Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế
Phần I. Khái quát về hệ thống tiền tệ
Hệ thống tiền tệ là chế độ tổ chức, lưu thông tiền tệ giữa các quốc gia dựa trên những
thỏa ước và quy định ràng buộc giữa các quốc gia, có hiệu lực trong một không gian và
thời gian nhất định.
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và các quan hệ kinh tế đối ngoại của các
quốc gia nói riêng bằng cách này hay cách khác đều được biểu hiện thông qua các quan hệ
tiền tệ. Từ đây đã hình thành nên hệ thống tiền tệ quốc tế, tập hợp các quy tắc, thể lệ và tổ
chức nhằm tác động tới các quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới. Do
mỗi hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời và chỉ vận hành có hiệu quả trong những điều kiện thích
hợp về kinh tế, chính trị và xã hội nhất định nên khi những điều kiện này thay đổi sẽ dẫn
tới sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ quốc tế.
Cho đến nay đã có năm hệ thống tiền tệ quốc tế được sử dụng, bao gồm: chế độ bản vị
vàng, bản vị đồng Bảng Anh, hệ thống Bretton Woods, hệ thống Jamaica, bản vị SDR và
hệ thống tiền tệ Châu Âu.
Phần II: Hệ thống tiền tệ quốc tế
I. Chế độ bản vị vàng
Từ năm 1821 đến 1914, hấu hết các tiền tệ trên thế giới đều được quy đổi sang vàng.
Kinh tế toàn cầu được kết nối thông qua việc sử dụng chung cơ chế quy đổi vàng, tiền.
Nhóm 4 1 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
1.1. Khái niệm
Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định
bằng hàm lượng vàng. Trong quá trình phát triển, chế độ này tiến triển dưới hình thức của
3 chế độ khác nhau: bản vị tiền vàng, bản vị vàng thỏi và bản vị hối đoái vàng.
1.1.1. Chế độ bản vị tiền vàng
Đồng tiền của một nước được bảo đảm bằng một trọng lượng vàng nhất định theo quy
1. 3 . Tại sao lại là vàng?
Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam
kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu. Các chính phủ sử dụng thước
đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng
vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi, v.v..)
Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành
trướng tín dụng và nợ nần. Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm),
đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy. Cản
trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giá tiền tệ. Nó được tin rằng giúp loại bỏ
được sự bất ổn hệ thống tiền tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và
khuyến khích hoạt động cho vay. Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt
để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua
các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế. Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm
1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816.
Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, dễ dàng phân
biệt, thẩm định nhờ màu đặc trưng, độ dẻo, âm thanh khi va chạm, khối lượng riêng lớn;
vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị - nó đã được chọn từ
xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ của cải.
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng. Thay vào đó,
tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do họ phát
hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó. Ở một
số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫn được áp dụng.
1.4. Lịch sử phát triển
Tính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triển nhanh của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều
kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơn vàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa
thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ bằng vàng, do đó, phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu
thông.
những hàng hóa khác. Bởi sự ổn định tỷ giá tiền-vàng, người tiêu dùng ở các nước khác sẽ
mua hàng hóa được định giá thấp nhất và vì thế, vàng sẽ chảy về các nước có nền kinh tế
hiệu quả nhất.
Lúc đó, quốc gia mới nhận luồng vàng đến phải tăng cung tiền tệ và chịu áp lực lạm
phát vừa phải để bù lại việc giảm giá trước đó. Đồng thời, lượng tiền lưu hành ở các nền
kinh tế kém hiệu quả bị giảm đi, vì vậy giá cả ở các nước này giảm xuống cho đến khi sự
cân bằng được khôi phục.
Các ngân hàng trung ương, với mục đích ngăn cản luồng vàng chảy đi, sẽ chống đỡ
Nhóm 4 4 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
bằng cách tăng tỷ lệ lãi suất làm sao để đưa giá cả trở lại mức cân bằng quốc tế nhanh hơn.
