ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ HOA
HẢI THƢƠNG VIỆT NAM
DƢỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC (1848 - 1883)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ HOA
HẢI THƢƠNG VIỆT NAM
DƢỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC (1848 - 1883)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. NGND Nguyễn Văn Khánh
Hà Nội - 2015
6. Đóng góp của luận văn............................................................................................ 8
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................. 8
Chƣơng 1: VIỆT NAM ĐẦU TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1883) ............................. 9
1.1. Bối cảnh kinh tế- xã hội Viêṭ Nam.................................................................... 9
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực ............................................................................... 9
1.1.2. Bối cảnh trong nước .......................................................................................... 11
1.2. Khái quát về tiềm năng biển, hoạt động thƣơng mại biển của Việt Nam
trƣớc thế kỷ XIX ........................................................................................................ 21
1.3. Tình hình thƣơng mại trên biển dƣới các triều vua từ Gia Long đến
Thiệu Trị ...................................................................................................................... 25
Chƣơng 2: HẢI THƢƠNG VIỆT NAM DƢỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC: CHÍNH
SÁCH VÀ THỰC TRẠNG (1848 - 1883) ............................................................... 41
2.1. Chính sách hải thƣơng dƣới triều vua Tự Đức
(1848 - 1883) .................... 41
2.1.1 Hạn chế và nghiêm cấm giao lưu buôn bán trên biển
(1848 - 1874)............ 41
2.1.2 Từng bước nới lỏng tiến tới xóa bỏ lệnh cấm buôn bán trên biển (1874 1883).............................................................................................................................. 53
2.2. Thực trạng hải thƣơng dƣới triều vua Tự Đức
(1848 - 1883) .................... 57
2.2.1. Thực trạng hải thương giai đoạn1848 - 1874 ............................................... 57
2.2.2. Thực trạng hải thương giai đoạn1874 - 1883 ............................................... 70
Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH HẢI THƢƠNG VIỆT
NAM DƢỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC (1848 - 1883) ............................................... 82
3.1. Các quan điểm đánh giá về hải thƣơng Việt Nam dƣới triều vua
Tự Đức .................................................................................................... 82
3. 2. Một số nhận xét .................................................................................................. 92
Kết Luận ....................................................................................................................100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................103
Tp
Thành phố
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triể n của lịch sử dân tộc , các hoạt động kinh tế và
giao lƣu kinh tế luôn có vai trò quan trọng, là yếu tố hàng đầu quyết định đến
sự phát triển của một quốc gia. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, từ nhiều thập
kỷ qua, một số học giả trong nƣớc, quốc tế đã chuyên tâm khảo cứu về vấn đề
này, tuy nhiên so với những thành tựu nghiên cƣ́u các liñ h vƣ̣c khác nhƣ quân
sƣ̣, xã hội thì những công trình khảo cứu về hoạt động kinh tế nhất là hoạt
động ngoại thƣơng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ . Là quốc gia nằm ven bờ Thái Bình
Dƣơng, gần với Ấn Độ Dƣơng, lại có chung biên giới đất liền với một số
quốc gia trong khu vực, Viê ̣t Nam có hoa ̣t đô ̣ng thƣơng ma ̣i biể n tƣ̀ sớm và
khá sôi nổi, nhấ t là khoảng thế kỷ XVII, XVIII.
Sang thế kỷ XIX , Viê ̣t Nam nằ m dƣới sƣ̣ điề u hành của nhà Nguyễn triề u đa ̣i cuố i cùng trong lich
̣ sƣ̉ phong kiế n Viê ̣t Nam . Là chính quyền quản
lý một đất nƣớc thống nhất , đô ̣c lâ ̣p, tƣ̣ chủ tƣ̀ năm 1802 đến năm 1884, nhà
Nguyễn gắn liền với một thời kỳ lich
̣ sƣ̉ có nhiều biến cố lớn . Để hiểu rõ vai
trò của vƣơng triều này trong tiến trình lịch sử dân tộc, các mặt kinh tế, xã
hội, văn hóa cần phải đƣợc tiến hành đánh giá khách quan, khoa học.
