ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA
HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN AN DƢƠNG, HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA
HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN AN DƢƠNG, HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BGH
Ban giám hiệu
CBQL
Cán bộ quản lý
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNL
Chủ nhiệm lớp
GD-ĐT
Giáo dục - Đào tạo
GV
Giáo viên
GVBM
Giáo viên bộ môn
Lời cảm ơn
i
Danh mục các chữ viết tắt
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng biểu
vi
Danh mục sơ đồ
vii
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG
6
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
14
1.4. Công tác chủ nhiệm lớp
14
1.4.1. Vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp
14
1.4.2. Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp
16
1.4.3. Những yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm
18
1.4.4. Vị trí, vai trò của công tác chủ nhiệm lớp
23
1.4.5. Các nhiệm vụ cơ bản của công tác chủ nhiệm
24
1.5. Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng ở trường trung học phổ
thông
26
2.1. Khái quát giáo dục huyện An Dương thành phố Hải Phòng
31
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện An Dương – thành phố Hải Phòng
31
2.1.2 Phát triển giáo dục huyện An Dương- thành phố Hải Phòng
31
2.1.3 Đặc điểm các trường THPT huyện An Dương – Hải Phòng
33
2.2. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng
2.2.1.Thực trạng về đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp
2.2.2. Thực trạng về năng lực thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của công tác
chủ nhiệm lớp của GVCN tại các trường THPT huyện An Dương
36
35
36
2.3. Thực trạng về quản lý công tác chủ nhiệm lớp
39
51
PHÕNG
3.1. Căn cứ xây dựng đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp
6
51
3.1.1 Căn cứ pháp lý
51
3.1.2. Căn cứ thực tiễn
51
3.2. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống biện pháp
52
3.2.1. Đảm bảo tính kế thừa
52
3.2.2. Đảm bảo tính thực tiễn
52
76
82
3.3.7. Biện pháp 7: Giao quyền tự chủ cho GVCNL.
83
3.4. Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp
85
3.5. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
86
Tiểu kết chương 3
90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
PHỤ LỤC
8
40
42
43
45
46
88
89
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Khảo sát CBQL về tần suất bồi dưỡng GVCN.
44
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát mức độ hợp lý về chế độ chính sách của
47
nhà nước đối với người làm công tác CNL
9
“Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn
10
hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo;
thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo
dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Trong những năm qua ngành Giáo dục – Đào tạo cả nước nói chung, Hải
Phòng nói riêng đã thu được những thành tựu quan trọng cả về số lượng và chất
lượng, tạo dựng những thành tựu đó có vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ quản lý và
thầy cô giáo tận tâm, tận lực với nghề. Tuy nhiên Giáo dục – Đào tạo vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
Ở trường trung học phổ thông hiện nay yêu cầu giáo dục toàn diện học sinh là
một yêu cầu bức thiết đang đặt ra cho nhà trường. Việc thực hiện giáo dục toàn diện
học sinh phải thống nhất từ khâu chỉ đạo của Hiệu trưởng cho tới các tổ nhóm
chuyên môn và từng giáo viên, trong đó giáo viên chủ nhiệm lớp đóng vai trò hết
sức quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm lớp là người chủ yếu cùng kết hợp với các
giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên và các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài
nhà trường xây dựng các hoạt động phong trào vừa mang tính giải trí , vừa liên quan
chặt chẽ đến kiến thức các môn học.
Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo
dục học sinh của một lớp học, là người gần gũi thân mật, là người hướng dẫn, chỉ
đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khi các em gặp khó khăn, là người cố vấn tin cậy của
chi đoàn lớp.
Giáo viên chủ nhiệm lớp có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của
lớp chủ nhiệm và tác động đến sự phát triển nhân cách của mỗi học sinh trong tập
thể đó, chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục của lớp mình.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại các trường THPT huyện
An Dương, thành phố Hải Phòng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của
người hiệu trưởng tại các trường trung học phổ thông huyện An Dương, thành phố
Hải Phòng.
5. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
12
- Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông huyện
An Dương, thành phố Hải Phòng như thế nào về nội dung, hình thức và hiệu quả.
- Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường
trung học phổ thông huyện An Dương, thành phố Hải Phòngnhư thế nào về kế
hoạch, chỉ đạo thực hiện, giám sát, đánh giá?
- Biện pháp quản lý nào có thể khắc phục thực trạng để tạo nên thay đổi tích
cực trong quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng?
6. Giả thuyết khoa học
- Hiệu trưởng các trường THPT huyện An Dương, Hải Phòng đã có những
biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp nhưng còn nặng về kinh nghiệm chủ
quan, chưa dựa trên cơ sở khoa học nên hiệu quả còn chưa cao.
- Hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp và chất lượng giáo dục toàn diện học
sinh các trường THPT huyện An Dương, Hải Phòng sẽ được nâng cao nếu Hiệu
trưởng có những biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp một cách khoa học và
phù hợp với thực tế giáo dục của địa phương.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1. Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý công tác
chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông huyện An Dương,
Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu hỏi để khảo sát các đối
tượng: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh trung học phổ thông, cha mẹ học sinh và
một số đối tượng có liên quan.
9.3. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý và phân tích các số liệu từ các
bảng hỏi thu thập được
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề xuất, tài liệu tham khảo và phị lục, luận văn dự
kiến được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ
nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học phổ thông.
Chƣơng 2: Thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ
nhiệm lớp của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông huyện An Dương, Hải
Phòng.
Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu
trưởng trường Trung học phổ thông huyện An Dương, Hải Phòng.
14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi đề cập đến công tác chủ nhiệm lớp đã có nhiều tài liệu, công trình
nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Giáo
dục học 2004 (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết VượngNhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Phương pháp công tác của người giáo viên
chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng(chủ biên)- Nhà xuất
bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ
pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các
trường THPT tỉnh Bắc Ninh – 2005 của Nguyễn Khắc Hiền.
Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cũng được Ban
lãnh đạo Sở GD&ĐT Hải Phòng rất quan tâm, chỉ đạo sát sao với Hội thảo Vai trò
của công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông do Sở GD&ĐT kết hợp với Hội
KH Tâm lý – Giáo dục năm 2006; Hội nghị Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp trường
trung học do Sở GD&ĐT tổ chức tháng 11 năm 2009 đã được hầu hết các trường
phổ thông trong thành phố tham gia rất nhiệt tình với nhiều bài viết, tham luận, báo
cáo của các cấp lãnh đạo các trường và của chính các đồng chí giáo viên trực tiếp
làm công tác chủ nhiệm trình bày như Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường THPT
Thái Phiên của Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi dưỡng
giáo viên chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực của Trần Thị Hương Duyên; Tầm quan
trọng của công tác chủ nhiệm lớp của Trương Thị Yến. Các bài viết trên tác giả đã
nêu được tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, thực trạng công tác chủ
nhiệm lớp, những kinh nghiệm quý báu được đúc kết trong quá trình làm công tác
chủ nhiệm cũng được các tác giả chia sẻ với các đồng nghiệp trong hội nghị, lãnh
đạo các nhà trường cũng đưa ra những biện pháp rất tích cực để chỉ đạo, bồi dưỡng
công tác này đồng thời cũng có những ý kiến đề xuất trình lên các cấp lãnh đạo cao
hơn nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác chủ nhiệm và gửi đến hội nghị cái nhìn toàn
diện đầy đủ của công tác này trong sự nghiệp GD chung của toàn ngành; Gần đây
nhất Sở giáo dục Hải Phòng đã mở lớp tập huấngiáo viên chủ nhiệm lớp với công
16
tác tư vấn tâm lý – giáo dục cho học sinh trung học được tổ chức vào tháng 7 năm
2013. Tuy vậy cũng chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về quản lý công
tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT - Đây là một vấn đề
nghiên cứu khá mới trong giai đoạn hiện nay ở thành phố Hải Phòng.
chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động
của môi trường.
1.2.2.Giáo dục, quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục
mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được
thừa kế, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không nừng tiến lên[38,
tr.9].
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục
cũng được quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục đầu tiên được hình thành. Khoa
học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của quản lý nói chung
nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân.
Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển xã hội.
- Quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội nhằm thực
hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kĩ thuật,
phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Trong thực tế , Quản lý giáo dục là
quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp
tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận
hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra[25, tr.16].
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối, nguyên lý của Đảng, thể hiện tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ; đưa hệ giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [ 29, tr.31].
18
trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục
tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [29, tr.43]
19
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục khác cũng như phát huy tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [38, tr.205]
Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Anh Tuấn đã định
danh: “Quản lý nhà trường là hoạt động chuyên biệt của các chủ thể quản lý(các cơ
quan quản lý giáo dục, người lãnh đạo nhà trường) nhằm tập hợp, tổ chức và phát
huy tối đa sức mạnh các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường, đảm bảo
triển khai các hoạt động giáo dục – dạy học của nhà trường đạt được các mục tiêu
phát triển với chất lượng, hiệu quả cao nhất” [19, tr.10].
Tóm lại: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế
hệ trẻ và với từng học sinh.
