quê hương, đất nước. Ngày 13/1/2009, trường lại một
lần nữa được đổi tên thành Trường THPT Chuyên Biên Hoà.
Qua 12 năm tham dự kì thi học sinh giỏi quốc gia (từ năm học 1997 1998 đến năm học 2008 - 2009), các thế hệ học sinh của trường đã giành
được 425 giải (7 giải Nhất, 41 giải Nhì, 153 giải Ba, 224 giải Khuyến khích).
Những năm gần đây trường đều đứng ở tốp đầu trường chuyên các tỉnh, thành
phố trong toàn quốc. Hàng chục học sinh đã tham dự kì thi chọn các đội tuyển
quốc gia đi thi quốc tế...Trong 3 năm học liên tiếp: 2006 - 2007, 2007 - 2008,
2008 - 2009, đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia tỉnh Hà Nam luôn đứng trong
số 10 đội tuyển mạnh toàn quốc.
Năm học 2007-2008:
- Trường đứng thứ 19 trong Top 200 trường THPT có điểm thi đại học cao
nhất năm 2008 của cả nước.
- Có 5 học sinh ở các môn Toán, Hoá vinh dự được Bộ giáo dục và đào tạo
gọi dự thi vào đội tuyển Quốc gia đi thi Quốc tế.
- 42/60 học sinh dự thi đạt giải Thi Học sinh giỏi Quốc gia (2 giải Nhất, 7
giải Nhì, 16 giải Ba và 17 giải Khuyến khích).

11


- Tại kì thi học sinh giỏi khu vực Duyên hải - Đồng bằng Bắc Bộ có 46/60
học sinh của trường dự thi đạt giải, trong đó có 6 học sinh đạt giải nhất,
xếp thứ 2 toàn đoàn.

cấp trên tặng cho cán bộ, giáo viên của nhà trường qua các thời kỳ.
1.4.2 Đặc điểm của học sinh khối 12 trường trung học phổ thông chuyên Biên
Hòa, tỉnh Hà Nam .
Đối với học sinh trung học phổ thông, ở lứa tuổi này – các biểu hiện rối
loạn nhân cách tăng lên rõ rệt.
Các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông khối 12
trường trung học phổ thông chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà Nam có đặc điểm
chung so với các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông nói
chung như sau:
Hình thành biểu tượng “cái tôi” có tính hệ thống
Vị thế xã hội của lứa tuổi trung học phổ thông có nhiều thay đổi so với
lứa tuổi trước đó. Một mặt, các quan hệ xã hội của học sinh trung học phổ
thông (lứa tuổi đầu thanh niên) được mở rộng. Trong các quan hệ đó, người
lớn, kể cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người
“chuẩn bị thành người lớn” và đòi hỏi họ phải có cách ứng xử phù hợp với vị
thế của mình. Mặt khác, khác với học sinh cấp dưới, học sinh trung học phổ
thông (đặc biệt là học sinh cuối lớp 12) đứng trước một thách thức khách
quan của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi
tốt nghiệp trung học phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống độc
lập trong xã hội…Những thay đổi vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của
cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu
biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực trong quan hệ người – người,
hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội…
Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng
có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư
duy. Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng, hoạt động tư duy của thanh
13


niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lí luận phát triển mạnh. Thanh niên

Biểu hiện về cái tôi trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường
chưa thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu
thuẫn. “Tôi” trong biểu tượng vê “ Tôi” rất tuyệt vời, song thanh niên cũng dễ
rơi vào trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp
với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức
năng quan trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân
chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá
về các hiện tượng mà họ quan tâm.
Thông thường, biểu hiện cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc
tính tâm lý của con người như một cá thể được nhận biết sớm hơn các thuộc
tính nhân cách. Ở giai đoạn đầu, thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm
của hình thức thân thể. Họ so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên
ngoài. Một hiện tượng mà chúng ta rất thường gặp ở lứa tuổi học sinh trung
học phổ thông là hay bắt trước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một người
mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi,
hay phong cách, ngôn từ giảng dạy. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, các
đặc điểm phát triển nhân cách như: ý chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích
sống… ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình ảnh “cái tôi” có chiều sâu, có
hệ thống, chính xác và sống động hơn.
Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả
năng lựa chọn con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị
thế cho riêng mình trong cuộc sống chung.
Nảy sinh cảm nhận về “ tính chất người lớn” của bản thân.
Cảm nhận về “tính người lớn” của chính bản thân mình là một trong
những nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu
niên sang lứa tuổi thanh niên. Thực tiễn cho thấy rằng, sự nảy sinh cảm nhận
đó ở lứa tuổi thanh niên là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên
những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số giao
15



