skkn nâng cao hiệu quả một số tiết dạy thơ đường luật ở bộ môn ngữ văn lớp 7,8 - Pdf 31

Nâng cao hiệu quả một số tiết dạy thơ đường luật ở bộ môn Ngữ văn lớp 7,8
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO ĐỀ XUẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn lớp 7, lớp 8 một số giáo viên thường
cho rằng dạy và học thơ Đường luật là rất khó – ngay cả khi trước đây đưa vào
chương trình lớp 9 – với lý do: Thơ Đường luật phức tạp về niêm – luật, đặc biệt là
có rất nhiều điển tích, điển cố, yếu tố Hán Việt. Việc đưa một số bài thơ Đường luật
vào chương trình SGK lớp 7, lớp 8 hiện hành phải chăng là quá tải đối với học sinh?
Đây là nỗi băn khoăn, trăn trở của rất nhiều giáo viên khi giảng dạy thơ Đường luật ở
khối lớp này. Thông qua thực tiễn giảng dạy và qua trao đổi với một số đồng nghiệp
có kinh nghiệm trong trường chúng tôi nhận thấy rằng ý kiến trên đây là chưa thỏa
đáng. Tất nhiên, khi mới tiếp xúc và tìm hiểu thơ Đường luật, học sinh cũng không
khỏi bỡ ngỡ, lúng túng nhưng nếu được sự dẫn dắt, gợi ý của giáo viên một cách có
nghệ thuật thì học sinh sẽ rất hào hứng tham gia “cuộc đột phá” để bước đầu cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của thơ Đường luật. Vì qua thơ Đường luật, học sinh sẽ
rút ra rất nhiều điều bổ ích, từ việc làm giàu vốn từ ngữ Hán Việt cho đến việc nắm
bắt nội dung – một nội dung chứa đựng nhân sinh quan đầy thẩm mỹ của các thi sĩ
thuở trước. Hơn nữa, nguyên tắc tích hợp và tích hợp hóa hoạt động của các học sinh
được thực hiện rất cụ thể trong chương trình học hiện nay (phân môn văn - Tiếng
Việt –Tập làm văn được gọi theo một cái tên rất thích hợp là NGỮ VĂN) mà thơ
Đường luật có thể xem là một chất liệu không chỉ để khắc họa kiến thức mà còn là
để luyện tập. Đây là một thuận lợi để học sinh từ việc hiểu ý nghĩa của từ, biết dùng
từ Hán Việt khi lập văn bản cũng như sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày.
Khi dạy thơ Đường luật, giáo viên cần cho học sinh thấy được rằng thơ văn cổ
là một bộ phận rất quan trọng, chiếm một vị trí đặc biệt trong nền thơ ca Việt Nam –
mặc dù là thể thơ bắt nguồn từ thơ ca Trung Quốc. Do đó, việc phân tích thơ Đường
luật quả là phức tạp, cần có sự đối chiếu nguyên bản chữ Hán, với bản dịch nghĩa,


dịch thơ, để hiểu một cách tường tận ý nghĩa bài thơ và đánh giá tác phẩm một cách
đúng đắn. Muốn dạy thơ Đường luật ở lớp 7, lớp 8 có hiệu quả, chúng ta nên dạy như