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những qui
luật chung của quản lý, đồng thời cũng có nét đặc thù riêng của nó. Quản lý nhà
trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được qui định bởi bản chất sư phạm
của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành
viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động cho bản thân
mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành
trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu xã hội và được xã hội
thừa nhận.
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển
nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công hay
sở phân tích và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ của năm học mới để
suy ra những hướng phát triển cơ bản của nhà trường, trong đó có tính tới nhu cầu
bên ngoài và bên trong của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến
những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá.
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phác thảo các phương án chọn lựa có tính
tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.
Trong QL nhà trường, kế hoạch hoá là một chức năng quan trọng vì trên cơ
sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã có và những khả
năng sẽ có mà xác định rõ các mục tiêu, nội dung hoạt động, biện pháp cần thiết để
chỉ rõ trạng thái mong muốn của nhà trường khi kết thúc các hoạt động.
21
* Chức năng tổ chức:
Cuốn “Cơ sở khoa học QL” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới
hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống QL và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống
lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành)” [13, tr.9].
Xuất phát từ quan điểm trên, trong QLGD, quản lý trường trung học, điều
quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò của mỗi bộ phận, cá
nhân, bảo đảm các mối quan hệ ngược, sự thống nhất và đồng bộ về tổ chức trong
QLGD ở trường trung học.
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống QL trở nên có hiệu quả, cho phép các cá
nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là điều kiện của QL.
Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các
bộ phận trong hệ thống QL. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không
tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả QL.
* Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể QL đến hành vi và thái
độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện quá trình
năng lực thực hiên mục tiêu.
- QL hoạt động của con người bao gồm: Tổ chức các hoạt động và kiểm tra,
đánh giá và điều chỉnh các hoạt động;
Nội dung QLtrên được thực hiện bởi các chức năng QL trong hoạt động.
1.4. Công tác chủ nhiệm lớp
1.4.1.Vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệmlớp
Lớp học là đơn vị cơ bản và là tế bào hữu cơ của mỗi nhà trường. Các hoạt
động giáo dục – dạy học trực tiếp và chủ yếu diễn ra theo đơn vị lớp học. Sự trưởng
thành và phát triển nhân cách mỗi học sinh, cũng như chất lượng giáo dục và sự
phát triển của mỗi nhà trường đều gắn liền với quá trình tổ chức và quản lý lớp học.
Chính vì vậy, xây dựng lớp học trở thành tập thể học sinh vững mạnh là một
nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường phổ thông và người giáo viên chủ nhiệm lớp có
vị trí và vai trò đặc biệt.
GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay
mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh (CMHS) quản lý và chịu
trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức
23
thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.
Với tư cách là người đại diện cho tập thể các nhà sư phạm, giáo viên chủ
nhiệm có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế
hoạch giáo dục của nhà trường tới tập thể và từng học sinh của lớp chủ nhiệm.
Đồng thời, giáo viên chủ nhiệm có khả năng biến những chủ trương, kế hoạch đào
tạo của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi học
sinh.
Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư
phạm có trách nhiệm phản ánh đầy đủ thông tin về lớp chủ nhiệm cũng như từng
thành viên trong tập thể lớp, đề xuất các giải pháp giáo dục học sinh, giúp cán bộ
Giáo viên chủ nhiệm cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của
nhà trường đến với gia đình, cha mẹhọc sinh, đồng thời cũng là người tiếp nhận các
thông tin phản hồi từ học sinh, gia đình học sinh, các dư luận xã hội về học sinh trở
lại với nhà trường để giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp quản lý, phối hợp hiệu
quả, đồng thời tạo lập mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường – gia đình học
sinh – xã hội.
1.4.2. Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp
1.4.2.1. Chức năng quản lý
GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng làm nhiệm vụ quản lý toàn diện học
sinh một lớp học. Để đạt được mục tiêu quản lý một tập thể học sinh, GVCNL phải
thực hiện phối hợp các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
1.4.2.2.Chức năng giáo dục
GVCNL trước hết phải là một nhà giáo dục, thông qua việc tổ chức các hoạt
động của tập thể lớp để giáo dục những phẩm chất, nhân cách của mỗi học sinh.
Qua các hoạt động đa dạng và phong phú, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa học
sinh và học sinh, giữa học sinh với những người khác, hướng vào việc hình thành
cho học sinh những thói quan, hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã
hội.
Từ hai chức năng trên, ta thấy người GVCNL phải đồng thời quản lý hoạt
động học tập và quản lý sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh. Hai mặt này
có quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, việc giáo dục đạo đức có tác động mạnh mẽ
đến chất lượng học văn hóa, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi từng ngày từng
giờ những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội đang đội vào nhà trường.
25