A.E Litrco – một chuyên gia tâm thần học nổi tiếng của Liên Bang Nga
về lứa tuổi thanh niên nhận định rằng: lứa tuổi từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng
hoảng đối với tầm thần học. Ở lứa tuổi này, các rối loạn về nhân cách đang
tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn gốc sâu xa
trong các quan hệ giữa người – người.
Trên cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển
các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớn của bản thân
mình ở học sinh trung học phổ thông không phải là một cảm nhận chung
chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mình vào một thế giới nhất
định. Từ nhận thức đó, ở thanh niên nam, nữ dần dần hình thành những nhu
cầu, động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và các kiểu hành vi đặc trưng
cho mỗi gia đình.
Ngoài những đặc điểm chung, học sinh trung học phổ thông khối
lớp 12 chuyên Toán trường trung học phổ thông chuyên Biên Hòa, tỉnh
Hà Nam còn có những đặc điểm riêng. Cụ thể:
Trường trung học phổ thông chuyên Biên Hòa là một trường có bề dầy
về nghiệp vụ sư phạm với một đội ngũ giáo viên chuyên sâu và giỏi. Vì vậy,
học sinh của trường luôn là những học sinh ưu tú và có sự tư duy logic, lí
luận cao…Tuy nhiên, mục tiêu của giáo dục - đào tạo của Đảng ta là "phát
triển nguồn nhân lực" - hướng tới phát triển mục tiêu nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện trên cả ba mặt "dạy chữ - dạy nghề - dạy người" . Trong
khi đó, mục tiêu của trường chuyên lại thiên về việc "dạy chữ"; "dạy người"
hơn là mục tiêu về việc "dạy nghề". Bởi một thực tiễn cho thấy: trong hầu hết
các năm học tỉ lệ đỗ đại học của học sinh chuyên các môn nói chung và riêng
môn Toán nói riêng là 100%, các ngành nghề của các em khi chọn cũng
thường thiên về những ngành nghề mang tính lí luận, nghiên cứu… hơn là các
ngành mang tính kĩ thuật,nghề nghiệp.

17

18


vụ thực tiễn đặt ra, thay vì lựa chọn các ngành nghề đơn giản không cần phải
đào tạo bài bản tại trường lớp.
- Học sinh khối 12 chuyên toán trường THPT chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà Nam
quan tâm nhiều tới xu hướng lựa chọn nghề nghiệp thuộc nhóm nghề nghiên
cứu khoa học ( Nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực như, toán học, thiên
văn học…. Đây là các nghề đỏi hỏi phải có tính sáng tạo, hoạt động trí tuệ).
- Học sinh cũng thường lựa chọn các ngành nghề phù hợp với lĩnh vực
chuyên toán của mình, bởi vậy các ngành thuộc mối quan hệ: Người - Hệ
thống ký hiệu được HS quan tâm hàng đầu (vì đối tượng làm việc là các con
số, ký hiệu, công thức như các nghề: toán tin, bảo mật, lập trình viên…).

19


Chương II
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
Trong " Xu hướng chọn nghề của học sinh khối 12 chuyên Toán,
trường Trung học phổ thông chuyên Biên Hòa, tỉnh Hà Nam". Nội dung chủ
yếu mà Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
+ Lịch sử nghiên cứu xu hướng chọn nghề của học sinh Trung học phổ
thông chuyên.
+ Một số khái niệm cơ bản.
+ Thực trạng về sự nhận thức của học sinh khối 12 chuyên toán trong
xu hướng chọn nghề.
+ Thực trạng về biểu hiện của học sinh khối 12 chuyên toán trong xu
hướng chọn nghề.

ngành kinh tế - quản trị kinh doanh vẫn chiếm tỉ lệ áp đảo so với các khối
ngành khác. Tuy nhiên, một điều thí sinh cần hết sức quan tâm là số thí sinh
đăng ký dự thi vào các trường chuyên đào tạo khối ngành kinh tế tăng thật sự
không đáng kể. Điều này đồng nghĩa với việc một lượng lớn thí sinh theo
đuổi nhóm ngành kinh tế đã không vào các trường chuyên ngành kinh tế bằng
mọi giá. Thay vào đó, họ đã chọn vào khối ngành kinh tế ở rất nhiều trường
đào tạo đa ngành lớn nhỏ khác nhau.
Có một thực tế là các ngành quản trị kinh doanh, kế toán hay tài chính ngân hàng đều nằm trong tốp 5 ngành đang được nhiều trường tuyển sinh
nhất. Trong đó, ngôi quán quân thuộc về ngành quản trị kinh doanh với ít nhất
360 trường tuyển sinh. Kế đến là kế toán với 298 trường.
Không chỉ thí sinh đổ xô vào dự thi mà cả các trường cũng đang ồ ạt
tuyển sinh khối ngành kinh tế. Nhờ vậy, thí sinh có nhiều phương án lựa chọn
cho mình một trường phù hợp.
+ Về nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật:

