Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
LỜI MỞ ĐẦU
ối với mỗi quốc gia, ngoại thương đóng một vai trò vô cùng quan trọng
trong sự phát triển kinh tế. Ngoại thương không những là cầu nối giữa
các quốc gia, bản thân các doanh nghiệp sản xuất mà còn là một yếu tố thúc đẩy
nền kinh tế phát triển, làm cho đời sống của người dân mỗi nước càng ngày càng
được cải thiện sung túc và không ngừng được nâng cao. Việt Nam từ năm 1986
với chính sách đổi mới, cũng đã bắt đầu mở cửa ra thị trường thế giới, hội nhập
toàn cầu. Các doanh nghiệp thi đua sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi
thế so sánh, được thế giới ưa chuộng, bên cạnh đó đồng thời cũng nhập khẩu
những trang thiết bị may móc , nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và những
đồ dùng cần thiết khác, đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhưng dù muốn xuất khẩu hay
nhập khẩu mặt hàng nào đó, cũng cần phải có một khâu trung gian là khâu vận
chuyển hàng hóa giữa các nước, đó là tầm quan trọng của ngành vận tải. Hiện
nay các phương thức vận tại thường tuân theo Incoterms 2000 với 13 cơ sở giao
hàng truyền thống, trong đó có 3 điều kiện hay sử dụng nhất là FOB, CFR, CIF.
Nhưng nếu như các nước phát triển, họ thường nhập khẩu theo điều kiện giá
FOB, xuất khẩu theo điều kiện giá CIF thì ở nước ta, các doanh nghiệp lại làm
điều ngược lại, là nhập khẩu giá CIF, còn xuất khẩu giá FOB. Có nhiều nguyên
nhân để giải thích cho tập quán ngược này của các doanh nghiệp Việt Nam,
nhưng từ bước tìm hiểu nguyên nhân chúng ta phải tìm ra các giải pháp để tìm
cách thay đổi thực trạng không thuận lợi này.
Đ
Nhận thức được tính cần thiết của vấn đề này, chúng em xin chọn đề tài
“Thực tế nhập CIF xuất FOB của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt
Nam“ làm đề tài tiểu luận của chúng em.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do những hạn chế trong việc tiếp cận và
xử lí thông tin, bài tiểu luận không thể tránh những sai sót, cần phải sửa chữa bổ
sung, mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô giáo và các bạn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
1
• Giao hàng lên tàu.
• Cung cấp chứng từ vận tải hoàn hảo chứng minh hàng đã được bốc lên tàu
• Chịu chi phí bốc hàng lên tàu theo tập quán của cảng nếu chi phí này chưa
tính trong tiền cước.
1.2.2. Người mua phải:
• Kí hợp đồng chuyên chở và trả cước.
• Trả tiền chi phí bốc hàng lên tàu nếu chi phí này được tính vào trong cước
• Lấy vận đơn
• Trả tiền chi phí dỡ hàng
• Chịu mội rủi ro và tổn thất về hàng kể từ khi hàng đã qua hẳn lan can tàu
ở cảng bốc.
2. Điều kiện giao hàng CIF
2.1. Khái niệm
CIF (COST, INSURANCE AND FREIGHT)...named port of destination
= Giá thành, bảo hiểm và cước phí ....cảng đến quy định. Khi giá cả được nêu là
CIF, nó có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm,
cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. CIF là một thuật ngữ thương mại quốc tế.
Địa điểm chuyển giao rủi ro giữa người bán và người mua cũng là địa điểm
hàng hóa vượt qua lan can tàu tải cảng xếp hàng quy định.
Điều khoản này thường nằm trong điều khoản Giá cả trong hợp đồng
ngoại thương (UNIT PRICE). Ví dụ: USD 2000/MT , CIF Ho Chi Minh City
port, incoterms 2000.
2.2. Nghĩa vụ của các bên:
2.2.1 Người bán
3
Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
• Ký hợp đồng chuyên chở hàng hóa từ cảng đi quy định,
• Trong thời gian và tại địa điểm quy định theo hợp đồng, xếp hàng lên tàu
và chi trả phí vận chuyển cho đến cảng đích, đồng thời thông báo cho bên
mua được biết.
nhận hàng trên tàu của người bán tại cảng Việt Nam.Trong khi chúng ta đang đổ
tiền tỷ làm cảng thì hàng tỷ USD lợi nhuận từ vận tải biển lại đang để cho đội
tàu nước ngoài lấy đi một cách dễ dàng. Hàng năm khoảng 80% lượng hàng hóa
xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển qua đường biển, thế nhưng đội
thương thuyền Việt Nam cố gắng lắm cũng chỉ dành được khoảng 20%, còn lại
80% thị phần lợi nhuận dễ kiếm này do các đội tàu biển nước ngoài nắm giữ…
Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Công Thương, trong năm 2007 cả nước
xuất khẩu 48,56 tỷ USD (trị giá FOB), nhập khẩu 62,70 tỷ USD (trị giá CIF).