Về mặt lý thuyết, chừng nào còn duy trì bản vị vàng thì chừng đó hạn chế được lạm phát
cao hoặc giảm phát ngoài tầm kiểm soát. Có một thời gian, người ta tin rằng các thị trường
luôn luôn vận hành rạch ròi (xem nguyên lý Say). Sự giảm phát sẽ làm thay đổi giá của
vốn trước tiên, có nghĩa là giá của vốn giảm và cho phép tăng trưởng nhanh hơn đồng thời
giá cả về mặt dài hạn vẫn ổn định. Tuy nhiên, in trên thực tế, điều này lại không diễn ra mà
tiền lương (giá của lao động), chứ không phải giá của tư bản, sẽ bị hạ xuống trước tiên.
1.5.2. Mô hình Mundell-Fleming
Theo kinh tế học tân cổ điển, mô hình Mundell-Fleming diễn tả động thái của các đồng
tiền trong chế độ bản vị vàng. Do giá trị tiền tệ được gắn liền với hàm lượng vàng, những
yếu tố tự do còn lại để điều tiết thị trường vốn-tiền tệ là (1) tự do di chuyển luồng vốn và
(2) chính sách tài chính, tiền tệ. Một lý do khiến đa số các nhà kinh tế học vĩ mô hiện nay
không ủng hộ sự trở lại của bản vị vàng là mối quan ngại hai yếu tố trên không đủ để đối
phó với suy thoái hoặc giảm phát lớn.
Mundell lập luận rằng vì trong một nền kinh tế công nghiệp, một lượng lớn tư bản
không linh động, chế độ bản vị vàng quốc tế hoặc thậm chí là chỉ ở một quốc gia có thể
được tái lập. Vẫn theo ông, điều này sẽ cho phép ngân hàng trung ương một phạm vi tự do
đủ để giảm thiểu tác động tiêu cực của chu kỳ kinh tế. Nó sẽ giảm tỷ lệ lãi suất ở pha suy
thoái và tăng trở lại để kiềm chế tăng trưởng nóng. Milton Friedman không thống nhất ở
vàng và nêu ra rằng nước Anh đã đi lên vị trí đế vương, cai trị gần một phần tư dân số thế
giới và xây dựng đế quốc thương mại mà ngày nay là Khối thịnh vượng chung Anh.
Những kẻ ky cóp vàng (goldbug) lấy nó là vật bảo vệ trước sự lạm phát giá cả hàng hóa và
là biểu hiện cội nguồn của tài nguyên. Vì vàng có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền nào, được
chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới, họ xem vàng là vật bảo đảm trước sự phiêu lưu của
các ngân hàng trung ương trong chính sách tiền tệ và vàng là phương tiện chống rủi ro biến
động tiền tệ. Với lập luận này, họ cho rằng cuối cùng thì chế độ vàng sẽ trở lại vì nó là vật
mang giá trị ổn định duy nhất.
Ngày nay, không nhiều nhà kinh tế học ủng hộ việc trở lại bản vị vàng trừ trường phái
kinh tế học Áo và trường phát trọng cung. Tuy vậy nhiều nhà kinh tế lớn đồng tình với
việc lấy kim loại là cơ sở của tiền tệ, đồng thời lập luận chống lại tiền luật định. Lý do mà
có rất ít sự ủng hộ bản vị vàng đó là những hệ quả của sự tự điều chỉnh đó không được coi
là thích đáng ở thế kỷ 20 và 21 .
Vì vậy, bản vị vàng có xu hướng bị bãi bỏ khi các chính phủ nhận thấy việc bỏ qua nó
có lợi ích hơn. Thực chất, bản vị vàng không có nghĩa là các quốc gia không thể chuyển
sang tiền luật định khi có chiến sự hoặc trong các tình trạng khẩn cấp khác. Điều này vẫn
xảy ra mặc dù vàng tăng giá trong các tình huống như vậy vì mọi người thường sử dụng
vàng để tích trữ vì lo sợ rằng tiền luật định thường cho phép lạm chi và do đó thường dẫn
tới lạm phát hoặc sử dụng tem phiếu.
