MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................ 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 2
5. Đóng góp mới của đề tài...................................................................................... 3
6. Cấu trúc của khóa luận ........................................................................................ 3
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................... 4
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................. 4
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 7
1.1.3. Đặc điểm của từ loại Tiếng Việt .................................................................... 9
1.1.4. Vị trí, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng từ loại cho
học sinh Tiểu học trong phân môn Luyện từ và câu ............................................... 14
1.1.5. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học với việc rèn luyện kĩ năng nhận diện
và sử dụng từ loại .................................................................................................. 15
1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 16
1.2.1. Nội dung chương trình dạy học về từ loại Tiếng Việt ở Tiểu học ................. 16
1.2.2. Nội dung dạy học từ loại trong phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học......... 18
1.2.3. Thực trạng của việc dạy và học từ loại ở trường Tiểu học hiện nay .............. 19
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ
SỬ DỤNG TỪ LOẠI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA PHÂN MÔN LUYỆN
TỪ VÀ CÂU ......................................................................................................... 26
2.1. Tăng cường củng cố kiến thức lý thuyết về nhận diện và sử dụng từ loại ........ 26
2.1.1. Khắc sâu kiến thức lý thuyết về từ loại ........................................................ 26
2.1.2. Tập cho học sinh thói quen nhận biết ý nghĩa của từ loại ............................. 33
2.1.3. Cung cấp một số mẹo giúp học sinh phát hiện nhanh các từ loại dễ lẫn lộn .. 35
2.2. Nâng cao khả năng sử dụng từ loại ................................................................. 38
2.2.1. Sử dụng từ loại vào trong ngữ cảnh, tình huống giao tiếp............................. 38
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong thời
gian thực hiện đề tài khóa luận “Rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng từ loại cho
học sinh Tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu”, em đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong
khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, quý thầy cô trường Đại học Quảng Bình đã
cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt em xin cảm ơn giảng
viên TS. Nguyễn Thị Nga đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn cô giáo chủ nhiệm đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên khi em gặp
khó khăn, cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Đồng Phú
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng, động viên và ủng hộ em trong
suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Với nền kiến thức còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn
chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Như
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
SL
Số lượng
NXB
Nhà xuất bản
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học được xem là cấp học nền tảng đặt
cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặt nền
móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Do đó, nhà trường Tiểu học đã duy trì dạy học toàn diện, việc giúp các em học tốt các
môn học, học có phương pháp là mục tiêu hàng đầu được đặt ra trong mọi tiết học, góp
phần vào việc phát triển kĩ năng, kĩ xảo, năng lực, tư duy và khả năng của các em.
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách cũng
như cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập
và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao. Trong đó, Tiếng Việt là một môn học
quan trọng nhất đối với học sinh, bởi Tiếng Việt là một môn công cụ, là cơ sở để hình
thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậc học sau. Đây là môn học rèn cho
học sinh thao tác tư duy, cung cấp cho các em kiến thức sơ giản, những hiểu biết về xã
hội, tự nhiên, con người, văn hóa,… của Việt Nam và nước ngoài. Vì vậy, người giáo
viên Tiểu học cần có phương pháp để làm sao cho học sinh của mình tiếp thu được
những kiến thức, kĩ năng của môn học đó là: nghe, nói, đọc và viết. Những kĩ năng
này đã được hình thành trong phân môn Luyện từ và câu. Ở phân môn này, học sinh
được học những kiến thức cơ bản về từ, từ loại, câu,… Qua đó giúp học sinh có những
hiểu biết ban đầu của những kiến thức mới. Trong đó, đối với học sinh Tiểu học việc
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng từ
loại cho học sinh Tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của
các biện pháp đã đề xuất.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, cụ thể hóa để
nghiên cứu lý thuyết về các vấn đề liên quan đến từ loại, khả năng nhận diện và sử
dụng từ loại của học sinh Tiểu học; nghiên cứu về chương trình dạy học từ loại trong
phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học và các yếu tố liên quan đến quá trình thực hiện
nó.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra nhằm khảo sát thực trạng dạy
học từ loại ở trường Tiểu học hiện nay, xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài.