Dƣới thời Nguyễn đặc biệt dƣới triều vua Tự Đức nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng triề u đình đã thi hành chính sách “bế quan tỏa càn g”, khƣớc từ mọi
quan hệ thông thƣơng với các quốc gia bên ngoài, khiến kinh tế trong nƣớc
ngày càng suy sụp, không đủ tiềm lực chống lại sự xâm lƣợc của đế quốc
phƣơng Tây. Liệu có phải tình hình ngoại thƣơng nói chung và hải thƣơng
Việt Nam nói riêng nửa cuối thế kỷ XIX nhƣ một bức tranh “tối màu” mà hậu
Anh dài 342 trang, đã dành trọn vẹn một chƣơng (chƣơng V) để mô tả về các
hoạt động thƣơng mại nhƣ các trung tâm buôn bán, chính sách thuế khóa. Về
chính sách ngoại thƣơng, tác giả chú ý đến vai trò của Nhà nƣớc trong việc
quản chế thƣơng mại quốc tế và thái độ của Nhà nƣớc đối với các nhà buôn
phƣơng Tây, trong đó nhấn mạnh đến địa vị của thƣơng nhân Hoa Kiều trong
2
nền ngoại thƣơng Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động hải thƣơng cuối thế kỷ XIX
chỉ chiếm một dung lƣợng rất nhỏ trong cuốn sách.
Năm 1996, tác giả Đỗ Bang cho ra đời cuốn sách “Kinh tế thương
nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn”. Đây là cuốn sách nghiên cứu chi tiết, cụ
thể nhất về hoạt động thƣơng mại dƣới triều Nguyễn từ trƣớc đến giờ. Cuốn
sách đã có những nhận định khách quan hơn về chính sách ức thƣơng , bế
quan tỏa cảng của triều Nguyễn và sức sống mãnh liệt của nền kinh tế hàng
hóa trong bối cảnh chính trị không mấy thuận lợi ở nửa đầu thế kỷ XIX . Trên
cơ sở những bảng thống kê chi tiết về số lƣợng hàng hóa nhập, xuất, những
chuyến công cán của triều Nguyễn , tác giả đã phác họa lại bức tranh tƣơng
đối sống động , chân thực về hoạt động thƣơng nghiệp nửa đầu thế kỷ XIX .
Tuy nhiên, hoạt động hải thƣơng dƣới triều vua Tự Đức, lại không đƣợc miêu
tả nhiều.
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, năm 1961, tác giả Chu Thiên có bài
nghiên cứu “Vài nét về công thương nghiệp dưới triều Nguyễn”. Về hoạt động
thƣơng nghiệp, tác giả chỉ dành hơn 1 trang để miêu tả sự “sa sút của nền
thương nghiệp” dƣới triều Nguyễn.
Năm 1993, trong chuyên bài “Nhà Nguyễn trong lịch sử nửa đầu thế kỷ
XIX”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử giới thiệu bài viết “Vài nét về thương nghiệp
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Trƣơng Thị Yến. Tác giả nhấn
mạnh đến chính sách nghiêm cấm của Nhà nƣớc trong việc giao thƣơng với
Hóa, đã đánh giá mô ̣t cách khách quan về “công” và “tô ̣i” của nhà Nguyễn
trong lich
̣ sƣ̉ dân tô ̣c . Trong số 91 bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu
trong nƣớc và quốc tế , có bài viết của
Văn Ta ̣o “ Nhận thức mới về nhà
Nguyễn trong li ̣ch sử dân tộc ”, Lƣơng Chí Minh “ Sự phục hồ i kinh tế và sự
phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước Trung Viê ̣t vào những năm
đầ u nhà Nguyễn (1802 - 1858)”, Phan Thuâ ̣n An “ Từ sự thành lập vương
triề u Nguyễn đế n đảo lộn nhận thức về triề u đại này trong giai đoạn vừa
qua” đã đƣa ra quan điể m khách quan về ngoa ̣i thƣơng dƣới triề u Nguyễn nói
chung và vua Tƣ̣ Đƣ́c nói riêng.
Về nguồn tài liệu nước ngoài: Năm 2004, nhà nghiên cứu ngƣời Pháp
Kham Vorapheth đã cho xuấ t bản cuố n sách
Commerce et colonisation en
Indochine 1860 - 1945 (Nền thương mại và công cuộc thực dân hóa ở Đông
Dương 1860 - 1945). Cuố n sách đã tái hiê ̣n la ̣i hoàn cảnh lich
̣ sƣ̉ và hoa ̣t đô ̣ng
4
thƣơng ma ̣i của 3 nƣớc Đông Dƣơng dƣới chế đô ̣ thuô ̣c điạ của Pháp trong thời
kỳ từ 1860 đến 1945. Tác giả dành khoảng 20 trang (từ trang 7 đến trang 37) để
nói về các mặt chính trị, hoàn cảnh lịch sử, hoạt động buôn bán, giao lƣu buôn
bán của 3 nƣớc Viê ̣t Nam, Lào, Campuchia tƣ̀ năm 1860 đến năm 1883.
