1
I/ TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU –
KÉM MÔN TIẾNG ANH KHỐI 6 TRƯỜNG THCS NGUYỄN KHUYẾN
II/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nền kinh tế thị trường trong giai đoạn mới đang mở cửa, Tiếng Anh từ
lâu được coi là ngôn ngữ giao tiếp quan trọng, càng quan trọng hơn trong xu
hướng hội nhập kinh tế ngày nay bởi học sinh học tốt bộ môn này sẽ có điều
kiện sử dụng ngôn ngữ quốc tế để học tập, giao tiếp, trao đổi thông tin. Người
thầy giáo phải nắm vững phương pháp dạy học một cách vững chắc, vận dụng
linh hoạt các thao tác trong quá trình dạy học. “Mỗi thầy cô giáo phải là tấm
gương sáng về đạo đức, tấm gương sáng về tự học và sáng tạo. Đặc biệt Tiếng
Anh là bộ môn đặc trưng mang những nét đặc thù riêng, học sinh đóng vai trò
rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nhất là việc
giảm thiểu tỉ lệ học sinh yếu kém. Giáo viên Tiếng Anh phải nỗ lực như thế
nào đây để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, thực hiện tốt chuyên đề
“dạy học tích cực” trong công tác dạy học và nâng cao chất lương giáo dục
trong nhà trường năm học 2009-2010 này.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh, bản thân tôi đã
nhiều lần trăn trở làm sao để những học sinh thuộc diện yếu kém có thể biết
đọc, biết viết, biết giao tiếp bằng Tiếng Anh với những tình huống gần gũi
trong cuộc sống. Phải chăng những học sinh này là những học sinh yếu do
không được quan tâm một cách thích đáng, do hoàn cảnh gia đình hay do các
em lêu lỏng dẫn đến mất căn bản, chán nản, không thích học ... Vì vậy trong
phạm vi của chuyên đề tôi xin đưa ra một vài kinh nghiệm của mình về “Một
số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu - kém môn Tiếng Anh khối
6 trường THCS Nguyễn Khuyến”.
III/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết TW 2 khóa VIII tiếp tục khẳng định “Đổi mới phương pháp
giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền đạt một chiều, rèn luyện thành nếp tư
thiết yếu như từ điển, băng hình, đài cát xét, máy vi tính. Về chương trình
SGK, chương trình có sự tích hợp, liên thông với các môn văn hóa khác, đòi
hỏi học sinh phải có một trình độ văn hóa nhất định mới đáp ứng được yêu cầu.
Vì vậy, nhiều học sinh không kham nổi chương trình, nhất là những học sinh
3
vùng nông thôn, vùng khó khăn... Mặt khác, học sinh phải học quá nhiều môn,
rồi còn học thêm, do vậy mà thời gian dành cho môn Ngoại ngữ càng bị san sẻ.
2. Thực tế của giáo viên trong cách hướng dẫn học sinh yếu, kém học
Tiếng Anh
Trong những năm thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và
phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh, giáo viên chỉ chú trọng đến việc đổi
mới trong tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, hoàn thiện các bước dạy
theo hướng đổi mới chứ chưa thật sự chú trọng hướng dẫn cách học và thực
hành cho đối tượng học sinh yếu kém. Giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ hướng
dẫn còn chung chung với tất cả các đối tượng học sinh. Qua thực tế giảng dạy
lớp 6 nhiều năm, tôi nhận thấy rằng, đối với học sinh lớp 6 chất lượng học sinh
yếu, kém rất cao. Các em không biết cách học cũng như việc chuẩn bị bài ở
nhà, thậm chí nhìn lên bảng các em viết lại vào vở cũng bị sai, chữ đan dính
vào nhau không phân biệt được...
Do lớp 6 không được khảo sát chất lượng môn Anh đầu năm, nên sau khi
dạy được 3 tuần tôi đã cho các em học sinh làm một bài khảo sát về những kiến
thức đơn giản và kết quả thu được như sau:
Lớp
6/1
6/2
6/3
các em không khí nhẹ nhàng thoải mái khi hoạt động nhóm, hoạt động cặp.Với
những em có vẻ nhút nhát, chưa tự tin khi hoạt động tập thể , ngại nói tiếng
Anh, sợ nói ra bị sai, tôi hỏi học sinh bằng những câu hỏi dễ nhất để khuyến
khích và động viên các em.
