Nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của dịch chiết lá ca cao (theobroma cacao) in vitro và ứng dụng để hạn chế sự oxy hóa lipid trên cơ thịt cá bớp (rachycentron canadum) - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
--- o0o ---

NGUYỄN THỊ HUYỀN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA CỦA DỊCH CHIẾT LÁ
CACAO (Theobroma cacao) IN VITRO VÀ ỨNG DỤNG ĐỂ HẠN CHẾ SỰ
OXY HÓA LIPID TRÊN CƠ THỊT CÁ BỚP (Rachycentron canadum)

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

GVHD: TS. NGUYỄN THẾ HÂN

KHÁNH HÒA -07/ 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án này,
Trước hết em xin gửi tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ
nhiệm khoa Công nghệ Thực phẩm, Phòng Đào tạo niềm kính trọng, sự tự hào được
học tập tại trường trong bốn năm qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất em xin được dành cho thầy: TS. Nguyễn Thế Hân đã
tài trợ kinh phí, tận tình hướng dẫn và động viên em trong suốt quá trình thực hiện đồ
án tốt nghiệp này.
Đặc biệt, em xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo
trong Khoa Công nghệ Thực phẩm và tập thể cán bộ trong các Phòng thí nghiệmTrung tâm Thực hành Thí nghiệm- Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ nhiệt tình

1.4.1 Cá bớp ........................................................................................................... 15
1.4.2 Thành phần hóa học và dinh dưỡng ............................................................. 17
1.5 Quá trình oxy hóa lipid ....................................................................................... 18
1.5.1 Lipid và acid béo trong thủy sản .................................................................. 18
1.5.2 Cơ chế của quá trình oxy hóa lipid .............................................................. 20
1.6.3 Tác hại của quá trình oxy hóa lipid .............................................................. 23
1.6 Các phương pháp xác định hoạt tính chống oxy hóa ......................................... 23
1.6.1 Phương pháp TEAC (Trolox equivalent antioxidant capacity) ................... 23
1.6.2 Phương pháp khử gốc tự do DPPH (Scavenging ability towards DPPH
radicals) ................................................................................................................... 24
1.6.3 Phương pháp ORAC (oxygen radical absorbance capacity) ....................... 24


iii

1.6.4 Phương pháp TRAP (total radical-trapping antioxidant potential) ............. 25
1.6.5 Phương pháp FRAP (ferric reducing-antioxidant power) ........................... 26
1.6.6 Lipid assay .................................................................................................... 26
1.6.7 Phương pháp FTC (ferric thiocyanat ) ......................................................... 27
1.6.8 Tổng năng lực khử (reducing power)........................................................... 27
1.7 Các chất chống oxy hóa ...................................................................................... 27
1.7.1 Một số chất chống oxy hóa tự nhiên ............................................................ 27
1.7.2 Một số chất chống oxy hóa nhân tạo .......................................................... 29
1.7.3 Cơ chế chống oxy hóa của hợp chất polyphenol ....................................... 30
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................ 34
2.1.1 Nguyên liệu lá ca cao .................................................................................. 34
2.1.2 Nguyên liệu cá bớp ..................................................................................... 34
2.2 Hóa chất ............................................................................................................. 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 35

3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến hàm lượng polyphenol tổng số và khả
năng chống oxy hóa của dịch chiết từ lá ca cao ....................................................... 51
3.4 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng polyphenol, khả năng
chống oxy hóa của dịch chiết từ lá ca cao ................................................................ 56
3.5 Mối tương quan giữa hàm lượng poylphenol tổng số với năng lực khử và
khả năng khử gốc tự do DPPH ................................................................................. 61
3.6 Ảnh hưởng của sóng siêu âm đến hàm lượng polyphenol tổng số và khả
năng chống oxy hóa của dịch chiết từ lá ca cao ....................................................... 63
3.7 Khả năng hạn chế sự oxy hóa lipid trên cơ thịt cá bớp trong quá trình bảo
quản lạnh của dịch chiết từ lá ca cao ........................................................................ 66
3.7.1 Sự thay đổi chỉ số peroxide (PV) ............................................................... 66
3.7.2 Sự thay đổi chỉ số TBARS ......................................................................... 68
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN .................................................. 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 74
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 82


v

DANH MEF _Toc42327727
BHA:

Butylated hydroxyl anisole

BHT:

Butylated hydroxyl toluene

DHA:



PA:

Polyamide

PV:

Proxide value

TBARS:

Thiobarbituric acid-reactive substances

TBHQ:

Tert- butyl hydroquinon

TEAC:

Trolex equivalent antioxidant capacity

TRAP:

Total radical- trapping antioxidant potential

VCC:

Vietnam Cocoa Committee (Ban điều phối phát triển ca cao Việt Nam)




vii

Hình 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ ethanol đến khả năng chống oxy hóa của
dịch chiết từ lá ca cao xác định bằng tổng năng lực khử (A) và khả năng
khử gốc tự do DPPH (B). Tại cùng một nồng độ dịch chiết, các chữ cái
trên các điểm khác nhau chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa thống kê
(p
chỉ ra tác dụng của các sản phẩm từ cây ca cao đối với sức khỏe con người. Chiết
xuất phenolic từ hạt ca cao có khả năng ức chế sự oxy hóa lipid trên mô hình ống
nghiệm [51]. Các hợp chất monome flavanol (epicatechin và catechin) và oligome
procyanidin trong hạt ca cao có tác dụng chống lão hóa, chống ung thư và một số tác
dụng khác [40]. Vỏ của quả ca cao cũng được nghiên cứu để chiết xuất ra
Theobromine có khả năng làm tăng sức chịu đựng của tim, điều hoà huyết áp, kiềm
chế hoạt động của dây thần kinh phế vị làm giảm các cơ ho kéo dài [15]. Ngoài ra
các bộ phận khác của cây ca cao như rễ, lá, vỏ cây đều là thành phần có mặt trong
đơn thuốc và ẩm thực Trung Mỹ. Ở Việt Nam, đánh giá một số dòng ca cao triển
vọng tại Cần Thơ đã được nghiên cứu [9]. Thành phần hóa học cơ bản và một số hợp
chất có hoạt tính sinh học trong lá ca cao cũng ban đầu được xác định [10]. Trong
quá trình sinh trưởng và phát triển, cây ca cao thường xuyên được cắt cành, tỉa tán để
đảm bảo độ râm cần thiết [1]. Lượng lá cây được tỉa đó thường bị thải loại lãng phí
mà không được tận dụng vào bất cứ việc gì [55]. Với quá trình cắt tỉa cành diễn ra
thường xuyên thì lá ca cao chính là một nguồn nguyên liệu dồi dào, việc nghiên cứu
chiết các hợp chất có hoạt tính sinh học như polyphenol vừa tận dụng được nguồn
phế thải thực vật và áp dụng dịch chiết này khi đã được tinh sạch trong bảo quản thực
phẩm sẽ là xu hướng trong tương lai. Ossman và cộng sự (2003) đã nghiên cứu chiết
xuất hợp chất phenolic từ lá ca cao bằng dung môi methanol ở một điều kiện chiết cố
định và tiềm năng chống oxy hóa của hợp chất này [56]. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn
chưa có nghiên cứu nào được công bố về điều kiện chiết phù hợp để chiết hợp chất
giàu polyphenol từ lá ca cao; khả năng chống oxy hóa của dịch chiết giàu polyphenol
từ lá ca cao và ứng dụng dịch chiết từ lá ca cao để hạn chế sự oxy hóa lipid thịt cá.