Ngoài ra, các cuốn Documents pour servir a l’ histoire de Saigon 1859
của Quốc sử quán triều Nguyễn. Sử chép bằng chữ Hán theo lối biên niên từ
đời vua Gia Long trở về sau. Quốc triều chính biên toát yếu đƣợc Bộ Học vâng
chỉ dụ vua Khải Định thực hiện và dịch ra chữ quốc ngữ, để ấn hành ban cấp
cho các trƣờng học với nhan đề Sử Quốc triều chính biên toát yếu.
Bộ Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ là một công trình đồ sộ, gồm
262 quyển nhỏ do Nội các triều Nguyễn biên soạn theo thể Hội điển cũng là
mô ̣t nguồ n tƣ liê ̣u mà luâ ̣n văn sƣ̉ du ̣ng . Hiện nay các nhà nghiên cứu đã biên
tập bộ sách này thành nhiều tập lớn để tiện theo dõi. Bộ sử ghi tất cả các điều
lệ, hiến chƣơng, điển chế của Nhà nƣớc đề ra và thi hành dƣới thời Nguyễn từ
năm Gia Long thứ 1 (1802) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851). Đây là bộ sách
chứa đựng một khối lƣợng đồ sộ những kiến thức, sử liệu phong phú.
Bên cạnh những bộ chính sử đƣợc biên soạn dƣới triều Nguyễn, tác giả
còn sử dụng các cuố n thông sƣ̉ và giáo triǹ h đƣợc biên soạn trong những giai
đoạn sau nhƣ: Viê ̣t Nam sử lược của Trần Trọng Kim , Lịch sử Việt Nam của
Đào Duy Anh, Lịch sử chế độ phong kiế n Viê ̣t Nam của Phan Huy Lê và một
số tác giả , Lịch sử cận đại Việt Nam tập
1 của Trần Văn Giàu , Đinh Xuân
Lâm, Tiế n Trình Li ̣ch sử Viê ̣t Nam do Nguyễn Quang Ngo ̣c chủ biên.
Nhƣ̃ng công trin
̀ h nghiên cƣ́u của
các tác giả trong nƣớc về kinh tế
công thƣơng nghiê ̣p đặc biệt là thƣơng mại trong lich
̣ sƣ̉ Viê ̣t Nam xuấ t bản
tƣ̀ năm 1954 đến nay đã đƣợc tác giả sử dụng nhƣ những tài liệu tham khảo
cầ n th iế t trong quá trình viế t luận
Economic history of Vietnam during the Nguyen, period 1802 - 1881 (Báo cáo
về viê ̣c nghiên cƣ́u b ƣớc đầu lịch sử kinh tế và xã hội Việt Nam dƣới triều
Nguyễn, giai đoa ̣n 1802 - 1883) của Hantrakool; Les premières anneés de la
Cochinchine - colonie francaise (Những năm đầu tiên tại Nam Kỳ - thuộc địa
Pháp) của Paulin Vial.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài phƣơng pháp lịch sử, logic, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp
thống kê giúp tác giả đƣa ra tƣơng đối đầy đủ những lần vua Tự Đức cử các
phái đoàn ra nƣớc ngoài buôn bán, những lần tàu thuyền nƣớc ngoài đến buôn
bán, các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu…
Phƣơng pháp phân tích tài liệu giúp tác giả đƣa ra nh ững nhận định
của mình làm cơ sở phác thảo về hoạt động hải thƣơng Việt Nam dƣới triều
vua Tự Đức.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những chính sách về hải thƣơng,
các hoạt động trao đổi buôn bán với các nƣớc phƣơng Tây và các nƣớc châu
Á qua đƣờng biển dƣới triều vua Tự Đức.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong khoảng thời gian từ năm 1848
đến năm 1883, tƣ́c là toàn bô ̣ thời gian tồ n ta ̣i của triề u Tƣ̣ Đƣ́c.
7
6. Đóng góp của luận văn
Bằ ng viê ̣c trình bày một cách có hệ thống về hoạt động thƣơng mại
biển Việt Nam dƣới triều vua Tự Đức, luận văn trả lời cho câu hỏi liệu thực sự
vua Tự Đức có thực hiện chính sách ức thƣơng hay không? Dƣới triều vua Tự
Đức hoạt động buôn bán, giao thƣơng trên biển diễn ra nhƣ thế nào?