cần được bàn bạc, để đi đến một sự thống nhất chung trong giảng dạy thơ Đường luật
ở lớp 7 (dung lượng truyền thụ sao cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh,
phù hợp với thời gian theo phân phối chương trình, phù hợp với phương pháp tích
cực hóa hiện nay…) Đây chính là vấn đề nổi cộm được nhiều giáo viên, nhiều trường
quan tâm và đề cập đến khi thực hiện chương trình dạy Ngữ văn 7.
- Chất lượng học tập môn Ngữ văn nhìn chung chưa cao, đặc biệt đối với
những tác phẩm văn chương cổ cụ thể là thơ Đường luật vì khi tiếp xúc với những tác
phẩm này, học sinh THCS quá bỡ ngỡ với cách cảm, cách nghĩ của người xưa, nhất là
cách diễn đạt ngôn ngữ cổ, bằng những từ Hán Việt mà ngày nay ít được dùng và phổ
biến trong thời đại “chữ quốc ngữ làm bá chủ” thay cho thời nho học thuở xưa.
- Thời gian quy định còn quá eo hẹp cho một số tác phẩm, vì phải dạy như thế
nào để đảm bảo việc phân bố chương trình hiện nay? Phù hợp với nguyên tắc tích
hợp trong quá trình dạy Ngữ văn? Đây chính là mục đích tôi thực hiện sáng kiến kinh
nghiệm này.
III. CƠ SỞ VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở nghiên cứu:
- Những bài thơ Đường luật tuy chiếm một thời lượng không lớn trong chương trình
ngữ văn trung học cơ sở nhưng do đặc điểm riêng biệt của thể loại, thơ Đường luật
thực sự là đối tượng thách thức khả năng chiếm lĩnh của người dạy văn và người học
văn. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trong giảng dạy theo cảm nhận của cá nhân
tôi thì thực sự giáo viên rất sợ khi thao giảng về thơ Đường luật bởi vì bản thân có
những giáo viên chưa cảm nhận hết được cái hay của những bài thơ Đường luật, nắm
bắt luật thơ còn mơ màng cho nên gặp phải khó khăn khi dạy trên lớp. Đối với giáo
viên còn hạn chế thì việc yêu cầu học sinh tiếp thu và lĩnh hội những nét tinh hoa của
thơ Đường luật như theo mục tiêu bài học quả là một vấn đề còn khó khăn đối với


học sinh lớp 7. Đây cũng là một vấn đề hết sức trăn trở đối với mỗi giáo viên khi
đứng lớp.
- Như vậy cơ sở nghiên cứu: Nghiên cứu qua việc dạy và học ở trường THCS Lê Lợi

Hướng dẫn HS phát hiện, phân tích cái hay của nhãn tự trong bài thơ. Phân tích nghệ
thuật (so sánh, tượng trưng, ,… và các biện pháp nghệ thuật khác nếu có). Liên hệ so
sánh (nếu cần). Qua các hoạt động suy luận , phân tích, phát hiện, thảo luận, nhận
định, GV giúp HS tổng hợp, khái quát bài thơ. Giáo viên giúp học sinh bình luận
đánh giá bài thơ về cách miêu tả cảnh, cách nghĩ, cách diễn tả tình cảm, cảm xúc của
tác giả.
b/ Tồn tại:
Thông qua dự giờ đồng nghiệp và thực tế giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy
có một số vấn đề tồn tại trong quá trình giảng dạy những bài thơ Đường luật như sau:
- Giáo viên chưa chú ý tích hợp với phân môn Tiếng Việt dù có rất nhiều khả năng
để tích hợp bồi dưỡng vốn từ Hán Việt cho học sinh, trong khi đó vốn từ Hán Việt
của học sinh còn rất nhiều hạn chế.
- Nội dung bài giảng còn hời hợt chưa có chiều sâu chủ yếu giáo viên còn mang tính
chất diễn xuôi nội dung của bài thơ.


- GV chưa khai thác hết được ý nghĩa của bài thơ, cho nên có những bài giảng trên
lớp thừa thời gian theo quy định chỉ có ba mươi phút đã hết nội dung bài thơ không
biết khai thác cái gì. Tiết học trở nên nhạt nhẽo đơn điệu thời gian thì thừa mà nội
dung khai thác kiến thức thì chưa hết. Học sinh cảm nhận nội dung văn bản rất mơ
màng một cách bị động.
- Một thực tế xảy ra là đa số giáo viên chưa chú ý vào phần giải thích ý nghĩa của các
từ Hán Việt chỉ chú ý hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu nghĩa của các từ trong phần
dịch thơ. Chính vì thế mà học sinh không thuộc được bài thơ phiên âm chữ Hán cho
nên nắm nội dung của bài học rất lơ mơ, không có kỹ năng phân tích thơ Đường luật ,
không biết so sánh đối chiếu giữa phần nguyên tác với bản dịch thơ, không nắm được
nghệ thuật cơ bản ( nghệ thuật đối qua các cặp câu thực, cặp câu luận , chưa chú ý
phân tích được các từ quan trọng làm nổi bật lên cái thần của bài thơ, học sinh không
nắm được luật trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho nên ảnh hưởng đến phần
văn thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật mà học sinh sẽ tiếp tục học