2

Hiện nay, để chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học từ thực vật, theo
Spigno và cộng sự (2007), dung môi ethanol và methanol được sử dụng phổ biến
nhất [62]. Tuy nhiên, methanol là một dung môi độc tính, ảnh hưởng rất lớn đến sức

khả năng chống oxy hóa của dịch chiết lá cacao (Theobroma cacao) in vitro và
ứng dụng để hạn chế sự oxy hóa lipid trên cơ thịt cá bớp (Rachycentron
canadum)”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được điều kiện chiết thích hợp để thu dịch chiết giàu polyphenol
từ lá ca cao Theobroma cacao;
- Đánh giá khả năng sử dụng dịch chiết lá ca cao trong việc ngăn ngừa sự oxi
hóa lipid trên cơ thịt cá bớp Rachycentron canadum.
3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu ở trên, đề tài thực hiện các nội dung nghiên cứu sau đây:
Mục tiêu 1: Xác định được điều kiện chiết thích hợp để thu dịch chiết giàu
polyphenol từ lá ca cao Theobroma cacao:
-

Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện chiết (loại dung môi, nhiệt độ, thời

gian chiết) đến hàm lượng polyphenol tổng số và khả năng chống oxy hóa của dịch
chiết lá cacao;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chiết bằng sóng siêu âm đến hàm
lượng polyphenol tổng số và khả năng chống oxy hóa của dịch chiết lá cacao.
Mục tiêu 2: Đánh giá khả năng sử dụng dịch chiết lá ca cao trong việc
ngăn ngừa sự oxi hóa lipid trên cơ thịt cá bớp Rachycentron canadum.
-

Nghiên cứu khả năng hạn chế sự oxy hóa lipid của dịch chiết lá cacao và

chất chống oxy hóa EGCG đến hàm lượng TBARS trên cơ thịt cá bớp bảo quản lạnh.
- Nghiên cứu khả năng hạn chế sự oxy hóa lipid của dịch chiết lá cacao và
chất chống oxy hóa EGCG đến hàm lượng peroxide trên cơ thịt cá bớp bảo quản lạnh.
4. Đối tượng nghiên cứu

Hình 1.1. Cây ca cao Theobroma cacao
Cây ca cao có tên khoa học: Theobroma ca cao, Giới: Plantae; Bộ: Malvales;
Họ: Malvaceae; Chi: Thebroma; Loài: Theobroma cacao. Cây ca cao là loại cây có
tán thuộc tầng trung bình, sống dưới tán những cây cổ thụ, chiều cao của cây có thể
cao tới 11m, rễ ca cao thuộc loại rễ chùm nên không ăn sâu vào lòng đất. Loại đất
thích hợp nhất cho cây ca cao là mùn xốp. Cây có thể sống tới 15- 20 năm, sau 3 năm
bắt đầu ra hoa, kết trái và cho trái quanh năm. Trái ca cao đâm ra trực tiếp từ thân
hoặc những cành lớn. Cây cho sản lượng cao nhất khi cây khoảng 9- 10 tuổi, cây
mang lại khoảng 20- 30 trái/năm, năm được màu có thể lên đến 50 trái/năm. Trái ca
cao khi chưa chín có màu xanh hoặc tím, khi trái chín có màu vàng hoặc màu cam
tùy loại giống; dáng bầu dục thuôn dài, có chiều dài khoảng 15 tới 25cm và đường
kính khoảng 7- 10cm. Trong mỗi trái có 5 dãy hạt, mỗi dãy khoảng 15 tới 50 hạt. Lá
ca cao có hình oval thon dài, khi non có màu xanh tím, xanh nhạt hay đỏ sáng tùy
theo giống cây [12], [18].


6

Hiện nay người ta chia ca cao làm 3 nhóm lớn: Criollo, Forastero và
Trinitario.
 Nhóm Criollo
Gồm những đặc điểm sau:
- Nhị lép có màu hồng nhạt.
- Trái có màu đỏ hoặc xanh trước khi chín.
- Trái có dạng dài và đỉnh nhọn rất rõ ở cuối trái, 10 rãnh đều nhau.
- Vỏ thường sần sùi, mỏng, dễ cắt, lớp trong mỏng và ít mô gỗ.
- Hạt có tiết diện gần tròn, tử diệp màu trắng, ít đắng.
Chiếm 5% sản lượng ca cao thế giới và là giống ca cao làm ra loại Chocolate ngon
nhất, tuy nhiên giống này có năng suất thấp và khả năng kháng bệnh kém nên ít trồng.


