Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
Lời nói đầu
Hoạt động ngân hàng giữ vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Đi đôi với sự đổi mới của nền kinh tế, ngân hàng góp phần tích cực
vào công cuộc đổi mới của đất nớc, đặc biệt là trong mấy năm gần đây khi
nền kinh tế nớc ta đã phát triển và tăng trởng với tốc độ nhanh. Trên thực tế,
vấn đề đảm bảo an toàn vốn tín dụng hiện nay đang là một vấn đề nan giải,
yêu cầu cần phải đợc mở rộng và lành mạnh hoá. Trớc hết phải hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý, củng cố môi trờng và từng bớc đa các hoạt động của
ngân hàng vào an toàn và hiệu quả trên thị trờng tài chính. Do đó, việc nghiên
cứu vấn đề đảm bảo an toàn vốn tín dụng của các Ngân hàng Thơng mại có ý
nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Với mục tiêu nghiên cứu để tăng cờng khả năng đảm bảo an toàn vốn
tín dụng, giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàng Thơng mại
ở nớc ta hiện nay thì phải quan tâm đến việc xây dựng các cơ chế, chính sách,
các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tín dụng của các Ngân hàng Thơng mại.
Để đạt đợc mục tiêu nghiên cứu trên, phơng pháp nghiên cứu đợc sử
dụng trong chuyên đề là phép duy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sử
để xem xét các vấn đề một cách lôgic. Trong quá trình nghiên cứu, vấn đề
đảm bảo an toàn vốn tín dụng đợc đặt trong mối quan hệ tổng thể với các vấn
đề khác trong mối hoạt động của ngân hàng. Vấn đề đợc đề cập từ vĩ mô nh
quy chế, chính sách đến các vấn đề vi mô nh tìm giải pháp bảo đảm an toàn
vốn tín dụng trong hoạt động của ngân hàng đó.
Với mục đích và phơng pháp nghiên cứu trên cộng với thời gian thực
tập tại chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ cùng với những kiến thức đã học ở
trờng và đợc sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của tập thể cán bộ và nhân viên
ngân hàng và cô Vũ Thanh Hà, chuyên đề đợc mang tên Giải pháp nâng
cao chất lợng đảm bảo an toàn vốn tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng đợc hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau ; ngay cả trong quan hệ tài chính , tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà
thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng . Trong quan hệ tài chính , tín dụng
đợc hiểu theo các nghĩa sau:
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng d tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đợc coi là phơng pháp chuyển
dịch quỹ từ ngời cho vay sang ngời đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể , tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể . Nh một công ty công nghiệp hoặc th-
ơng mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trờng hợp này ngời
bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo
thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán . Phổ biến hơn cả là giao dịch
giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá
nhân thể hiện dới hình thức cho vay tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi
vay và sau một thời hạn nhất định ngời đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng .
Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật
ngữ cho vay .Ví dụ : tín dụng ngắn hạn (Short-term Credit) đồng nghĩa với
cho vay ngắn hạn ( Short term loans); hoặc nh từ tín dụng tuần hoàn
( revolving credit) là một loại cho vay cụ thể.
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín
dụng đợc hiểu nh sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng hoá) giữa
bên cho vay ( ngân hàng và các thể chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá
nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao
= Lãi suất danh nghĩa tỉ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh h ởng
của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số trờng hợp cụ thể lãi suất danh
nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn
ngắn .