Khá
05
04

Trung
bình
06
07
07

Điểm dưới trung bình
Cộng

Yếu Kém Cộng

6 =26,1% 10
13=48,1% 9
11=32,5% 10

7
5
07

17=73,9%
14=51,9%
17=60,7%

Đối với khối 8 cùng một nội dung và hình thức khảo sát như đối với khối 7 nhưng ở
thời điểm vào đầu năm học 2008 -2009 ( vì các em đã được học toàn bộ thơ Đường
luật ở lớp 7) thì kết quả cụ thể như sau:


09 =30% 15
7=30,4% 9
13=43,3% 10

6
7
07

21= 70%
16=69,6%
17=56,7%

Qua kết quả khảo sát cho thấy dù khảo sát ở thời điểm nào (rất thuận lợi đối với HS
lớp7 kiến thức vừa học, hay khó khăn đối với HS lớp 8 vì đã qua thời gian hè kiến
thức đã bị lãng quên) nhưng một thực tế cho thấy kết quả học tập rất thấp , ít em cảm
nhận được cái hay của thơ Đường luật . Sự cảm nhận văn bản thơ Đường luật của học
sinh rất nông cạn đa số học sinh chỉ nêu được đề tài nói đến trong bài thơ và một khía
cạnh nội dung rất nhỏ, còn nghệ thuật và đặc điểm cơ bản thơ Đường luật như nghệ
thuật đối, bố cục, cách gieo vần ngắt nhịp, dấu hiệu nhận biết thể thơ, và cách khai
thác hình ảnh từ ngữ trong thơ Đường luật hầu như các em còn rất bỡ ngỡ. Nhiều học
sinh vốn từ rất hạn chế, dùng từ mà không hiểu nghĩa nhất là nghĩa của các từ Hán
Việt. Phải chăng ngoài cái khó của bản thân thơ Đường luật thì kết quả của học sinh


cũng phản ánh một phần cách dạy của giáo viên còn hời hợt nông cạn chưa hướng
dẫn các em tìm hiểu văn bản một cách cặn kẽ. Chính vì thế bản thân tôi là giáo viên
luôn trăn trở trước kết quả giảng dạy thơ Đường luật cho nên từ hạn chế của học sinh
cũng như của giáo viên khi dạy và học về thơ Đường luật tôi xin mạnh dạn đưa ra
một số ý kiến của mình về vấn đề khai thác thơ Đường luật như thế nào cho hiệu quả.

cao hiệu quả tiết dạy. Từ đây, có khi giáo viên phải xử lí một số tình huống bất ngờ
xảy ra trong giờ học.
- Một số gia đình có hoàn cảnh tương đối khó khăn, đặc biệt là HSDTTS, phụ huynh
chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao chất lượng dạy và học.
- Ngoài những kiến thức SGK, một số HS rất hạn chế trong việc tìm tòi, mở rộng
vốn hiểu biết văn học qua những phương tiện thông tin khác.
- Trong những năm 2008 trở về trước đồ dùng dự án cung cấp còn thiếu thốn rất
nhiều đặc biệt với bộ môn văn : Hầu như tranh ảnh minh họa không đủ phục vụ cho
giảng dạy, không có máy chiếu để ứng dụng công nghệ thông tin. Giáo viên phải tự
bỏ kinh phí để vẽ tranh minh họa.
* Đối với bộ môn:
- Thơ Đường luật là một nội dung kiến thức rất khó nhất là về đặc điểm nghệ thuật
có niêm luật chặt chẽ, gò bó, sử dụng nhiều biện pháp tu từ, một số bài ngôn ngữ bác
học, trang trọng, cổ xưa, lại mới đưa vào chương trình NV7 điều đó gây không ít khó
khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
- Một số bài thơ Đường luật viết bằng chữ Hán nhưng vốn hiểu biết về từ Hán Việt
của các em còn hạn chế, lại ít sách tham khảo. Bên cạnh đó, học sinh chưa có thói
quen tự giác trong việc tìm, giải nghĩa các yếu tố Hán Việt để hỗ trợ cho việc học thơ
Đường luật.
3. Những vấn đề cần lưu ý khi giảng dạy thơ Đường luật
3.1 Để có thể giảng dạy tốt thơ Đường luật thì bản thân mỗi giáo viên phải hiểu được
nguồn gốc của thơ Đường luật và đặc điểm nghệ thuật của thơ Đường luật:
a/ Nguồn gốc của thơ Đường luật:


Ở Trung Quốc, trước đời Đường (618 – 907 ) thơ chỉ cần có vần là được. Từ đời
Đường trở đi, người ta bày ra niêm, luật, đối chặt chẽ cho thơ. Đó là thơ Đường luật
cũng còn gọi là “cận thể” để phân biệt với thơ không cần luật trước đó là thơ “cổ
phong”. . Đặc trưng cơ bản của thơ “cổ phong” là không có sự hạn định chặt chẽ về

một bài thơ phá bằng, nếu trắc là phá trắc.
Trong câu thơ thì các tiếng “ Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là ở
mỗi câu, các tiếng đứng ở vị trí thứ nhất, thứ ba và thứ năm thì có thể bằng hoặc trắc,
còn các tiếng nằm ở vị trí thứ hai, thứ tư, thứ sáu thì phải tuân thủ nghiêm ngặt như
sau: Trong một câu thơ thất ngôn, nếu chữ thứ tư là một tiếng bằng thì những chữ hai
và sáu phải là trắc và ngược lại:
2

4

6

B

T

B

làm khác đi là thất luật.
- Về niêm: “ Niêm” có nghĩa là dính với nhau. Nếu luật là quy định bằng trắc theo
chiều ngang, thì niêm là quy định bằng trắc theo chiều dọc để gắn liền các cặp câu lại
và tránh đơn điệu. Do có luật “ Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nên
người ta chỉ quy định tiếng thứ hai ở câu 1 phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 8,
tiếng thứ hai ở câu hai phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 3, tiếng thứ hai ở câu 4
phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 5, tiếng thứ hai ở câu 6 phải cùng thanh với
tiếng thứ hai ở câu 7.
Tóm lại, niêm là tiếng thứ hai của các câu sau đây phải cùng thanh:
1 – 8; 2 – 3; 4 – 5;

6 – 7 -> nếu làm sai quy định này gọi là thất niêm.

có một số bài hoàn cảnh ra đời có ảnh hưởng rất lớn đến ý nghĩa của bài thơ. Nếu
giáo viên không hướng dẫn học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là một
điều rất đáng tiếc chưa đủ toát lên được tinh thần ý nghĩa của bài thơ.
Ví dụ khi dạy bài “ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” ( Phan Bội Châu ) và bài
“ Đập đá ở Côn Lôn” ( Phan Châu Trinh ) ( Ngữ văn 8/ tập I ) để giúp học sinh
cảm nhận được vẻ đẹp của những chí sỹ yêu nước đầu thế kỷ XX, những người mang
chí lớn cứu nước, cứu dân dù họ có ở bất cứ hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được phong
thái ung dung, khí phách hiên ngang, bất khuất và niềm tin không dời đổi vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Chính vì thế mà việc cho học sinh xác định hoàn cảnh ra
đời của bài thơ là điều cần thiết.


GV có thể hỏi: Bài thơ “ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” ra đời trong một hoàn
cảnh đặc biệt nào ? Với hoàn cảnh ra đời đó của bài thơ góp phần thể hiện rõ phẩm
chất gì của tác giả?
HS có thể trả lời một cách ngắn gọn theo chú thích SGK như sau: Bài thơ được ra đời
khi tác giả đang ở trong nhà tù. Lúc này giáo viên có thể bổ sung kỹ hơn về hoàn
cảnh ra đời của bài thơ để học sinh thấu hiểu thấm thía hơn sự gian khổ của những
nhà chí sỹ yêu nước nhưng họ vẫn không sờn lòng đổi chí một lòng trung thành với
cách mạng . Từ đó lồng ghép giáo dục học sinh ý chí nghị lực vượt lên hoàn cảnh
khắc phục khó khăn trong cuộc sống: Cụ thể hoàn cảnh ra đời của bài thơ “ Vào nhà
ngục Quảng Đông cảm tác” – Phan Bội Châu đã từng bị kết án tử hình vắng mặt từ
năm 1912, cho nên khi bị bọn quân phiệt Quảng Đông bắt giam và biết chúng có ý
định trao trả cho Pháp, ông nghĩ rằng mình khó có thể thoát chết. Bởi thế ngay từ
những ngày đầu vào ngục ( đầu năm 1914 ) Phan Bội Châu đã viết tác phẩm “Ngục
trung thư” nhằm để lại một bức thư tuyệt mệnh tâm huyết cho đồng bào, đồng chí.
Bài thơ “ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” là một bài thơ nôm nằm trong tác
phẩm “ Ngục trung thư”, ông viết tác phẩm này là để tự an ủi mình và cũng là để
động viên khích lệ ý chí cách mạng của đồng chí mình. Có người kể lại “khi làm
xong ông đã ngâm nga lớn tiếng rồi cả cười, vang động cả bốn vách, hầu như không