tấn/năm. Có 15 tỉnh trồng ca cao tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long,
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và 1 số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.
Cây ca cao thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều; nhiệt độ thích hợp
250C, độ ẩm 85%, lượng mưa trung bình trên 1500 mm/năm. Cây ca cao thích hợp với
khí hậu có mùa khô không kéo dài qúa 3 tháng, không có gió mạnh thường xuyên. Cây
ca cao là cây ưa ánh sáng tán xạ (50-60% cường độ ánh sáng tự nhiên) nên thích hợp
trồng dưới tán cây ăn trái hoặc cây che bóng. Cây ca cao thích hợp với nhiều loại đất
khác nhau: đất đỏ, đất xám, đất phù sa cổ, song thích hợp nhất với đất có thành phần
cơ giới trung bình đến nhẹ, pH từ 5,5- 5,8; tầng canh tác dày 1,0-1,5 m, dễ thoát nước,
có khả năng giữ nước cao, giàu chất hữu cơ.
1.1.2 Thành phần hóa học của lá ca cao
1.1.2.1 Thành phần hóa học cơ bản
Thành phần hóa học cơ bản của lá ca cao tươi được trình bày trong Bảng 1.1.
Kết quả phân tích cho thấy nước là thành phần chiếm tỉ lệ cao nhất với 80,10%.
Những thành phần còn lại chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều. Hàm lượng tro, protein, glucid
và lipid lần lượt là 0,96%; 1,85%; 6,17 và 2,29% [10]. Các thành phần hóa học cơ
bản còn lại thường ít được quan tâm chắc có lẽ bởi vì hàm lượng chúng thấp.
Bảng 1.1. Thành phần hóa học cơ bản của lá ca cao tươi
Thành phần

Hàm lượng (%) so với khối lượng tươi

Ẩm

80.10 ± 0,90

Tro

0,96 ± 0,04


dụng trong phòng ngừa một số bệnh bệnh như lão hóa, tim mạch và ung thư. Nguyễn
Thị Quỳnh Hoa (2012) đã xác định một số carotenoid trong lá ca cao trồng ở Cần
Thơ, bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Theo đó, trans-lutein có
hàm lượng cao nhất (72-376 g/g chất khô), tiếp theo là cis-lutein (0-72 g/g),
neochrome (13-65 g/g), neoxanthin (0-41 g/g), all-trans-α-caroten (0-27 g/g),
auroxanthin (7-23 g/g), violaxanthin (3-22 g/g), luteoxanthin (4-19 g/g), alltrans-β-carotene (0-7,6 g/g), β-cryptoxanthin (0-6,7 g/g), các đồng phân cis của
trans-β-caroten (0-1,9 g/g) [10].
Chlorophyll
Chlorophyll là sắc tố màu xanh lá cây được tìm thấy trong hầu hết các loài
thực vật. Nó là thành phần quan trọng trong quá trình quang hợp của thực vật.
Chlorophyll cũng có một số tác dụng y dược như khả năng chống oxy hóa, kháng tế
bào ung thư và chống viêm [44]. Cấu trúc cơ bản của chlorophyll bao gồm một
porphyrine với một ion magie ở trung tâm và mạch bên là một nhóm phytol. Có hai
loại chlorophyll a và b tồn tại trong thực vật, với tỷ lệ của chlorophyll a và
chlorophyll b là 3:1.
Đã có 15 hợp chất chlorophyll và các dẫn xuất đã được phân lập trong lá ca
cao. Hàm lượng của 15 hợp chất này cũng đã được xác định. Theo đó, pheophytin a