Ví dụ:
- Gọi những học sinh này khi muốn kiểm tra nghĩa Tiếng Việt của từ đã học
- Nhắc lại từ, cụm từ hay câu mà các bạn hay cô giáo vừa mới nói xong.
- Gọi học sinh sửa những lỗi đơn giản.
Người giáo viên phải đặt cái “tâm” lên trên hết, bởi chỉ giỏi về chuyên
môn thôi chưa đủ mà phải có đức như câu nói của Bác Hồ “Người có tài mà
không có đức là người vô dụng”. Do đó người giáo viên lên lớp phải nắm được
đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, hết sức nhẹ nhàng, bình tĩnh, coi học sinh
như là người con, người em trong gia đình, tôi luôn dành tình cảm cho học sinh
đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để các em hiểu rằng các em
được chia sẽ và cảm thông, giúp các em tránh xa sự mặc cảm từ đó không
ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập.
2. Hướng dẫn học sinh yếu, kém cách học từ vựng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém. Người giáo viên phải
tìm hiểu hoàn cảnh về mỗi học sinh của mình. Có em xuất thân từ gia đình
hạnh phúc được ba mẹ yêu thương, đầy đủ vật chất và tinh thần, có em xuất
thân từ gia đình không hạnh phúc, bố mẹ bất hoà, mỗi người một nơi, có em ở
với bố, có em ở với mẹ, thậm chí có em ở với ông bà nội , ngoại... Những em
này có phần thiệt thòi về bản thân nên việc học có phần hạn chế.Vì vậy việc
nghiên cứu hồ sơ , lý lịch của học sinh, việc trao đổi trực tiếp với học sinh... là
việc làm cần thiết để có những thông tin về học sinh của mình để mà có những
kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy ở lớp và những bí quyết giúp đỡ các em
học tập tốt hơn ở bộ môn Anh này. Ngoài ra các em không biết cách học từ
vựng Tiếng Anh ở nhà, cách soạn bài cũng như viết bài vào vở học... Sau khi
tìm hiểu được một số nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu, kém tôi đã từng bước
nhiệm vụ kiểm tra, truy bài vào 15 phút đầu giờ các em học sinh yếu, kém,
ngoài việc kiểm tra thói quen học tập viết từ vựng, các em còn giúp đỡ bạn biết
cách phát âm cho đúng những từ mà cô đã dạy trên lớp, em nào không tập viết
từ vựng hoặc tập viết còn sơ sài thì tôi trừ điểm thi đua lớp đó, hoặc trừ điểm
6
thi đua cá nhân, và nhiều lần vi phạm tôi sẽ mời phụ huynh nhắc nhở động
viên để các em phải hình thành được thói quen học tập tốt ở nhà. Và cũng phối
kết hợp với tất cả giáo viên chủ nhiệm thường xuyên đôn đốc các em học tập
tốt hơn bộ môn này. Kết quả tôi rất phấn khởi là hầu hết các em đều biết cách
học Tiếng Anh, vốn từ vựng cũng tăng lên đáng kể, đặc biệt hầu hết là 100%
học sinh đều có riêng cho mình cuốn vở nháp Tiếng Anh.
3. Hưóng dẫn cách viết bài vào vở học
Ngay từ đầu năm tôi boăn khoăn là làm sao cho học sinh lớp 6 được viết
đúng bài môn Tiếng Anh vào vở . Đa số các em đều không biết viết, mỗi khi
tôi kiểm tra bài hay xuống lớp nhìn các em viết là tôi đọc không được từ vựng
hay cấu trúc câu, vì các em viết đan xen dính vào nhau hoặc lại tách ra quá xa.