Bắc Hà vẫn còn có phần xa lạ ! Như vậy nỗi buồn thầm lặng của tác giả là nỗi buồn
trước cảnh non sông biến đổi, triều đại hưng phế. Nhưng điều làm bà không hề hổ
thẹn là bà vẫn nặng lòng thương tiếc cựu triều xưa.
Qua các ví dụ trên cho ta thấy rõ khi phân tích thơ Đường luật cần tạo tâm thế cho
học sinh khi tiếp nhận nội dung của bài thơ thì việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời và hoàn
cảnh lịch sử là điều hết sức cần thiết mà nội dung này rất nhiều giáo viên khi dạy đã
bỏ qua vì nghĩ rằng hoàn cảnh ra đời của bài thơ không quan trọng. Cho nên khi phân
tích bài thơ học sinh cảm nhận sẽ rất hời hợt nông cạn.
b/ Khi phân tích thơ Đường luật, giáo viên vận dụng tính tích hợp
Tại sao lại phải vận dụng phương pháp tích hợp khi dạy thơ Đường luật ? Nếu tích
hợp thì tích hợp ở chỗ nào và tích hợp như thế nào cho hiệu quả ?
Như chúng ta đã biết đa số các bài thơ Đường luật là làm bằng chữ Hán chính vì vậy
mà khi tiếp cận văn bản học sinh rất là bỡ ngỡ và dường như không hiểu nên không
có hứng thú khi học thơ Đường luật mà ngược lại rất sợ học những bài thơ này đặc


biệt là đối với học sinh dân tộc. Một lý do rất dễ hiểu đó là vốn từ vựng Hán Việt của
học sinh rất nghèo nàn. Bên cạnh đó một thực tế đã từng xảy ra có một số giáo viên
khi dạy những bài thơ Đường luật chỉ lo chăm chú khai thác nội dung phần dịch thơ
mà không cho học sinh giải nghĩa các yếu tố Hán Việt ( có nghĩa là giáo viên đã bỏ
qua khâu tìm hiểu chú thích giải nghĩa các yếu tố Hán Việt đã có trong SGK ) vì nghĩ
rằng phần chú thích không quan trọng miễn làm sao cho học sinh hiểu được phần
dịch thơ. Đây là một sai lầm lớn khi dạy các bài thơ Đường luật bằng chữ Hán. Vì
nếu học sinh không giải nghĩa được các yếu tố Hán Việt có trong các câu thơ của bài
thì việc nắm bắt nội dung của bài thơ chỉ là học vẹt theo sự áp đặt của giáo viên mà
thôi. Mà như thế thì học sinh sẽ rất nhanh quên và không có kỹ năng nào để phân tích
một bài thơ Đường luật. Cho nên theo suy nghĩ của bản thân tôi nhận thấy khi ta dạy
một bài thơ Đường luật viết bằng chữ Hán thì việc cho học sinh tìm hiểu chú thích
phần giải nghĩa của các yếu tố Hán Việt là điều cần thiết nên làm vừa có tác dụng
giúp học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức, nắm chắc và có chiều sâu kiến thức nhưng

7/ tập I ) ta vừa tích hợp kiến thức về đại từ “ta” được sử dụng ở cuối mỗi bài thơ.
Vừa tổng hợp nâng cao kiến thức về việc vận dụng sáng tạo từ tiếng Việt ở bài “ Bạn
đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến. Cụ thể khi dạy bài thơ “ Bạn đến chơi nhà” Giáo
viên có thể hỏi :
? Theo em, trong lời thơ cuối: “Bác đến chơi đây, ta với ta” chi tiết ngôn từ nào đáng
chú ý?
? Trong hoàn cảnh gặp gỡ bạn bè ở đây “ ta với ta” có ý nghĩa gì?
? Theo em, có gì khác nhau trong cụm từ “ta với ta” ở bài thơ này so với bài “ Qua
đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan các em đã học?
- Trong bài “ Bạn đến chơi nhà” đại từ “ta” chỉ sự hòa hợp của hai con người
trong một tình bạn chan hòa vui vẻ.
- Trong bài “ Qua đèo Ngang” là chỉ sự lặng lẽ cô đơn tuyệt đỉnh không người
chia sẻ.
Tóm lại dạy văn rất cần thiết tích hợp giữa văn bản với tiếng Việt đặc biệt dạy thơ
Đường luật thì điều đó lại càng cần thiết vì muốn học sinh hiểu được ý nghĩa của văn