21


Năm 2009, tổng số hồ sơ đăng ký vào khối ngành này chiếm đến 32%
tổng hồ sơ đăng ký dự thi. Đến năm 2010, khối ngành này tiếp tục giữ được
ưu thế của mình, đặc biệt là những ngành công nghệ.
Bên cạnh đó, dù không còn gây "sốt" như khoảng 10 năm trước, ngành
công nghệ thông tin vẫn được rất nhiều thí sinh chọn lựa. Năm 2009, có hơn
100.000 thí sinh đăng ký dự thi ngành công nghệ thông tin, chiếm 5% tổng hồ
sơ đăng ký dự thi cả nước.
+ Về nhóm ngành xây dựng kĩ thuật
Trong khi đó, nhóm các ngành kỹ thuật dù nhiều trường cho rằng là
ngành khó tuyển nhưng theo thống kê, đây vẫn là nhóm ngành thu hút khoảng
20% thí sinh lựa chọn mỗi năm. Ở các trường có thế mạnh về khối ngành này
như Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), Trường ĐH Bách khoa Đà


Nghiên cứu về cách phân loại nghề
Theo Sách giáo viên "GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP" lớp 9, Phạm Tất

Dong chủ biên, Nhà xuất bản Giáo Dục, năm 2005, phân loại nghề như sau:
a) Phân loại theo đối tượng lao động
Căn cứ vào đối tượng lao động, các nghề phân ra thành 5 kiểu. Đó là:
- Nghề “Người tiếp xúc với thiên nhiên” (trồng trọt, chăn nuôi, thú y,
bảo vệ rừng…).
- Nghề “Người tiếp xúc với kỹ thuật” (các loại thợ nề, thợ tiện, thợ
nguội, lắp ráp máy truyền hình và máy tính, thợ sửa chữa công cụ…).
- Nghề “Người tiếp xúc với người” (nhân viên bán hàng, nhân viên phục
vụ khách sạn, thầy thuốc, thầy giáo, thẩm phán v.v…).
- Nghề “Người tiếp xúc với các dấu hiệu” (thư ký đánh máy, chế bản vi
tính, ghi tốc ký, sắp chữ in, lập trình máy tính…).
- Nghề “Người tiếp xúc với nghệ thuật” (họa sĩ, nhà soạn nhạc, thợ trang
trí, thợ sơn…).
b) Phân loại theo mục đích lao động
Căn cứ mục đích lao động, người ta chia các nghề thành 3 dạng sau đây:

23


- Nghề có mục đích nhận thức đối tượng (thanh tra chuyên môn, điều tra
vụ án, kiểm tra kho hàng, kiểm kê tài sản…).
- Nghề có mục đích biến đổi đối tượng (dạy học, chữa bệnh, sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp…).
- Nghề có mục đích tìm tòi, phát hiện, khám phá những cái mới (nghiên
cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật, tạo giống mới, thiết kế thời
trang…).

hoá nghệ thuật, luật pháp, thư kí các cơ quan, và một số nghề lao động
trí óc khác…
- Lĩnh vực sản xuất: Bao gồm các nghề như: Khai thác, chế biến, luyện
kim, chế tạo máy, gia công kim loại, kỹ thuật điện và điện tử, hóa chất,
sản xuất vật liệu, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, vận tải, thương
nghiệp, cung ứng vật tư, phục vụ ăn uống, bưu chính, phục vụ công
cộng và sinh hoạt, các nghề sản xuất khác…
f) Phân loại nghề theo đào tạo
Theo cách phân loại này, các nghề được chia thành 2 loại:
- Nghề được đào tạo
- Nghề không được đào tạo
Khi trình độ sản xuất và khoa học, công nghệ được nâng cao, dân cư
được phân bố đồng đều trong cả nước thì số nghề cần có sự đào tạo qua các
trường lớp sẽ tăng lên. Ngược lại quốc gia nào có trình độ dân trí thấp, trình
độ sản xuất, khoa học và công nghệ chậm phát triển, dân cư phân tán thì tỉ lệ
nghề không qua đào tạo rất cao.
Nước ta đã có danh mục các nghề được đào tạo, còn các nghề không
được đào tạo rất khó thống kê. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nghề được
truyền trong các dòng họ hoặc gia đình, những nghề này rất đa dạng và trong
nhiều trường hợp được giữ bí mật được gọi là nghề gia truyền. Do vậy, những
nghề này được đào tạo trong gia đình và cũng thường chỉ liên quan đến người
được chọn để nối tiếp nghề của cha ông.
25


Trích đoạn Kết quả tác động nhằm nâng cao ý thức chọn nghề của học sinh khối 12 chuyên toán trường trung học phổ thông chuyên Biên Hòa, Các biện pháp giáo dục nhằm tác động tích cực đến xu hướng chọn nghề của học sinh khối lớp 12 chuyên toán trường THPT chuyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status