+ Phương pháp thực nghiệm khoa học nhằm kiểm tra tính hiệu quả, tính khả thi
của các biện pháp đã đề xuất.
- Phương pháp thống kê toán học
2
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực
trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề rèn luyện kĩ năng
nhận diện và sử dụng từ loại cho học sinh Tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu.
5. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về từ loại, nội dung dạy học về từ loại
Tuy nhiên việc phân chia số lượng từ loại từ thời kì đầu chưa phải đã hoàn
chỉnh như ngày nay mà cũng trải qua những thời kì thăng trầm khác nhau.
Từ thời cổ đại, khi con người bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ, người ta đã nói đến
từ loại. Hai tác giả Platon (427 – 347 TCN) và Prôtagôrát (480 – 410 TCN) đã chia
tiếng Hi Lạp thành hai loại từ là danh từ và động từ. Họ xuất phát từ lời nói để nghiên
cứu, vì thế từ loại mà họ nghiên cứu là những bộ phận của lời nói (gọi là thành phần
câu). Thuật ngữ đó còn sử dụng cho đến ngày nay.
Ưu điểm là họ đã nhận ra được danh từ chỉ sự vật, hiện tượng; động từ chỉ hành
động.
Nhược điểm là nhập từ loại và chức năng là một.
Người cùng thời với hai ông là Aristôt (384 – 323 TCN) cũng đã chia ra động
từ và danh từ. Ngoài ra ông còn đưa thêm hai từ loại nữa là liên từ và quán từ.
Hạn chế của ông cũng giống với Prôtagôrát và Platon là không phân biệt từ loại
và chức năng cú pháp, đã đồng nhất từ loại và thành phần phán đoán.
Ở Ấn Độ (khoảng thế kỉ thứ V TCN) Panini đã nghiên cứu tiếng Sancrit cổ.
Ông chia ra bốn từ loại: danh từ, động từ, giới từ và trợ từ. Công trình của ông miêu tả
một cách đầy đủ và có hệ thống các chức năng ngữ pháp của danh từ. Khác với những
nhà ngữ pháp Hi Lạp, ông đã không lẫn lộn ngữ pháp với nguồn gốc của từ. Ông dựa
vào việc phân tích tỉ mỉ cấu trúc của toàn bộ ngôn ngữ (ví dụ phân tích từ thành căn tố
và phụ tố). Phải nói rằng ngôn ngữ học cận đại sau khi làm quen với ngữ pháp của
người Ấn Độ mới biết đến thao tác phân xuất từ thành căn tố và phụ tố. Việc sắp xếp
hệ hình biến cách của danh từ cũng đã sớm tuân theo một trật tự nghiêm ngặt: chủ
4
cách, tân cách, công cụ cách, sinh cách, vị trí cách. Điều này về sau ngữ pháp châu Âu
cũng phải học tập.
H.A. Gleason – một trong những đại biểu của trường phái Mĩ, viết: “Không thể
nói được rằng ngữ pháp miêu tả điển hình mà người ta soạn thảo ngày nay đã hoàn
thành đầy đủ mọi chức năng mà người ta mong đợi một cách hợp lẽ ở nó. Và các nhà
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả có công trình nghiên
cứu về từ loại như: Hoàng Tuệ, Bùi Minh Toán, Lê Biên, Đinh Văn Đức, Diệp Quang
Ban, Đỗ Thị Kim Liên,...
Trong công trình nghiên cứu về từ loại của Hoàng Tuệ, ông dựa vào tiêu chí
khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp để chia từ loại thành 4 loại: vị từ (danh từ, đại từ,
chỉ từ, số từ); tiểu từ (phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ); loại từ và thán từ.