bản thì học sinh phải nắm vững được nghĩa của từ. Mà khi nắm được nghĩa của từ thì
học sinh sẽ hoàn toàn chủ động khai thác kiến thức.
c/ Khi phân tích tác phẩm thơ Đường luật, được làm bằng chữ Hán thì một công
việc hết sức quan trọng không thể bỏ qua đó là giáo viên giúp học sinh so sánh đối
chiếu nguyên tác với bản dịch nghĩa, bản dịch thơ để có điều kiện hiểu rõ, hiểu
chính xác nội dung, dụng ý của tác giả. Thực tế trong quá trình giảng dạy có rất nhiều
giáo viên không chú ý đến khâu này, ở trên lớp chỉ bám vào phần dịch thơ để hướng
dẫn học sinh khai thác mà quên đi bản nguyên âm. Cho nên việc khai thác nội dung
nghệ thuật của văn bản rất hời hợt. Qua thực tế giảng dạy một số năm trước tôi thấy
không phải bài thơ Đường luật nào bằng chữ Hán cũng có phần dịch thơ sát nghĩa với
phần phiên âm, lột tả hết được ý nghĩa của phần phiên âm. Ví dụ như những trường
hợp cụ thể sau: Văn bản “ Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh ( Ngữ văn 8- tập II ). Ở
phần phiên âm câu thơ thứ hai trong bài thơ:

đồng thời cũng chưa đủ sức khái quát đây là một cuộc vượt ngục về tinh thần của Hồ
Chí Minh nếu giáo viên chỉ cho học sinh khai thác ở phần dịch thơ.
Tương tự ở bài thơ “ Đi đường” của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 8- tập II ), trong bản dịch
thơ vẫn có đôi chỗ chưa hoàn toàn trung thành với nguyên tác . Cụ thể trong nguyên
tác viết thể thơ thất ngôn, ở bài dịch lại dịch sang thơ lục bát; câu lục bát của bài dịch
tuy khá mềm mại, tự nhiên nhưng phần nào giảm đi cái chắc chắn, chặt chẽ, gân guốc
phù hợp với nội dung tư tưởng của bài thơ. Không những thế mà từ ngữ dịch trong
bài thơ cũng chưa sát như câu thứ hai ( câu thừa ) .
Ở bản phiên âm : “ Trùng san chi ngoại hựu trùng san”
( Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác )
Câu thơ nói lên cái vất vả gian lao của người đi đường phải vượt qua rất nhiều lớp
núi, dãy núi, vừa đi hết dãy núi này lại tiếp ngay đến dãy núi khác, tức là gian nan
tiếp liền gian nan, gian nan cứ chồng chất, dường như bất tận để thử thách ý chí và
nghị lực của người tù.
Nhưng trong bản dịch thơ thì lại dịch hai chữ trùng san ( lớp núi, dãy núi ) là núi
cao thì rõ ràng không sát vì Hồ Chí Minh đâu có chủ ý nói đến núi cao hay thấp. Như
thế mà trong quá trình giảng dạy giáo viên không cho học sinh đối chiếu so sánh giữa
bản dịch thơ với phiên âm thì sẽ không khai thác đúng hướng dụng ý của tác giả và
cũng sẽ không lột tả hết được cái hay, ý nghĩa của bài thơ.


Ngoài một số bài thơ vừa nêu trên thì một trong những bài thơ cũng hết sức nổi tiếng
và quen thuộc đó là bài “ Vọng lư sơn bộc bố” của Lý Bạch ( Ngữ văn 7- tậpI ) cũng
không ngoại lệ. Khi dạy bài này giáo viên cũng phải cho học sinh so sánh đối chiếu
giữa bản phiên âm với bản dịch thơ vì có những chỗ dịch không sát so với phiên âm
mà chính những chỗ đó nó làm nên cái “thần” của bài thơ. Ví dụ như ở câu thơ đầu
của phiên âm:
“ Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên”
( Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía )
Quan hệ về ý nghĩa giữa hai vế trong câu trên là quan hệ nhân quả : Mặt trời chiếu