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay đợc cấp trên cơ sở
cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định
quan hệ tín dụng nh hợp đồng tín dụng, khế ớc thực chất là lệnh phiếu
( promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên
cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2. rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Rủi ro tín dụng đợc định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có đơc tạo ra
khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng
không đợc trả nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng
cấp cho họ . Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại
từ các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể không đợc hoàn trả đầy đủ
xét cả về mặt số lợng và thời hạn . Các ngân hàng sẽ không bị đe dọa bởi rủi
ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại đợc cả gốc và lãi của các khoản vay đúng
thời hạn, ngợc lại nếu ngời vay gặp khó khăn tài chính , thì cả gốc và lãi
khoản vay bị đặt trong tình trạng không thu hồi đợc . Trong đIều kiện bình th-
ờng , phần lớn các tài sản tài chính do các doanh nghiệp phát hành và đợc đầu
t bởi các ngân hàng đều đợc đảm bảo với mức xác suất cao , lãi thu đợc thờng
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
dới dạng lãi suất cố định . Nhng khi có rủi ro ,mặc dù xảy ra với xác suất thấp
, mức vốn co thể mất lại không có giới hạn . Có thể lấy các trái phiếu có
phiếu lĩnh lãi cố định do các doanh nghiệp phát hành và các khoản cho vay
của ngân hàng để minh chứng cho mâu thuẫn giữa thu nhập và rủi ro tín dụng
. Trong cả hai trờng hợp , nếu không có rủi ro , nguồn thu nhập của ngân hàng
trong quá trình vận hành của mình.
Nh vậy có thể nói rằng:
Bảo đảm an toàn vốn tín dụng là việc thiết lập những cơ sở pháp lý để
có thêm nguồn thu nợ thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất trong quan hệ tín
dụng của khách hàng với ngân hàng.
Nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh là
doanh thu đối với cho vay vốn lu động hoặc là khấu hao và lợi nhuận đối với
cho vay trung và dài hạn để hình thành tài sản cố định; trong hoạt động cho
vay nguồn này lại là thu nhập của cá nhân nh tiền lơng, các khoản thu nhập
tài chính ( lãi cho vay, lãi các chứng khoán, ) và các thu nhập khác.
Nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng đợc thiết lập để nhằm mục đích
bảo đảm an toàn vốn tín dụng, đề phòng trờng hợp nguồn thu nợ thứ nhất
không có khả năng thu hồi đợc.
1.2.2. Vai trò của bảo đảm an toàn vốn tín dụng.
Trên thực tế, ở nớc ta hiện nay do nền kinh tế mới chuyển sang cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần, các công ty nớc ngoài vào nớc ta ngày càng nhiều,
các công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn cũng ngày một gia tăng
và không phải công ty nào cũng có đủ vốn để thực hiện công việc kinh doanh
của mình. Do vậy, ngân hàng sẽ là ngời hỗ trợ một phần vốn rất quan trọng
cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này. Để thực hiện cho vay có
hiệu quả và an toàn thì ngân hàng tiến hành các nghiệp vụ cho vay dới nhiều
hình thức có thể có tài sản làm đảm bảo hoặc không có tài sản làm đảm bảo
miễn là đảm bảo an toàn nguồn vốn của ngân hàng và tỷ lệ rủi ro xảy đến với
ngân hàng ở mức thấp nhất. Trong một vài năm trở lại đây, trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng ở nớc ta đã xuất hiện một số cá nhân dùng giấy tờ sở
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
hữu giả về tài sản làm phơng tiện cầm cố - thế chấp giao cho ngân hàng để
HàNG
chuẩn duy nhất trong xét duyệt cho vay. Chính t duy này đã dẫn đến xuất hiện
hàng loạt các rủi ro trong cho vay của ngân hàng, bởi vì trên thực tế tại các
ngân hàng nghiệp vụ cho vay truyền thống vẫn là cho vay từng lần và đối với
từng món vay cụ thể ngân hàng lại yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm
bảo cho khoản vay đó và đôi khi xuất hiện tình trạng một ngời vay vốn phải
làm mấy hợp đồng tín dụng. Mỗi hợp đồng tín dụng lại yêu cầu phải có tài sản
đảm bảo cho khoản vay đó thì khách hàng lấy đâu ra tài sản đảm bảo, trong
khi trên thực tế tài sản đảm bảo cho việc vay vốn lại thờng chỉ có đất đai và
nhà cửa. Do đó, để có thể vay đợc vốn khách hàng rất có thể làm giấy tờ giả
mạo về đất đai, nhà cửa để đảm bảo cho khoản vay đối với ngân hàng. Và qua
một số lần vay có uy tín với ngân hàng, ngân hàng có thể xem nhẹ việc thẩm
tra lại khách hàng thì rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng là điều khó tránh
khỏi. Vậy nên, nếu xếp đảm bảo tín dụng là tiêu chuẩn duy nhất trong việc ra
quyết định cho vay thì cũng có nghĩa là ngân hàng hoạt động trong trạng thái
không an toàn, nguy cơ mất vốn rất có thể xảy ra. Vì vậy, không nên coi đảm
bảo an toàn vốn tín dụng là tiêu chuẩn duy nhất trong cho vay mà chỉ nên coi
nó là một sự đảm bảo cần thiết cho khoản vay, là một trong hàng loạt những
điều kiện đảm bảo cho khoản tín dụng của ngân hàng đợc lành mạnh.