Ví dụ: Từ “walk” thì các em lại viết là “w a l k”
Câu “ I stay at home” thì các em lại viết là “Istay athome”
Hầu hết các học sinh yếu kém trường tôi đều chưa biết cách ghi bài vào vở
ở đầu năm học. Vì vậy hơn ai hết người giáo viên trực tiếp giảng dạy phải biết
được điều này mà kịp thời hướng dẫn cho các em cách viết bài. Trong quá trình
dạy trên lớp tôi đã hết sức cẩn thận khi viết từ hoặc câu tiếng Anh trên bảng
thật rõ ràng, chính xác và trong khi viết tôi luôn luôn nhấn mạnh và lặp lại
cho các em học sinh yếu, kém phải tập trung kỹ khi viết vào vở, thậm chí tôi
còn gạch chân vào một số từ vựng nhiều vần như: “expensive”,
“dangerous” ... mục đích để cho các em tập trung viết vào vở cho chính xác,
có như vậy các em mới học từ cho đúng được. Tuy nhiên đến đầu học kỳ II học
yếu kém. Bởi lẽ đối tượng này sẽ làm “ cháy” giáo án nếu chúng ta không biết
vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp tổ chức hoạt động trong lớp
cho các em.
Trong khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức bài học, ngoài việc kết
hợp nhuần nhuyễn các đối tượng học sinh tôi còn đặc biệt chú ý đến sự tiếp thu
của đối tượng học sinh yếu kém bằng cách nhấn mạnh, nói chậm rãi hay
nhắc lại kiến thức cần lưu ý để các em này dễ hiểu bài hơn.
Khi sử dụng đồ dùng dạy học, tôi dùng tranh trái cây, đồ vật, con vật… để
học sinh đọc lên từ tiếng Anh. Ngoài tranh ảnh, cards, posters, băng, ... tôi còn
hướng dẫn cho các em làm một bảng phụ cá nhân. Chỉ bằng một tờ lịch hay
một tấm bìa cũ có bao giấy trong ở ngoài, bài học sẽ trở nên rất hứng thú thông
qua các trò chơi như “Bingo”, “Guessing”; hoặc tôi tổ chức cho các em làm bài
tập trắc nghiệm qua trò chơi “Rung chuông vàng” mà các em thường hay xem
8
ở trên truyền hình. Bằng cách đó sẽ lôi cuốn được tất cả các đối tượng học sinh,
đặc biệt là những em hằng ngày thường tỏ ra nhút nhát cũng tham gia rất sôi
nổi. Nói chung trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải
có kế hoạch dạy học cho những học sinh yếu, kém.
6. Nâng cao ý thức, hứng thú cho học sinh yếu kém:
Tôi nghĩ rằng, để cho học sinh học tốt hơn nữa, điều quan trọng là các
em phải có ý thức, hứng thú trong học tập, để cho các em cảm thấy rằng: “Mỗi
ngày đến trường là một ngày vui”. Chính vì vậy, ngay từ đầu tôi đã nghĩ đến
việc xây dựng cho các em có hứng thú học tập cũng như ý thức được việc học
tập của mình.
Trước hết, qua bộ môn mình giảng dạy, phần nào tôi đã tạo được hứng
thú học tập cho các em. Trong các tiết học tôi luôn tạo không khí cởi mở, vui
vẽ để xoá đi khoảng cách giữa giáo viên và học sinh chỉ còn lại tình cảm “cô,
(có em nói là hình thức so sánh hơn nhất.)
? Tại sao em biết đó là hình thức so sánh hơn.
- Có sử dụng “than” ở trong câu.
? Thế thì hình thức so sánh nhất có đúng không
- Không đúng.
GV khẳng định điểm ngữ pháp của câu trên là so sánh hơn nhờ có “than”
ở trong câu.
Em hãy nói cấu tạo hình thức so sánh hơn “good” - “better”.
Đáp án của câu trên sẽ là:
Fruit is better than candy.
* Những bài dạy minh họa
Với mỗi dạng bài tập tôi hướng dẫn học sinh làm bài trình tự theo các
bước:
* Ví dụ:
- Tôi ra dạng bài tập: Multiple choice.
1. This is..........new classmate.
( a. we
b. us
c. our)
2. .........name is Hoa.
(a. she
(a. lives
6. Hoa has .........of friends in Hue. (a. some
Tôi hướng dẫn các em đọc đáp án và tập trung vào từ loại mà đáp án đề
cập đến.