Bên cạnh đó lại có nhiều tác giả dựa vào đặc điểm ý nghĩa khái quát, khả năng
kết hợp và chức vụ cú pháp để phân chia từ loại nhưng mỗi tác giả lại có cách phân
chia khác nhau. Chẳng hạn, Bùi Minh Toán đã phân chia thành 8 từ loại: danh từ, động
từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ. Lê Biên lại chia ra 9 từ loại:
danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, thán từ. Diệp
Quang Ban cũng phân chia từ loại thành 9 loại nhưng khác với Lê Biên ở chỗ ông thay
thế quan hệ từ bằng kết từ. Đinh Văn Đức lại chia từ loại thành danh từ, động từ, tính
từ, số từ, đại từ, từ phụ, từ nối, tiểu từ, trợ từ.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về việc dạy học từ loại cho học sinh Tiểu học
Dạy học từ loại cho học sinh Tiểu học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của
người giáo viên. Các kiến thức về từ loại sẽ giúp cho các em phân biệt được các từ
loại, cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận dụng trong viết chính tả, làm bài tập Tiếng
Việt… Hơn nữa, việc nắm vững các kiến thức về từ loại sẽ tạo cơ sở cho các em học
tốt môn Ngữ pháp ở bậc học tiếp theo. Nhận thấy tầm quan trọng của việc dạy học từ
loại một số tác giả đã đề cập về vấn đề dạy học từ loại trong công trình nghiên cứu của
mình. Trong khóa luận này tôi chỉ điểm qua những tài liệu trong phạm vi bao quát
được:
- Lê Phương Nga trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Tập 2, NXB Giáo
dục, 2000) đã đưa ra một số dạng bài tập về từ loại cho học sinh Tiểu học và nêu một
số khó khăn mà học sinh thường gặp phải khi xác định từ loại.
- Chu Thị Thủy An trong “Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học” (Dự án phát
triển giáo viên Tiểu học, 2007) đã đề cập đến khái niệm từ loại, nội dung và phương
nghĩa, về hoạt động ngữ pháp của nó (về hình thái học hoặc về cú pháp học, hoặc cả về
hình thái học và cú pháp học) trong việc thực hiện một chức vụ cú pháp nhất định. Với
quan niệm như vậy, có thể khẳng định bất kì hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc nào,
của một cộng đồng người nào (cho dù ngôn ngữ đó ở trình độ phát triển hay còn ở
trạng thái đơn sơ, đã có hệ thống chữ viết riêng hay chưa…) đã có vốn từ vựng, có ngữ
pháp riêng thì đều có từ loại”. [4, tr. 8]
Theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung: “Từ loại là những lớp từ có chung
bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn
tập hợp và quy loại”. [3, tr. 74]
Đỗ Thị Kim Liên đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về từ loại: “Từ loại là lớp
từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia dựa theo ý nghĩa phạm trù, theo khả
7
năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiện những chức vụ ngữ pháp khác nhau.
Từ loại bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, kết từ (quan hệ từ),
tình thái từ, trợ từ”. [8, tr. 44]
Liên quan đến vấn đề dạy từ loại ở Tiểu học, tác giả Chu Thị Thủy An định
nghĩa về từ loại như sau: “Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, tức là đặc
điểm ý nghĩa ngữ pháp khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ (khi cấu tạo
cụm từ và câu), các từ được phân ra thành từng loại, gọi là từ loại”. [2, tr. 105]
1.1.2.2. Nhận diện từ loại
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như Ý, nhận diện tức là “nhìn mặt
để xác định, chỉ rõ ra người còn che dấu tung tích”. [18, tr. 1241]
Hoặc theo “Giải thích từ Hán – Việt” của Lê Anh Tuấn nhận diện là “nhìn mặt
mà nhận ra, chỉ ra đối tượng đang che dấu tên thật hay đối tượng cần tìm”. [14, tr. 174]
Nhận diện từ loại là nhìn để nhận ra, chỉ ra được các từ có chung đặc điểm ngữ
pháp và ý nghĩa khái quát. Như vậy, nhận diện từ loại có nghĩa là chúng ta phải chỉ ra
được từ đó thuộc từ loại gì, phải xác định và tìm ra được từ loại trong các đoạn thơ, bài
thơ, đoạn văn, bài văn,…
Chính nghĩa khái quát trở thành nòng cốt cho ý nghĩa từ loại. Cần chú ý là đối
với thực từ ý nghĩa khái quát chỉ chứa đựng những yếu tố từ vựng qua mối liên hệ với
thực từ, còn đặc trưng khái quát hóa đã đem lại tính chất ngữ pháp cho các từ này. Cho
nên, không đơn thuần chỉ là nét từ vựng của từ, bởi vì nếu dựa vào nghĩa từ vựng thì
không thể nào quy những từ như: đi, có, sống, chết, hi vọng, suy nghĩ, khảo sát, yêu,
có thể,… vào cùng một phạm trù từ loại động từ được. Nghĩa từ vựng cụ thể của từng
từ sẽ làm mờ đi sự đồng nhất của các từ, và nổi rõ lên nét nghĩa loại biệt, đối lập giữa
các từ. Bức tranh phân loại do đó sẽ vô cùng rườm rà, phức tạp mà vẫn thiếu bao quát.