Trong nền kinh tế thị trờng, các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa
dạng và phức tạp, do đó mọi dự đoán rủi ro của nhà ngân hàng chỉ mang tính
chất tơng đối. Trong môi trờng kinh doanh nh vậy, đảm bảo tín dụng đợc coi
là tiêu chuẩn bổ sung cho những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng, cũng
nh phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trờng kinh doanh.
Đảm bảo tín dụng là cơ sở để ngân hàng thu hồi nợ một cách chắc chắn
và góp phần giảm thiểu rủi ro trong cho vay của ngân hàng bởi vì với mỗi
khoản vay khi cho vay ngân hàng đều yêu cầu khách hàng phải có tài sản hay
một cơ sở xác định nào đó làm đảm bảo cho khoản vay. Khách hàng có thể
dùng tài sản cầm cố, thế chấp hay sự bảo lãnh của bên thứ ba hoặc có thể là
lấy uy tín của mình để làm đảm bảo cho khoản vay tại ngân hàng. Khi đến
hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nớc khác trên
thế giới. Cụ thể:
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
* Hệ số an toàn vốn tối thiểu: là chỉ số dùng để đánh giá và giám sát
khả năng chi trả của ngân hàng xem ngân hàng có hoạt động trong sự an toàn
cho phép hay không?
Hệ số an toàn vốn tối thiểu đợc ký hiệu là: Hcooke và đợc xác định
bằng công thức:
Hcooke = ( Vốn tự có / Tài sản có rủi ro chuyển đổi ) x 100
Về cơ bản quản lý theo hệ số Cooke đợc Ngân hàng trung ơng nhiều n-
ớc ủng hộ và đa vào sử dụng. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình cụ thể của mỗi n-
ớc mà có sự khác nhau về hệ số an toàn vốn tối thiểu này, đặc biệt là tỷ lệ rủi
ro chuyển đổi cho mỗi loại tài sản. Tỷ lệ rủi ro đợc đánh giá từ 0% cho đến
100% tuỳ vào mức độ rủi ro của từng loại tài sản. Tỷ lệ rủi ro của từng loại tài
sản đợc đánh giá khác nhau ở mỗi nớc, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã
hội cụ thể.
Hệ số Cooke đợc tính toán theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản, do
đó nó phản ánh chính xác mức độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng và
phản ánh cụ thể mức độ thanh khoản của ngân hàng là cao hay thấp.
* Mức dự trữ bắt buộc.
Các ngân hàng thơng mại thực hiện dự trữ bắt buộc nhằm mục đích
thực hiện chính sách tiền tệ, kiểm soát mức cung tiền tệ của ngân hàng, đáp
ứng vốn phù hợp với mục tiêu kinh doanh của ngân hàng.
Mức dự trữ bắt buộc theo quy định đợc tính: = Vốn huy động ngắn hạn
x % dự trữ theo quy định.
ở Việt Nam mức dự trữ theo quy định đối với các ngân hàng thơng mại
là 5%, đối với Quỹ tín dụng nhân dân là 1%. Trong nguồn vốn huy động của
này đợc phép tối đa là 3% và các ngân hàng cố gắng phấn đấu để tỷ lệ này
càng thấp càng tốt.
Nợ quá hạn tại một ngân hàng có thể đợc đánh giá theo các cách sau:
- Theo loại cho vay.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
+ Cho vay ngắn hạn = ( Nợ quá hạn ngắn hạn / Tổng d nợ ngắn
hạn)x100.