Tuy nhiên, do nguồ n tài liệu và thời gian nghiên cƣ́u có ha ̣n , luận văn
chƣa thể mở rộng, đi sâu nghiên cứu, so sánh hoạt động hải thƣơng dƣới triều
nghiệp. Đến năm 1850 nƣớc Anh đã có tới 10.000 km đƣờng sắt. Điều đó
thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng trong nƣớc và tăng cƣờng mối liên hệ
kinh tế giữa các trung tâm công nghiệp. [28, 101].
Nƣớc Pháp đứng hàng thứ ba trong nền kinh tế thế giới. Cuộc cách
mạng công nghiệp đang trên đà phát triển. Số lƣợng máy hơi nƣớc tăng lên
nhanh chóng. Sản lƣợng các ngành công nghiệp cũng tiến bộ rõ rệt: Sản lƣợng
than tăng từ 225 nghìn tấn (1832) lên 373 nghìn tấn (1846). Trong nhiều nƣớc
khác ở châu Âu nhân tố tƣ bản chủ nghĩa cũng đã nảy nở. Mặc dù quan hệ
phong kiến còn chiếm địa vị thống trị, nƣớc Đức cũng đã có một số chuyển
biến nhất định tuy chậm hơn Anh, Pháp. Quan hệ tƣ bản chủ nghĩa phát triển
9
mạnh mẽ nhất ở vùng sông Ranh và Vesphaland vì ở đó nhân dân đƣợc giải
phóng một phần khỏi chế độ phong kiến và có nhiều nguyên liệu hơn cả thủ
đô Berlin của Phổ [28, 96].
Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị
trƣờng. Thị trƣờng trong nƣớc không đủ đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh
tế, vì vậy, các nƣớc tƣ bản Âu, Mỹ tăng cƣờng tiến hành chiến tranh xâm lƣợc
giành giật thị trƣờng thuộc địa. Và châu Á, trong đó có Việt Nam trở thành một
trong những mục tiêu hàng đầu của quá trình ấy. Trong bố i cảnh đó , châu Á
đƣ́ng trƣớc nhiề u sƣ̣ lƣ̣a cho ̣n : Thƣ́ nhấ t đầ u hàng thƣ̣c dân phƣơng Tây ; thƣ́
hai, chố ng la ̣i thƣ̣c dân phƣ ơng Tây bằ ng 2 cách: Mô ̣t là , tiế n hành cải cách ,
lƣ̣a cho ̣n mô hình nhƣ phƣơng Tây, phát triển sức mạnh vật chất đủ sƣ́c chố ng
lại phƣơng Tây; hai là, bảo thủ đóng cửa, không giao thƣơng với phƣơng Tây
(con đƣờng tấ t yế u dẫn đế n sƣ̣ thấ t ba ̣i).
Dƣới tác đô ̣ng của chủ nghiã tƣ bản, nhiề u nƣớc trở thành thuô ̣c điạ của
thƣ̣c dân phƣơng Tây (Ấn Độ , Indonesia, Miế n Điê ̣n , Malaysia, Philippin),
mô ̣t số nƣớc trở thành phong kiế n nƣ̉a thuô ̣c điạ (Trung Quố c ), có nƣớc vƣợt
Thành lập năm 1802, nhà Nguyễn đƣợc thừa hƣởng những thành quả to
lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nƣớc,
làm chủ một lãnh thổ rộng lớn trải dài từ dải Nam quan đến mũi Cà Mau . Có
thể nói, Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất về
cƣơng vực, thị trƣờng và tiền tệ, có cơ hội phát triển đất nƣớc giàu mạnh. Tuy
nhiên, xã hội Việt Nam dƣới thời trị vì của các vua Nguyễn lâm vào tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng, thể hiện trên tất cả các mặt từ kinh tế đến tƣ
tƣởng, chính trị - xã hội. Thời vua Tự Đức, mọi mâu thuẫn xã hội đƣợc đẩy
lên đến đỉnh điểm. Tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, đời sống nhân dân cực
khổ, đặc biệt là dân tộc ta đang đứng trƣớc một mối nguy hại lớn từ sự xâm
lƣợc của thực dân Pháp.
11
Về kinh tế: Cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp đã làm đảo lộn toàn bộ
cuộc sống của xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. Sau nhiều năm xây dựng
và củng cố nền thống trị, ổn định xã hội, phát triển kinh tế theo mong muốn
của mình, những vấn đề ruộng đất, đê điều, nông dân luôn đƣợc các vua
Nguyễn đặt lên hàng đầu.