10

có hàm lượng cao nhất (2508,3 g/g), tiếp theo là pheophytin a' (111,2 g/g),
chlorophyll a (113,8 µg/g), chlorophyll a' (11,0 µg/g), hydroxypheophytin a (88,6
µg/g), hydroxypheophytin a' (66,5 µg/g), pyropheophytin a (76,0 µg/g),
hydroxychlorophyll a (23,8 µg/g), pheophytin b (319,6 µg/g), pheophytin b' (13,2
µg/g), chlorophyll b (287,9 µg/g), chlorophyll b' (11,1 µg/g), hydroxychlorophyll b
(15,0 µg/g), hydroxypheophytin b (11,2 µg/g) và hydroxypheophytin b' (8,5 µg/g) [10].
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của lá ca cao
1.2.1 Nghiên cứu trong nước
Cho đến hiện nay, số lượng đề tài nghiên cứu về chiết xuất các hợp chất

chiết xuất polyphenol là tốt hơn so với BHA [56]. Số lượng những nghiên cứu trong
và ngoài nước về polyphenol từ lá ca cao còn rất ít và hạn chế. Những nghiên cứu
trên tập trung chiết xuất, phân tích thành phần polyphenol và đánh giá hoạt tính
chống oxy hóa của chúng nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát các điều kiện chiết
phù hợp để chiết xuất hợp chất này. Mặc dù tất cả nghiên cứu đều đánh giá cao hoạt
tính của polyphenol từ lá ca cao nhưng chưa có nghiên cứu phát triển tiếp tục nhằm
ứng dụng nguồn polyphenol tự nhiên này để hạn chế quá trình oxy hóa chất béo trên
thủy sản.
1.3 Các phương pháp tách chiết
1.3.1 Cơ sở của quá trình tách chiết
Chiết là phương pháp thu lấy một hay nhiều chất từ hỗn hợp đã tách biệt, cô
lập và tinh chế các cấu tử có trong hỗn hợp thành những cấu tử riêng.
Quá trình chiết gồm hai giai đoạn, giai đoạn 1: Dung môi thấm ướt lên bề mặt
nguyên liệu, sau đó thấm sâu vào bên trong do quá trình thẩm thấu tạo ra dung dịch
chứa các hoạt chất. Sau đó dung môi tiếp tục hòa tan các chất trên bề mặt bằng cách
đẩy các bọt khí chiếm đầy trong các khe vách trống của tế bào. Giai đoạn 2: giai đoạn
tiếp tục hòa tan các hợp chất trong các ống mao dẫn của nguyên liệu nhờ vào dung
môi đã thấm sâu vào các lớp bên trong 8.
1.3.2. Các phương pháp tách chiết bằng dung môi
Tách chiết bằng dung môi là quá trình tách và phân ly các chất dựa vào quá
trình chuyển một chất tan trong một pha lỏng vào trong một pha lỏng khác không hòa
tan với nó, nhằm chuyển một lượng nhỏ chất nghiên cứu trong một thể tích lớn dung


12

môi này vào một thể tích nhỏ dung môi khác, nhằm nâng cao nồng độ của chất cần
nghiên cứu và được gọi là chiết làm giàu. Bên cạnh đó việc chiết thành cao dịch thô
là vô cùng quan trọng vì khi đó giữ lại được hoạt chất tốt hơn và dễ dàng cho những
công đoạn sau 8.