+ Cho vay trung và dài hạn = ( Nợ quá hạn trung và dài hạn / Tổng d nợ
trung và dài hạn )x100.
- Theo thành phần kinh tế.
+Cho vay kinh tế quốc doanh = ( Nợ quá hạn của kinh tế quốc doanh /
Tổng d nợ kinh tế quốc doanh )x100.
+ Cho vay kinh tế ngoài quốc doanh = ( Nợ quá hạn của kinh tế ngoài
quốc doanh / Tổng d nợ kinh tế ngoài quốc doanh )x100.
Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thì chứng tỏ chất lợng tín
dụng của ngân hàng đó càng cao.
* Cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng.
Cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng đợc đánh giá chủ yếu qua cơ cấu
cho vay của ngân hàng. Và để đánh giá chính xác cơ cấu cho vay của ngân
hàng có hợp lý hay không các ngân hàng phải căn cứ vào thực trạng của địa
phơng đó để đánh giá. Phơng pháp xác định cơ cấu cho vay đợc xét theo:
- Thành phần kinh tế.
+ Đối với kinh tế quốc doanh = ( D nợ kinh tế quốc doanh / Tổng d
nợ )x100.
+ Đối với kinh tế ngoài quốc doanh = ( D nợ kinh tế ngoài quốc
doanh / Tổng d nợ )x100.
Loại cho vay.
* Tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung và dài hạn.
Trên thực tế, nguồn vốn ngắn hạn của các ngân hàng thơng mại ở Việt
Nam chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn và các ngân hàng này đợc phép sử dụng
một tỷ lệ nhất định nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.
- Đối với các ngân hàng thơng mại: tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để
cho vay trung và dài hạn tối đa là 25%.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
- Đối với ngân hàng thơng mại cổ phần: tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn
dùng để cho vay trung và dài hạn tối đa là 20%.
- Đối với các tổ chức tín dụng: tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho
vay trung và dài hạn tối đa là 10%.
* D nợ cho vay đối với một khách hàng không đợc quá 15% vốn tự có.
Nguyên tắc này đảm bảo ngân hàng không đầu t quá nhiều vốn vào một
khách hàng, hạn chế rủi ro xảy ra khi khách hàng không thanh toán đợc nợ.
* Mức bảo lãnh cho một khách hàng không quá 15% vốn tự có của
ngân hàng.
* Tỷ lệ d nợ cho vay so với tiền gửi tối đa là 80%.
* Mức tăng trởng tín dụng: phản ánh chính xác kết quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng trong từng năm, từng quý, từng tháng, từng loại tín
dụng khác nhau. Trong đó:
Mức tăng trởng tín dụng nói chung đợc tính = ( Tổng d nợ cho vay
tăng( giảm) trong năm / Tổng d nợ năm trớc )x100.
Mức tăng trởng từng loại tín dụng xét theo thời gian đợc tính = ( Số d
từng loại cho vay tăng ( giảm ) trong năm / Tổng d nợ cùng loại năm trớc )
x100
Các chỉ tiêu về đảm bảo an toàn vốn tín dụng là yếu tố rất quan trọng
giúp các ngân hàng xác định đợc giới hạn cho phép để ngân hàng kinh doanh
Không phải tất cả những động sản và bất động sản đều đợc ngân hàng chấp
nhận là tài sản đảm bảo tín dụng, mà ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản
có tính thị trờng cao, đồng thời có tính ổn định tơng đối về giá cả. Mặt khác,
việc chấp nhận một tài sản làm đảm bảo tín dụng còn phụ thuộc vào năng lực
quản trị và đội ngũ nhân sự của một ngân hàng, chính vì vậy mà tài sản đảm
bảo tín dụng cũng có sự khác nhau về chủng loại giữa các ngân hàng và các
ngân hàng thờng quy định loại tài sản đảm bảo trong chính sách tín dụng của
mình.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
Tài sản đảm bảo đợc chia làm hai loại: đảm bảo hữu hình và đảm bảo
vô hình.