Khi mới lên ngôi, những năm 1802 - 1803, vua Gia Long đã lệnh cho
các quan lại khuyến khích nhân dân và quân sĩ phục hóa ruô ̣ng đấ t , nhƣng đến
năm 1806, nhiều nơi ở Bắc Kỳ nhân dân bị đói, hơn 370 xã ngƣời nông dân
phải bỏ đi phiêu tán, ruộng bỏ hoang lên tới 12.700 mẫu, đến cuối những năm
1830, ruộng đất bỏ hoang đã lên tới 1.314.927 mẫu [41,76] . Đến thời vua Tự
Đức, theo báo cáo của đình thần Trƣơng Quốc Dụng thì năm 1850, vì có sự
kêu ca của nhân dân nên nhà vua “chuẩn y cho các địa phương nếu có ruộng
đất mà chỉ có hư danh trong địa bạ như là: Ruộng bị sông xói, bị cây rừng
mọc tràn lên, nước bị ngập mặn thấm vào, với những ruộng đất bị sỏi đá, cát
bồi, hoang phế, cộng tất cả là 104.016 mẫu” [72, 79].
phải bỏ làng, lang thang kiếm ăn khắp nơi. Hàng vạn mẫu ruộng bị hoang
hóa. Sự phát chẩn, cứu giúp của Nhà nƣớc chỉ đỡ đƣợc phần nhỏ.
Nông nghiệp sa sút và nông dân lƣu tán đã kéo theo sự suy thoái rõ rệt
của các ngành nghề thủ công truyền thống trong nhân dân. Còn công nghiệp
cũng ngày càng lụi tàn vì các quy định ngặt nghèo nhƣ các chế độ công
tƣợng, đánh thuế sản vật nặng. Trên cơ sở một nền kinh tế sa sút về các mặt
nhƣ vậy, tài chính quốc gia ngày càng kiệt quệ. Năm 1847, khi vua Tự Đức
mới lên ngôi, quan đại thần Trƣơng Quốc Dụng đã tâu rằng: “Hiện nay tài lực
của nhân dân thì không bằng 5, 6 phần mười so với trước…” [72, 60]. Nhƣ
vậy, vua Tự Đức lên ngôi đƣợc thừa hƣởng một nền tảng kinh tế đã đến lúc
suy sụp.
Về xã hội: Vấn đề cấp bách nhất trong xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XIX là tình trạng nhân dân lƣu tán phổ biến trong nông thôn. Hiện tƣợng đó
13
đƣợc Trần Văn Giàu nhận xét “là một hiện tượng thường xuyên, phổ biến
khắp ba kỳ và ngày càng trầm trọng. Có thể khẳng định rằng, đó là hiện
tượng tiêu biểu nhất của sự khủng hoảng chế độ phong kiến nhà Nguyễn” [20,
82]. Từ năm 1810, vấn đề dân lƣu tán đã trở nên nghiêm trọng. Lê Văn Duyệt
khi làm sổ hộ tịch ở Nghệ An đã tâu rằng: “Ở xứ Nghệ dân đinh giảm nhiều
quá, năm ngoái có một vạn dân lưu tán, năm nay số ấy lên đến hai vạn” [63,
91]. Thời vua Minh Mạng thì tình hình lƣu tán của nông dân lại càng nguy
ngập hơn thời vua Gia Long. Năm 1826, tỉnh thần tâu rằng Hải Dƣơng có 13
huyện mà nhân dân lƣu tán bỏ đi nơi khác mất hết 108 xã [63, 115]. Thời vua
Tự Đức, tình trạng nông dân lƣu tán trở nên trầm trọng, buộc nhà vua đã phải
ra điều lệ thƣởng phạt về việc chiêu mộ lƣu dân: “Số dân địa phương mà 10
phần bỏ đi lưu tán tới 6 phần thì quan lại địa phương ấy bị phạt; đã lưu tán
rồi mà điền hộ lại được 7/10 trở lên thì quan lại được thưởng” [76, 67].
của triều Nguyễn đã trở thành nguyên nhân của hàng loạt cuộc khởi nghĩa
nông dân suốt từ thời vua Gia Long đến vua Tự Đức. Trong đó có những cuộc
khởi nghĩa lớn kéo dài nhiều năm thu hút hàng nghìn ngƣời tham gia , khiến
mâu thuẫn xã hội ngày càng thêm sâu sắc. Theo ƣớc tiń h, trong thời kỳ 1848 1862, đã có tới 40 cuộc khởi nghĩa và nếu tính đến năm 1883, các cuộc khởi
nghĩa chống triều đình đã lên tới con số 103.