Cán cân thương mại nghiêng về nhập khẩu, ta nhập siêu 14,14 tỷ USD. Khi
nhập giá CIF, tức ta đã mua hàng của nước ngoài bị đội giá lên nhiều, không
những mất tiền hàng gốc mà còn thêm giá cho vận chuyển và bảo hiểm, mất
5
Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
nhiều ngoại tệ cho việc nhập khẩu trong khi xuất giá FOB ta lại không thu được
ngoại tệ cho vận tải hoặc bảo hiểm nhiều để bù đắp lại, dẫn tới cán cân thương
mại bị thâm hụt.
1.1. Về xuất khẩu:
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam xuất theo giá FOB là chủ
yếu. Ngay cả những mặt hàng xuất khẩu với khối lượng lớn như dầu thô, than,
gạo… đội tàu VN rất khó len chân, phần vì không có tàu chuyên dụng, phần do
năng lực đàm phán để giữ nguồn hàng.
Tham khảo giá một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày 6/6/2009
Cà phê Cà phê nhân robusta chưa
rang. Loại 1, 01cont20
1,485.00
USD/tấn
FOB Cảng Cát Lái
(Hồ Chí Minh)
Italia
Cà phê chưa rang Robusta
Hạt
điều
Hạt điều nhân WW240 5.58 USD/kg FOB Cảng Cát Lái
(Hồ Chí Minh)
Mỹ
Nhân hạt điều đã qua sơ chế
loại W320
5.15 USD/kg DAF Cửa khẩu Tà
Lùng (Cao
Bằng)
Trung Quốc
Phân
bón
Phân hữu cơ 218.50 USD/tấn FOB Cảng Cát Lái Taiwan
Phân bón NPK 162.00 USD/tấn FOB Cảng khô –Malaysia
6
Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
ICD Thủ Đức
( Nguồn : )
Các doanh nghiệp Việt Nam giành được nhiều hợp đồng mua bán thương
mại, nhiều mặt hàng số lượng và giá trị xuất khẩu đứng nhất nhì trên thị trường
thế giới như gạo, cà phê, cao su…. nhưng phải đến 70% là xuất khẩu theo điều
kiện giao hàng FOB, 10% theo FCA.
Tham khảo một số lô hàng mây tre lá, thảm sơn mài xuất khẩu:
Thị trường Chủng loại Lượng Đơn giá ĐK giao
Cảng-cửa
khẩu
Áo
Hộc chuối
32×33x32cm
Ghế tre – 04-978L 100 16,67 USD/cái FOB Cát Lái
Khay giang 910-015 4.800 0,17 USD/cái FOB Hải Phòng
Hộp giang 910-057 3.480 0,189 USD/cái FOB Hải Phòng
…
7
Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
( Nguồn: www.vn-seo.com. )
1.2 Về nhập khẩu
Đối với hàng hóa nhập khẩu (chiếm trên 50% trên tổng lượng hàng hóa
xuất nhập khẩu) từ các châu lục xa như châu Mỹ, châu Âu… vận tải biển Việt
Nam cũng chỉ biết đứng nhìn. Hầu hết chúng ta không có thế lực trong đàm
phán và để các nước khác giành quyền vận tải.
Tham khảo giá nhập khẩu các loại trái cây trong 2 tuần đầu tháng 03/2007
Tên hàng
Thị trường nhập khẩu Cửa khẩu; ĐKGH
Giá nhập khẩu
(USD/tấn)
Hồ đào Pháp, Hồng Kông, Hoa Kỳ
CFR, Hải Phòng 400
CIF; Hải Phòng 1.200; 2.000 và 2500
Quýt Trung Quốc DAF; Tân Thanh 144 đến 200
Hồ trăn Trung Quốc, Pháp, Hồng
Kông, Iran, Hoa Kỳ
CFR; Hải Phòng
50; 400; 1100 và1600
CIF; Hải Phòng 1.000
CIF, Tân Cảng 3.860
Nho Úc, Trung Quốc, Ả Rập, Nam
Phi
DAF; Hoành Mồ- Quảng
luôn muốn tránh việc đi thuê tàu, và những thủ tục rườm rà mà chỉ muốn ngồi
không nhận hàng đến và giao hàng đi. Cứ thế, hàng năm, gần 170 triệu tấn hàng
xuất nhập qua hệ thống cảng biển của Việt Nam mang lại nguồn thu cho ngành
vận tải biển vài tỷ USD nhưng gần 80% thị phần thuộc về các công ty vận tải
biển nước ngoài...