cảm xúc và hình ảnh.
Ví dụ trong bài thơ “ Vọng lư sơn bộc bố” ( Xa ngắm thác núi lư) .Đặc điểm nghệ
thuật nổi bật của bài thơ là tác giả sử dụng ngôn ngữ tinh luyện, chính xác và giàu
hình ảnh. Trong mỗi câu thơ, Lý Bạch dùng một “thi nhãn” ( mắt thơ ) để miêu tả.
Thi nhãn ở đây là những động từ: “sinh”( phát ra ở câu 1), “quải” ( treo – câu 2). Hai
động từ “ phi lưu” (bay, chảy ) đặt ở đầu câu 3 diễn tả tốc độ mạnh mẽ ghê gớm của
dòng thác. Hai tính từ nối tiếp “ trực há ” ( thẳng xuống ) gọn, dứt khoát, miêu tả tư
thế thiên nhiên của thác núi Lư. Nếu sự bất ngờ, đột biến của từ ngữ được Lý Bạch
thể hiện ở ba câu trên, thì đến câu thơ cuối, động từ “ lạc ” ( rơi tuột ) được tác giả sử
dụng tài tình khéo léo làm nổi bật nội dung của toàn bộ bài thơ. Tất cả các nhãn tự
trên đều lột tả được thần thái của cảnh sắc làm nổi bật được cái cảnh tượng thiên
nhiên hùng vĩ, tráng lệ đẹp huyền ảo. Dưới ngòi bút của Lý Bạch, hình ảnh của thác
núi Lư trở lên sống động, mãnh liệt và kỳ vĩ. Qua đó giúp ta cảm nhận được tâm hồn
phóng khoáng, lãng mạn, tình yêu thiên nhiên say đắm của tác giả.
Chính vì ngôn từ trong thơ Đường luật hết sức hàm súc cô đọng, ý tại ngôn ngoại cho
nên khi khai thác giáo viên luôn hướng dẫn học sinh bám vào từ ngữ đặc sắc độc đáo
trong câu thơ để phân tích tìm ra ý thơ mà tác giả đã gửi gắm trong đó.
đ/ Khi phân tích một bài thơ Đường luật thì giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh chỉ ra được phép đối ngẫu cụ thể và phân tích tác dụng nó vì đây là một đặc
điểm trong thơ Đường luật.
Ví dụ trong bài “ Qua đèo Ngang ” ( Ngữ văn 7/ tậpI ) giáo viên có thể hướng cho
học sinh khai thác nghệ thuật đối ở cặp câu thực và câu luận:
Cặp câu thực: “ Lom khom dưới núi tiều vài chú


Lác đác bên sông chợ mấy nhà ”
Hãy chỉ ra các biểu hiện của phép đối trên các phương diện: Đối về từ loại, đối về cú
pháp, đối ý và cho biết phép đối này có tác dụng như thế nào?
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích:
Đối thanh : Hệ thống thanh điệu câu trên đối lại hệ thống thanh điệu ở câu

tiều vài chú

trạng ngữ
bên sông

tính từ

danh từ
chợ mấy nhà ”

trạng ngữ

danh từ

Đối ý: Nếu câu trên gợi tả hình dáng vất vả nhỏ nhoi của người tiều phu giữa núi
rừng rậm rạp thì câu dưới gợi ra sự ít ỏi lèo tèo thưa thớt của những quán chợ nghèo.
-> Làm cho cảnh đèo Ngang càng thêm vắng vẻ hoang sơ bộc lộ nỗi buồn man mác
của lòng người trước cảnh tượng đầy vẻ xa lạ.
Hoặc trong bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu ( Ngữ
văn 8/ tập I).
Giáo viên cần cho học sinh khai thác tác dụng của các cặp từ đối được sử dụng trong
cặp câu thực và cặp câu luận:
Cặp câu thực:

Câu 3: .... bốn biển.
Câu 4: .... năm châu.

Cặp câu luận:

Câu 5: .... bồ kinh tế.

cục đề - thực- luận- kết hoặc bài thơ tứ tuyệt nào cũng phải phân tích theo bố cục khai
– thừa – chuyển – hợp mà giáo viên cần phải linh hoạt để làm nổi bật nội dung của
bài thơ.