Tình hình chính trị: Ngày 1/9/1858, sau một thời gian dài nhòm ngó
thông qua truyền giáo, thực dân Pháp đổ bộ vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
mở đầu quá trình xâm lƣợc Việt Nam. Ngay từ đầu khi quân Pháp tấn công
vào cửa biển Đà Nẵng đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của triều đình và
nhân dân ta, khiến cho quân Pháp gặp nhiều khó khăn, buộc Pháp phải “án
binh bất động” trong thời gian dài . Nhƣng chiń h thái đô ̣ do dƣ̣ của triề u
Nguyễn đã khiế n ta bỏ lỡ nhiề u cơ hô ̣i tiêu diê ̣t Pháp khi chúng đang gă ̣p khó
khăn: 5 tháng liền quân Pháp bị giam chân tại Đà Nẵng , bị dịch bệnh hoành
hành (200 tên chết trong vòng một tháng ), khả năng đƣợc tiếp ứng từ đất liền
15
hoàn toàn không có . Chính Giơnuiy đã nhận định rằng: “Nếu họ đánh mạnh
thì họ đã đánh bại chúng tôi lâu rồi”. Trong tình trạng khó xử đó , Giơnuiy
quyết định chỉ để lại một lực lƣợng nhỏ ở bán đảo Sơn Trà , còn đại quân tiến
vào Nam Kỳ mà đầu tiên là thành Gia Định . Bị đánh bất ngờ , triề u Nguyễn
nhanh chóng để thƣ̣c dân Pháp chiếm đƣợc thành Gia Định.
Bằ ng áp lƣ̣c quân sƣ̣ , tháng 6/1862, thƣ̣c dân Pháp buô ̣c triề u Nguyễn
phải ký hiệp ƣớc nhƣợng ba tỉnh
miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp
chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa
Cochinchine (Nam kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm
thành phần xã hội đã đem sự học và hiểu biết của bản thân viết các bản điều
trầ n gƣ̉i lên triề u đình thuyế t phu ̣c nhà vua thƣ̣c hiê ̣n cải cách
, tiêu biể u là :
Nguyễn Trƣờng Tộ, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ.
Nhà cải cách Phạm Phú Thứ bị cuốn hút mạnh mẽ bởi sự hoạt động tấp
nập của thƣơng cảng Marseilles ở Pháp, còn Bùi Viện đã bị cuốn hút bởi sự
phát triển của Ma Cao và Hƣơng Cảng. Đây là hai trong số những trung tâm
giao dịch trong tuyến thƣơng mại trên biển quan trọng giữa phƣơng Tây và
phƣơng Đông. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của biển trong vai trò giao
thƣơng quốc tế, Phạm Phú Thứ và Bùi Viện tha thiết kêu gọi triều đình sớm
mở cửa cảng ven biển để tăng cƣờng quan hệ buôn bán với phƣơng Tây. Hai
ông là những ngƣời có công lớn nhất trong việc xây dựng thƣơng cảng Ninh
Hải. Phạm Phú Thứ là ngƣời khai mở ý tƣởng, còn Bùi Viện là ngƣời thực
hiện ý tƣởng đó.
Đặng Huy Trứ từng nói: “Làm ra của cải là một đạo lý lớn, không thể
coi thường” (Sinh tài đại đạo sự phi khinh). Trong cơ cấu xã hội “tứ dân”
truyền thống (sĩ, nông, công, thƣơng) thì thƣơng nhân là tầng lớp có địa vị
thấp nhất trong xã hội. Cũng nhƣ các triều đại phong kiến Việt Nam, triều
Nguyễn chỉ đề cao ngƣời học chữ thánh hiền, mà không chú trọng đến tầng
lớp thƣơng nhân, vì vậy phần lớn ngƣời dân đều muốn theo đƣờng khoa bảng
17
làm quan chứ không muốn phải đi buôn bán khắp nơi. Nhƣ Nguyễn Trƣờng
Tộ đã nhận xét: Thời Tự Đức chẳng những chỉ biết trọng văn, khinh võ, lại
còn khinh cả các nghề chân tay làm ra của cải vật chất. Điều đó khác hẳn với
văn minh phương Tây chú trọng đến công nghệ và kỹ xảo [18, 34] .