+ Câu 1, 2 đều có đáp án là đại từ chủ ngữ. đại từ túc từ. tính từ và đại từ sỡ hữu.
10
+ Câu 3, 4 đều có đáp án là giới từ.
+ Câu 5 đáp án liên quan đến dạng của động từ.
+ Câu 6 đáp án là các tính từ số lượng.
• Gợi ý để học sinh làm mẫu:
• câu 1: chổ trống này các em có cần chủ ngữ không? Không. Chủ ngữ
của câu là “This”
• Vậy trước một cụm danh từ là từ loại gì thường được dùng – Tính từ.
(sẽ có em trả lời là túc từ)
• Cô giáo cần phải khẳng định ngay là dùng Tính từ.
Các em hãy xác định đáp án của câu.
- Giáo viên có thể nhận được là cả ba đáp án. Việc các em quên từ loại về
đại từ chủ từ, túc từ, và tính từ sở hữu là dễ nhận thấy. Vì vây tôi đã chuẩn bị
một Poster với các từ loại này và cấu trúc câu có sử dụng chúng.
S + V + O/ S + V + adj +N/ S + be + adj
Đại từ chủ ngữ
I
He
She
We
mình bằng cách chấm chéo bài với đáp án giáo viên đã chuẩn bị trước:
1c, 2b, 3b, 4a, 5c, 6b. Làm như thế học sinh không những hứng thú hơn
mỗi khi làm bài tập mà còn cảm thấy tự tin hơn khi được giáo viên giao nhiệm
vụ.
11
8. Kết hợp với phụ huynh học sinh
Trong hội nghị phụ huynh học sinh, chúng ta cũng cần thống nhất với phụ
huynh các biện pháp giáo dục học sinh ở trong và ngoài nhà trường. nói rõ cho
phụ huynh hiểu, thời gian học sinh ở trường chỉ khoảng 4 tiếng, thời gian chủ
yếu là ở nhà, vì vậy vần đề tự học là vô cùng quan trọng, . Cả gia đình, nhà
trường và xã hội phải chia sẻ trách nhiệm trong công tác khắc phục tình trạng
học sinh yếu kém.
VI/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện biện pháp này, tôi đã rất thành công vì đa số học
sinh ý thức được việc tự học, học sinh yếu, kém cũng tiến bộ một cách rõ rệt và
tôi đã thu được kết quả khả quan như sau:
* Trung bình học kỳ I:
Lớp
6/1
6/2
6/3
Số HS
40
40
42
VIII/ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
1. Phòng giáo dục tổ chức buổi hội thảo chuyên đề về «khắc phục học
sinh yếu, kém».
2. Phòng giáo dục cần tổ chức các câu lạc bộ giao tiếp Tiếng anh trong
học sinh, những cuộc thi kể chuyện bằng Tiếng anh để tất cả các trường được
tham gia.
3. Thư viện trường bổ sung thêm truyện tranh, truyện cười bằng Tiếng
Anh giúp các em giải trí, gây hứng thú hơn trong học tập.
IX/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Qua thực tiễn giảng dạy
- Học tập chuyên môn tại các trường, cụm do phòng tổ chức
- Tạp chí thế giới trong ta số 74-75 năm 2008 Hội khoa học tâm lý giáo
dục Việt nam.
13
- Lý luận giáo dục- Th.s Nguyễn Thị Cúc( Khoa sư phạm trường ĐH An
Giang năm 2008)
X/ MỤC LỤC
I. Tên đề tài..............................................................................................1
II. Đặt vấn đề............................................................................................1
III. Cơ sở lý luận.......................................................................................2
IV. Cơ sở thực tiễn....................................................................................2
14
(Ký, ghi rõ họ tên)
Chủ tịch HĐKH
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
............................................
............................................
II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT Tam Kỳ
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT Tam Kỳ thống
nhất xếp loại:.....................................................................
Những người thẩm định:
(Ký, ghi rõ họ tên)
Chủ tịch HĐKH
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
........................................
..............................................
III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam
Những người thẩm định:
(Ký, ghi rõ họ tên)
.....................................
Chủ tịch HĐKH
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
.....................................