2. Đánh giá những khó khăn và thuận lợi của doanh nghiệp Việt Nam khi
xuất FOB nhập CIF
2.1. Thuận lợi:
Các doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm và những kiến thức đầy
đủ trong việc thuê tàu và bảo hiểm, vì vậy, nếu nhập CIF và xuất FOB, thì sẽ
tránh được những rủi ro khi thuê tàu, như tàu không đủ chất lượng, …
Hơn nữa, với những doanh nghiệp có những lô hàng xuất nhập khẩu có
khối lượng và giá trị không quá cao thì việc thuê tàu sẽ làm mất thời gian, tiền
bạc, và công sức cho bản thân doanh nghiệp. Thuê tàu trong những trường hợp
này là hoàn toàn không cần thiết và phi hiệu quả.
2.2. Khó khăn
2.2.1. Khó khăn với Việt Nam khi không giành được quyền vận tải và bảo hiểm:
a) Không phảt triển được ngành bảo hiểm và vận tải trong nước:
Vì khi đàm phán các doanh nghiệp không giành được quyền vận tải nên
không tạo điều kiện cho các hãng vận tải và công ty bảo hiểm trong nước phát
triển, cũng không nâng cao được uy tín của ngành vận tải và bảo hiểm Việt Nam
trên thị trường thế giới.
b) Không tăng thu cho ngân sách nhà nước:
9
Tiểu luận vận tải và giao nhận hàng hóa Trung 2-K46F
Vì các công ty vận tải trong nước không có cơ hội kinh doanh thì nguồn
thu của ngân sách nhà nước từ việc thu thuế của họ cũng giảm đi đáng kể.
c) Không tận dụng được các nguồn lực trong nước và giải quyết công ăn
việc làm cho xã hội:
Các ngành xuất nhập khẩu, vận tải, giao nhận,bảo hiểm không phát triển
tại những công ty bảo hiểm có khả năng tài chính thấp, không có uy tín,
thậm chí lừa đảo.Khi hàng bị tổn thất có tốn bao nhiêu công sức, chi phí
cũng không đòi được bồi thường.
b) Không có cơ hội kinh doanh vận tải và bảo hiểm:
Kinh doanh vận tải và bảo hiểm có thể mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho
các doanh nghiệp có kinh nghiệm. Chẳng hạn như đã giành đựoc quyền vận tải
và dự đoán giá cước trên thị trường đang có xu hướng giảm xuống thì khi ký
hợp đồng vận tải sẽ được hưởng mức chênh lệch cước phí giữa thời điểm ký hợp
đồng mua bán với thời điểm ký hợp đồng vận tải. Hoặc nếu mua bán với số
lượng lớn hàng hóa và thường xuyên thì họ có thể được hưởng hoa hồng từ các
hãng vận tải hoặc được hưởng mức cước thấp hơn. Cũng tương tự như vậy đối
với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
c) Không nâng cao được kiến thức và kinh nghiệm về vận tải, bảo hiểm:
Vì không được cọ xát nên trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ công
nhân viên về xuất nhập khẩu, bảo hiểm và vận tải đều không được nâng cao.
Nếu xảy ra khiếu nại hay tranh chấp thì đội ngũ công nhân viên này không thể
giải quyết công việc nhanh chóng, linh hoạt và đảm bảo quyền lợi cho doanh
nghiệp trong mỗi tình huống cụ thể.
d) Không chủ động được về thời gian và địa điểm giao hàng :
Vì Việt Nam đa phần đều bán FOB nên người mua nước ngoài thường
giành được quyền chỉ định tàu để chuyên chở hàng hóa nên quyền chọn cảng
bốc hàng thuộc về người mua. Nếu trong hợp đồng quy định một vùng hoặc một
số cảng bốc hàng, người mua luôn chọn cảng bốc hàng nào gần nơi đến nhất và
11