Và đương nhiên, trong đó không tìm thấy bóng dáng các lớp hư từ (lớp từ không có ý
nghĩa từ vựng chân thực), một bộ phận chiếm số lượng từ không nhỏ, lại có vai trò, tác
dụng rất quan trọng đối với từ và ngữ pháp Tiếng Việt.
Loại nghĩa khái quát này là cơ sở cho sự đồng nhất, có thể tập hợp và quy loại
hàng loạt từ (rất khác nhau về nghĩa từ vựng) vào cùng một từ loại, mà nếu chỉ dựa
vào ý nghĩa từ vựng của từ sẽ không bao giờ thực hiện được. Nhờ vậy, chẳng những
chúng ta có thể quy những từ như: đèn, tổ tiên, lịch sử, thời gian, thuyền, ý nghĩ, tâm
trạng,… vào từ loại chỉ sự vật, thực thể (danh từ), mà còn có căn cứ để xác định từ loại
cho các lớp hư từ như: đã, cũng, rất, hãy, chẳng, vẫn,… hoặc như: chính, cả, mà, à, ư,
nhỉ, nhé,… vào những từ loại nhất định.
* Ví dụ:
9
- Các từ: ghế, sách, vở, bút, học sinh, mưa, gió… có ý nghĩa khái quát chỉ sự
vật, chúng thuộc từ loại danh từ.
- Các từ: viết, nói, ăn, học, đi, vỡ, đổ, nghiêng,…cùng có ý nghĩa khái quát chỉ
hoạt động, trạng thái, chúng thuộc từ loại động từ.
- Các từ: xanh, vàng, đẹp, xấu, thông minh,… cùng có ý nghĩa khái quát chỉ
đặc điểm, tính chất, chúng thuộc từ loại tính từ.
đủ đến các dạng thức, các trường hợp có thế xảy ra; xem khả năng kết hợp đó là bắt
buộc hay không bắt buộc; các lớp từ có khác nhau về nhu cầu kết hợp hay không; xem
khả năng kết hợp đó là trực tiếp hay gián tiếp; ở vị trí trước hay sau từ trung tâm; sự
kết hợp đó có dẫn đến sự biến đổi nghĩa, thay đổi chức vụ cú pháp của từ hay không…
* Ví dụ:
Có thể nói được
Không thể nói được
* Khả năng kết hợp trực tiếp
- một học sinh (+)
- một đi (-)
- những cô giáo (+)
- những nhanh nhẹn (-)
- đã (sẽ) xây dựng (+)
- sẽ học sinh (-)
- rất cần cù (+)
- rất học tập (-)
* Vị trí của khả năng kết hợp
- thông minh lắm (+)
- lắm thông minh (-)
phân tích chức vụ ngữ pháp của từ ở trong câu sẽ giúp chúng ta phát hiện được các từ
loại một cách thuận tiện hơn. Trong hoạt động ngôn ngữ, ở cấu trúc câu, trong mỗi
phát ngôn, các từ thường đảm nhiệm những chức vụ ngữ pháp cụ thể
Điều lưu ý là mỗi từ loại (nhất là các từ loại cơ bản) có khả năng đảm nhiệm
những chức vụ ngữ pháp khác nhau ở cấu trúc câu. Nói một cách khác, một chức vụ cú
pháp cụ thể có thể do những từ thuộc các từ loại khác nhau đảm nhiệm như:
(1) Trăng chưa lặn.
(Nam Cao)
(2) Nó giống hệt mẹ nó hai mươi năm trước.
(Nguyễn Thi)
(3) Đảng ta vĩ đại thật.