1.6.Ưu điểm – Nhược điểm
1.6.1.Ưu điểm
- Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển và hưng thịnh. Điều này được
chứng minh trong thời kì 1880-1914, với hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn
và kiểm soát ngoại hối và chu chuyển vốn ít khi được áp dụng cộng với việc không có một
sự phá giá hay nâng cao giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã
giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển với trung tâm là London.
- Khuyến khích phân công lao động quốc tế, giúp gia tăng phúc lợi thế giới. Trong
chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro về
Nhóm 4 6 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
L trong LSD (tên viết tắt của các đơn vị trong hệ đếm 12 – librae, solidi, denarii, chuyển
sang tiếng Anh là Pound, silling và pence).
2.2. Lịch sử lâu đời
Đồng bảng Anh là đồng tiền lâu đời nhất còn được sử dụng sau khi một số quốc gia
thuộc khối EU chuyển sang dùng đồng Euro (€). Nó là đồng tiền được lưu trữ trong các
Nhóm 4 7 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
quỹ dự trữ ngoại tệ toàn cầu, mức phổ biến chỉ sau đồng đô la Mỹ và đồng Euro. Đồng
bảng đứng thứ tư về khối lượng giao dịch ngoại tệ toàn cầu sau đồng đô la Mỹ,
đồng Euro và đồng Yên Nhật.
Các đồng bảng Anh được cho là đồng tiền tệ lâu đời nhất vẫn được sử dụng cho đến
ngày hôm nay. Được giới thiệu bởi vua Henry II vào đầu năm 1158, song lúc đó, chúng
chưa được gọi là “đồng bảng Anh” mà dùng “xu Tealby” làm đơn vị tiền tệ.
Đồng Tealby cổ.
Elizabeth I cùng nhóm cố vấn của bà đã đưa ra “đồng bảng Anh” như một đơn vị tiền
tệ vào năm 1560-1561 để chống lạm phát, tuy nhiên, việc này lại phát sinh ra việc làm bạc
giả gây cản trở giá trị của tiền tệ.
Trước đồng bảng Anh, trong thời gian đầu thời kỳ Trung cổ, những đồng xu làm bằng
bạc được sử dụng như một loại tiền tệ. Kể từ đó, đồng bảng vẫn giữ một vị trí ổn định bất
kể các đồng tiền khác của Châu Âu thay đổi ra sao. Qua các khủng hoảng tài chính năm
1621, 1694-96, 1774 và 1797, đồng bảng vẫn vững vàng.
Ngay cả những thời điểm khó khăn (khi Nội chiến nước Anh gây loạn lạc) cũng không
làm đồng bảng mất giá. Có ý kiến cho rằng, nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ,
nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong
suốt thế kỷ 18. Đồng bảng là đồng tiền chính thức của Ngân hàng Anh ngay khi
nó được thành lập năm 1694.
năm 1997,(phiên bản lớn hơn được giới thiệu tháng 10 năm 1969 và bị hủy năm 1998).
Nhóm 4 11 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
Đồng 1 bảng có rất nhiều hình ảnh phản ánh các quốc gia khác nhau của Vương
quốc Anh: biểu tượng sư tử quen thuộc của đội tuyển Anh, biểu tượng của cây thánh giá
Celtic xứ Bắc Ireland. Được phát hành vào ngày 21 tháng 4 năm 1983.
Đồng 2 bảng có thiết kế đại diện cho sự phát triển về công nghiệp ở Anh. Phát hành ngày
15 tháng 6 năm 1998.
2.3.2. Tiền giấy
Do ngân hàng Anh và các ngân hàng ở Scotland, bắc Ireland phát hành. Bao gồm các
mệnh giá : 5 bảng, 10 bảng, 20 bảng và 50 bảng.
Nhóm 4 12 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
Trên tờ 5 bảng có in hình Elizabeth Fry, một nhà hoạt động xã hội đã có công cải thiện
điều kiện sống cho phụ nữ ở các nhà tù Châu Âu. Song tờ 5 bảng này đã không còn là
đồng tiền tệ chính thức vào ngày 21 tháng 11 năm 2003.