Ví dụ cũng là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật bài thơ “ Qua đèo Ngang” giáo
viên có thể phân tích theo bố cục đề - thực – luận – kết nhưng đối với bài “ Bạn đến
chơi nhà” mà giáo viên cứ cứng nhắc bám vào bố cục để phân tích thì nội dung kiến
thức được khai thác và hệ thống câu hỏi sẽ bị trùng lặp rất nhiều như vậy thì bài
giảng trở nên nhàm chán và nhạt nhẽo. Chính vì thế đối với bài này giáo viên cần
phải phân tích theo lối “bổ dọc” tức là theo mạch cảm xúc của nhà thơ cụ thể như
sau:
o

phần thứ nhất: Câu 1 cảm xúc khi bạn đến chơi nhà

o

Phần thứ hai: Câu 2 -> câu 7 cảm xúc về gia cảnh

o

Phần thứ ba: Câu 8 cảm nghĩ về tình bạn.
Tóm lại phân tích văn bản theo cách nào là tùy thuộc vào thực tế của văn bản không
nên rập khuôn một cách máy móc miễn là làm sao phải làm nổi bật được cái thần thái
của bài thơ.
h/ Khi dạy thơ Đường, GV cần chú ý hướng dẫn HS đọc diễn cảm, đọc đúng về
nhịp điệu, cách ngắt nhịp, các từ cần đọc nhấn (chủ yếu là các từ gieo vần với nhau)
chính cách đọc đúng, đọc diễn cảm này đã giúp học sinh bước đầu cảm nhận nhanh
bài thơ hơn. Hướng dẫn học sinh cách đọc ngay khi dặn dò học sinh soạn bài, chuẩn

sử dụng từ ngữ nào trong câu thơ, hãy phân tích tác dụng của việc sử dụng từ ngữ đó?
Vậy theo em ở bản dịch thơ đã làm toát lên được vẻ đẹp của thác nước như ở phần
nguyên tác chưa? Vì sao?
Như vậy để trả lời được câu hỏi trên học sinh phải có sự quan sát để so sánh đối
chiếu các câu thơ ở từng phần. Lúc này giáo viên trích ra câu thơ trong mỗi phần
nguyên tác, dịch nghĩa và dịch thơ để học sinh quan sát là hợp lý.
Ngoài nội dung trình chiếu trên thì trong bài này giáo viên có thể sưu tầm một số
tranh ảnh cho học sinh quan sát một số thác nước - Thác Cam Li ở Đà Lạt; Thác Bản
Dốc ở Cao Bằng. Đến với vùng Đông Nam của nước
Vênêruanla thăm thác nước Angét cao nhất thế giới. Toàn bộ các thác nước này được
giáo viên giới thiệu vào phần giới thiệu bài để tạo sự hấp dẫn theo dõi chú ý của học
sinh ngay từ đầu.
Đến phần củng cố giáo viên đưa ra câu hỏi ? Em hãy kể tên một số thác nước trên
quê hương Kon Tum? Sau khi học sinh trả lời xong giáo viên đưa ra tranh ảnh giới
thiệu thác YaLy, thác Đắc Ke ở Măng Đen ( Gắn với giáo dục ý thức bảo vệ môi


trường) đồng thời cũng để bồi dưỡng thêm niềm tự hào và tình yêu đối với quê hương
trong học sinh.
Ngoài việc sử dụng tranh ảnh thì giáo viên còn sử dụng trình chiếu vào những chỗ
cần thiết như khắc sâu và nhấn mạnh nội dung kiến thức cơ bản ở mỗi phần phân
tích thì giáo viên có thể đưa lên màn chiếu.
Qua tìm hiểu về thơ Đường luật học sinh phải hiểu được nét đặc trưng chính của thơ
Đường luật là tả cảnh vật, vịnh cảnh vật để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của con người
hay ký thác một tâm sự, một nỗi niềm của con người.
Trên đây là một số suy nghĩ của bản thân tôi được đúc rút từ sự trải nghiệm thực tế
của bản thân và của đồng nghiệp trong những năm đã dạy về thơ Đường luật về
những vấn đề cần lưu ý để nâng cao hiệu quả trong khi giảng dạy một bài thơ Đường
luật dù còn nhiều thiếu sót song cũng phần nào khắc phục được hạn chế trong việc
giảng dạy thơ Đường luật hiện nay. Tuy nhiên không phải khi dạy bất cứ một bài thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status