(Hồ Chủ tịch)
(4) Chồng chị mới hai mươi sáu tuổi.
(Ngô Tất Tố)
(5) Yêu thương cho ta sức mạnh phi thường.
(Chế Lan Viên)
(6) Đẹp nết hơn đẹp người.
(Tục ngữ)
Trong các ví dụ trên, chủ ngữ có thể là danh từ, cụm danh từ (1, 3, 4); là đại từ
(2); là động từ (5) hoặc là cụm tính từ (6); vị ngữ có thể là động từ (1, 2, 5, 6); là cụm
danh từ (4); cụm tính từ (3).
Trong “chùm chức năng” mà mỗi lớp từ loại có thể đảm nhiệm, cần chú ý tới
các chức năng chủ yếu, phổ biến, thường trực ở mỗi từ loại; cần phân biệt chức năng
nguyên cấp (chuyên biệt) với chức năng thứ cấp (lâm thời) ở mỗi từ loại. Khái niệm
chức năng không nên hiểu một cách bó hẹp, chỉ quan hệ với thành phần câu, với các
chức vụ chính của câu, mà có thể chức vụ cú pháp chỉ quan hệ với một từ ở trong một
thành phần của câu (trường hợp phụ ngữ của từ trong câu). Từ loại chỉ xem xét chức
vụ cú pháp nào có tác dụng làm rõ đặc tính ngữ pháp của từ và giúp cho việc phân biệt
phạm trù từ loại này với phạm trù từ loại khác. Cụ thể:
12
bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ.
- Hư từ không thể làm thành tố chính trong cụm từ, trong câu. Chúng chỉ bổ
sung ý nghĩa cho thực từ hoặc biểu thị quan hệ giũa các từ, cụm từ, các câu, có khi nó
biểu thị ý nghĩa tình thái.
Dưới đây là sơ đồ khái quát hệ thống từ loại Tiếng Việt
13
Danh
Động
Tính
Đại
Số
từ
từ
từ
từ
từ
Phụ từ
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen sử dụng từ loại: danh từ, động từ,
tính từ, đại từ, quan hệ từ; có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp.
Như vậy, đối với học sinh Tiểu học, việc rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử
dụng từ loại đóng một vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng. Hiểu được từ loại giúp các
14
em vận dụng xây dựng cấu trúc ngữ pháp để đặt câu và mở rộng vốn từ một cách
chính xác và hiệu quả nhất cũng như nâng cao kĩ năng giao tiếp cho các em.
1.1.5. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học với việc rèn luyện kĩ năng nhận
diện và sử dụng từ loại
* Ngôn ngữ
Ngôn ngữ học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ ngữ và
ngữ pháp.
Về ngôn ngữ viết: các em đã nắm được một số quy tắc cơ bản khi viết.
Tuy nhiên các em còn viết sai ngữ pháp.
Vốn từ của các em ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh,
nhờ tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và
được tiếp thu tri thức qua các môn học.
Vì vậy trong dạy học ở bậc Tiểu học, giáo viên cần chú ý rèn luyện ngôn
ngữ cho học sinh bằng cách cung cấp cho các em quy tắc ngữ pháp cơ bản và rèn
luyện cách phát âm đúng, cách sử dụng từ giúp cho ngôn ngữ của các em phát
triển mạnh, đồng thời phát triển khả năng nhận thức và giao tiếp của học sinh.
* Ghi nhớ
Ở học sinh Tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng và trí nhớ máy móc
phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic. Các em dễ dàng ghi nhớ và giữ gìn chính xác
những sự vật, hiện tượng cụ thể hơn là những lời giải thích dài dòng.
Với đặc điểm trí nhớ của học sinh, nhiệm vụ của giáo viên là xây dựng
tâm thế học tập cho học sinh để ghi nhớ, hướng dẫn các em đâu là điểm
chính, điểm quan trọng của bài học để tránh trường hợp các em ghi nhớ máy móc,
dạng bài tập khác nhau, các dạng bài tập có tính gợi mở.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung chương trình dạy học về từ loại Tiếng Việt ở Tiểu học
1.2.1.1. Hệ thống các bài học về từ loại trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học
Lớp
2
Tuần
Tên bài học
Trang
3
Từ chỉ sự vật. Câu kiểu Ai là gì?