nguyên liệu và lôi theo những cấu tử dễ bay hơi, hơi nước tiếp tục bay hơi và ngưng
tụ bởi một ống sinh hàn, ta thu được hợp chất tinh dầu. Dùng ete dầu hỏa hoặc ether
ethylic để trích ly tinh dầu ra khỏi hỗn hợp trên hoặc để yên một thời gian trong bình
sẽ có sự phân tách giữa hai pha tinh dầu và nước 8.
1.3.3 Một số phương pháp tách chiết khác
1.3.3.1 Chiết bằng chất lỏng siêu tới hạn (Supercritical fluid extraction)
Chiết bằng chất lỏng siêu tới hạn (SFE) được xem như là một phương pháp
chiết hữu hiệu để thay thế các phương pháp thông thường sử dụng dung môi hữu cơ
(King và cộng sự, 2002) 44 . Phương pháp SFE xảy ra nhanh chóng, tự động, có
chọn lọc, không gây cháy nổ và tránh việc sử dụng một số lượng lớn các dung môi
độc hại [50.
Siêu chất lỏng dễ dàng tách các chất cần thiết do dung môi thay đổi thuộc tính
nhanh chóng chỉ với các biến đổi áp lực nhẹ. Chất lỏng siêu tới hạn (SCF) đang ngày
càng thay thế dung môi hữu cơ như n-hexane, dichloromethane, chloroform và những
dung môi khác thường sử dụng trong chiết công nghiệp, lọc, vì quy định và sức ép
môi trường về các hợp chất hữu cơ và khí thải.
1.3.3.2 Phương pháp chiết sử dụng sóng siêu âm
Đây là kỹ thuật chiết thay thế rẻ tiền, đơn giản và hiệu quả. Sóng siêu âm
thường được sử dụng để cải thiện việc chiết lipid, protein và các hợp chất phenolic từ
thực vật, quá trình chiết các hợp chất phenol từ Folium eucommiae có sử dụng sóng
siêu âm thu được hiệu quả cao hơn so với khi chiết bằng cách gia nhiệt hoặc bổ sung
enzyme hỗ trợ chiết tách. Sóng siêu âm có khả năng phá vỡ màng tế bào của nguyên
liệu, do đó giúp cho sự xâm nhập của dung môi vào bên trong tế bào dễ dàng hơn.
Ngoài ra siêu âm còn có tác dụng khuấy trộn mạnh dung môi làm tăng diện tích tiếp
xúc của dung môi và cải thiện đáng kể hiệu suất chiết 50.
1.3.3.3 Phương pháp chiết sử dụng năng lượng lò vi sóng
Đây là một mảng lớn chưa được khai thác, mặc dù bằng cách sử dụng lò vi
sóng để làm trung gian trong quá trình chiết có thể duy trì các điều kiện nhẹ và đạt





15

gôm, chất nhầy khi nhiệt độ tăng sẽ bị trương nở, tinh bột bị hồ hóa, độ nhớt của dịch
chiết sẽ bị tăng, gây khó khăn cho quá trình chiết xuất, tinh chế.
Đối với dung môi dễ bay có nhiệt độ sôi thấp: khi tăng nhiệt độ thì dung môi
dễ bị hao hụt, khi đó thiết bị phải kín và phải có bộ phận hồi lưu dung môi.
Đối với một số chất đặc biệt có quá trình hòa tan tỏa nhiệt: khi nhiệt độ tăng,
độ tan của chúng lại giảm. Do đó để tăng độ tan thì cần phải làm giảm nhiệt độ.
Từ những phân tích trên thấy tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn nhiệt độ
chiết sao cho phù hợp (tùy thuộc vào các yếu tố như nguyên liệu chiết, dung môi,
phương pháp chiết).
1.3.4.3 Thời gian chiết xuất
Khi bắt đầu chiết, các chất có khối lượng phân tử nhỏ thường là hoạt chất sẽ
được hòa tan và khuếch tán vào dung môi trước, sau đó mới đến các chất có phân tử
lượng lớn (thường là tạp, nhựa, keo) 62. Do đó nếu thời gian chiết ngắn sẽ không
chiết hết hoạt chất trong dược liệu; nếu thời gian chiết quá dài, dịch chiết sẽ lẫn nhiều
tạp, gây bất lợi cho quá trình tinh chế và bảo quản. Tóm lại, cần lựa chọn thời gian
chiết, thành phần dược liệu dung môi, phương pháp chiết phù hợp.
1.4 Giới thiệu về cá bớp Rachycentron canadum
1.4.1 Cá bớp
Tên khoa học: Rachycentron canadum
Cá bớp biển thường được gọi ngắn gọn là cá bớp- là một loài cá thuộc:
Giới: Animalia ; ngành: Chordata; Lớp: Actinopteryg; Bộ: Carangiformes; Họ:
Rachycentridae; Chi: Rachicentron; Loài: Rachycentron canadum.


Trích đoạn Cơ chế chống oxy hóa của hợp chất polyphenol Quy trình bố trí thí nghiệm tổng quát Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng Thí nghiệm sử dụng dịch chiết từ lá cacao để hạn chế sự oxy hóa Xác định hàm lượng polyphenol tổng số
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status