Trên tờ 10 bảng có in hình Charles Darwin, nhà khoa học tự nhiên, người đề
xuất Thuyết Tiến hóa. Ngoài ra, nó còn được in hình các hệ động thực vật mà ông đã
từng khám phá.
Tờ 20 bảng có hình Edward Elgar, một nhà soạn nhạc người Anh.
Nhóm 4 13 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
Tờ 50 bảng có hình John Houblon, người sáng lập Ngân hàng Anh và là thống đốc đầu
tiên của ngân hàng Anh.
Có cả tiền giấy mệnh giá 100 bảng, nhưng không lưu thông trên thị trường. Tiền giấy
mệnh giá 1 bảng được dùng ở quần đảo Channels và Scotland.
Bảng Anh vẫn luôn là một trong những đồng tiền có giá trị cao nhất trên thế giới
2.4. Tỷ giá hối đoái
Kể từ đó, đồng pound sterling giữ ổn định giá trị nội tại của nó bất kể các đồng tiền
khác của Châu Âu thay đổi ra sao, qua các khủng hoảng tài chính năm 1621, 1694-96,
1774 và 1797 và thậm chí là sau khi nước Anh chuyển sang bản vị vàng. Ngay cả những
loạn lạc của Nội chiến nước Anh cũng không làm đồng bảng mất giá. Có ý kiến cho rằng
nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ, nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu
việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong suốt thế kỷ 18. Đồng bảng là đồng tiền chính
thức của Ngân hàng Anh ngay khi nó thành lập năm 1694.
2.5.3. Bản vị vàng
Đồng bảng chuyển sang bản vị vàng một cách không chính thức từ bản vị bạc nhờ sự
định giá vàng quá cao ở Anh khiến vàng chảy về nước Anh đối lại cho dòng xuất khẩu bạc
đều đặn. Thực tế này xảy ra dù có việc tái định giá vàng năm 1717 của Ngài Isaac Newton
lúc đó là người đứng đầu Xưởng đúc tiền hoàng gia (Royal Mint). Bản vị vàng được lập lại
sau khi Chiến tranh Napoleon cho đến sau Thế chiến thứ nhất.
Cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Anh là một trong những nền kinh
tế mạnh nhất thế giới, chiếm 40% luồng xuất ngoại đầu tư của toàn cầu. Thế nhưng, sau
Đại chiến thế giới I (1914-1918), các quốc gia ở Châu Âu bị kiệt quệ về kinh tế, nước Anh
cũng nằm trong tình trạng này, nó vay nợ 850 triệu bảng chủ yếu là từ Hoa Kỳ, với lãi suất
lên tới 40% chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên, London vẫn giữ được vị thế mạnh về kinh
tế và tài chính so với các nước trong khu vực nhờ có hệ thống thuộc địa rộng lớn và thị
trường London rất phát triển của mình. Lợi dụng vị thế đó, Anh đã thiết lập hệ thống tiền
tệ quốc tế, lấy chính đồng bảng Anh làm đồng tiền chủ chốt. Tại hội nghị Jenno, được
Nhóm 4 15 Lớp tài chính ngân hàng B_K11
Đề bài: Hệ thống tiền tệ quốc tế Môn: Tài chính quốc tế
nhiều nước ủng hộ và được Hoa Kì hậu thuẫn, hệ thống tiền tệ quốc tế với bảng Anh là
đồng tiền chủ chốt đã ra đời.
Trong một nỗ lực lấy lại sự ổn định tiền tệ, bản vị vàng được khôi phục năm 1925,
trong thời kì này, nhiều quốc gia vẫn muốn quay trở lại chế độ bản vị vàng. Theo đó bảng
Anh quay lại nội dung vàng ở mức trước chiến tranh, nhưng do khối lượng hàng hóa, dịch
vụ lưu thông rất lớn và ngày càng ra tăng, mà khối lượng vàng dự trữ lại có hạn nên các
Ngân hàng không thể đổi giấy bạc Ngân hàng ra vàng cho mọi đối tượng có nhu cầu. Do