26
4
Từ chỉ sự vật. Mở rộng vốn từ: ngày, tháng, năm
35
5
Tên riêng và cách viết tên riêng. Câu kiểu Ai là gì?
4
5
1
Ôn về từ chỉ sự vật. So sánh
8
7
Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái. So sánh
58
12
Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái. So sánh
98
14
Ôn tập về từ chỉ đặc điểm. Ôn tập câu Ai thế nào?
117
17
Cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài
78
9
Động từ
93
11
Luyện tập về động từ
106
11
Tính từ
110
12
Tính từ ( tiếp theo)
123
9
Ôn tập về từ loại
137
14
Ôn tập về từ loại
142
1.2.1.2. Chương trình dạy học về từ loại trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Chương trình đã xây dựng các kiến thức về từ loại theo nguyên tắc đồng tâm
tức là các kiến thức từ loại được mở rộng và nâng cao dần từ lớp 2 đến lớp 5.
- Dạy học từ loại ở Tiểu học đã bám sát mục tiêu dạy lý thuyết gắn với thực
hành. Cung cấp lý thuyết nhằm cho học sinh thực hành (nghe, nói, đọc, viết) cũng như
thông qua thực hành để học sinh nắm lý thuyết.
- Chương trình đã sắp xếp nội dung dạy học từ loại theo hai quá trình lĩnh hội
và tạo lập ngôn bản. Tức là các kiến thức từ loại đã sắp xếp dựa trên quá trình hình
thành kĩ năng giao tiếp của học sinh chứ không phải sắp xếp một cách cứng nhắc theo
17
trật tự nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học.
- Chương trình dạy các kiến thức về từ loại gắn với dạy câu, gắn với “mở rộng
vốn từ”.
18
* Về động từ
Ở lớp 2, lớp 3 học về từ loại động từ thông qua các bài tập tìm “từ chỉ hoạt
động, trạng thái”; sử dụng câu theo mô hình: Ai làm gì? Ai thế nào?
Lên lớp 4 học động từ thông qua các khái niệm và luyện tập sử dụng động từ.
Để bổ sung ý nghĩa về thời gian cho động từ, ta có thể dùng các từ: đã, đang, sẽ, vừa,
mới. Để bổ sung ý nghĩa về sự sai khiến cho động từ ta có thể dùng các từ: hãy, đừng,
chớ, đi, thôi.
* Về tính từ
Ở lớp 2, lớp 3 tính từ được đưa vào dưới dạng bài tập: tìm từ chỉ đặc điểm, tính
chất qua kiểu câu: Ai (con gì, cái gì) thế nào?
Lên lớp 4 các em được học về khái niệm tính từ và biết cách thể hiện mức độ
của các đặc điểm, tính chất như: tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho; thêm
các từ rất, quá, lắm,... vào trước hoặc sau tính từ; tạo ra phép so sánh.
Trong chương trình Tiểu học, chưa có những dạng bài tập về phân loại tính từ.
* Về đại từ
Tập trung chủ yếu trong chương trình sách lớp 5 và chỉ học về đại từ xưng hô.
* Về quan hệ từ
Tập trung chủ yếu trong chương trình ở lớp 5.
1.2.3. Thực trạng của việc dạy và học từ loại ở trường Tiểu học hiện nay
1.2.3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy từ loại cho học sinh Tiểu học
Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã khảo sát thực tế ở trường Tiểu học Đồng Phú
để thu thập thêm thông tin về thực trạng dạy và học từ loại của giáo viên và học sinh.
Qua điều tra tôi thấy việc dạy từ loại cho học sinh có một số thuận lợi và khó khăn như
sau:
* Thuận lợi:
- Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy học, có sự đầu tư nhiều cho
1.2.3.2. Điều tra khảo sát về việc dạy và học từ loại ở trường Tiểu học
a) Quá trình tổ chức dạy học của giáo viên về từ loại
Tôi tiến hành điều tra 25 giáo viên của trường Tiểu học Đồng Phú, đã thu được
kết quả như sau:
20