Đảm bảo hữu hình: là những tài sản hữu hình mang tính vật chất thuộc
sở hữu của khách hàng vay vốn.
Tài sản đảm bảo hữu hình gồm các loại sau: bất động sản, hàng hoá,
vàng và kim loại quý khác, các khoản tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,
kì phiếu, bảo lãnh có đảm bảo hữu hình và các loại khác.
Tài sản đảm bảo vô hình là những tài sản phi vật chất do ngân hàng
cầm giữ.
Tài sản đảm bảo vô hình nh : bảo lãnh không có đảm bảo, chuyển nh-
ợng khoản thu của khách hàng đi vay, uỷ thác những hàng hoá hay những tài
sản khác nhng nằm ngoài phạm vi kiểm soát của ngân hàng, th xác nhận, th
cam kết.
* Tài sản đợc dùng làm đảm bảo cho những khoản tín dụng tại ngân
hàng phải có các điều kiện sau:
- Tài sản đảm bảo phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng
vay vốn. Tài sản này có thể do khách hàng vay vốn chiếm hữu và sử dụng
hoặc có thể giao cho một ngời khác chiếm hữu và sử dụng. Nh vậy, tài sản
tuân thủ hai nguyên tắc sau:
Mức tín dụng đợc cấp phải nhỏ hơn giá thị trờng của tài sản đảm bảo
( Tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp và 80% giá trị tài sản cầm cố ). Đối
với những tài sản ít biến động về giá cả thì tỷ trọng cho vay có thể cao hơn so
với giá của tài sản, ngợc lại với những tài sản có giá cả biến động cao thì tỷ lệ
cho vay sẽ thấp hơn giá của tài sản.
Phải điều chỉnh tín dụng theo mức giảm giá của tài sản.
Trong cho vay trung và dài hạn, d nợ tín dụng thờng xuyên phải điều
chỉnh theo mức giảm giá của tài sản. Hàng năm, ngân hàng phải đánh giá lại
tài sản thế chấp để điều chỉnh tín dụng, nếu giá trị tài sản thế chấp giảm
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
xuống ngân hàng tiến hành thu nợ phần tín dụng vợt tài sản thế chấp hoặc
khách hàng phải bổ sung tài sản đảm bảo phần còn thiếu.
Đây là những việc làm vừa thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cán
bộ tín dụng vừa phòng ngừa đợc các rủi ro xảy ra sau này.
1.3.1.2. Các phơng thức đảm bảo đối vật.
a. Thế chấp:
* Khái niệm.
Thế chấp là hình thức đảm bảo tín dụng mà trong đó ngời vay( bên thế
chấp ) dùng các tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của
mình để đảm bảo cho các khoản nợ ở ngân hàng ( bên nhận thế chấp ).
Hay thế chấp còn đợc hiểu là phơng tiện chuyển dịch quyền lợi về tài
sản của con nợ sang cho chủ nợ với mục đích làm đảm bảo cho món nợ hoặc
miễn trừ một nghĩa vụ nào đó .
Hành vi thế chấp của con nợ đợc coi là hết hiệu lực khi món nợ đã đợc
thanh toán hoặc nghĩa vụ đã đợc thực hiện đầy đủ với chủ nợ.
* Tài sản đợc dùng làm thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng phải có
cần phải xem xét thông qua các hồ sơ hành chính để xác định tài sản mà
khách hàng dùng làm thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng có thuộc quyền
sở hữu của họ hay không?, tài sản đó có đợc phép thế chấp theo pháp luật hiện
hành không?. Ngoài ra, ngân hàng cần phải xem xét xem bất động sản đó có
nằm ở vị trí bán đợc hay không?. Cần lu ý rằng bất động sản nằm trong khu
vực quy hoạch là một vấn đề hết sức phức tạp trong việc phát mại tài sản nếu
khách hàng không trả đợc nợ.
+ Định giá tài sản thế chấp: phải sát với giá thị trờng, nếu định giá cao
hơn giá thị trờng sẽ có nguy cơ bán tài sản không thu hồi đủ nợ gốc và lãi
trong trờng hợp khách hàng không thanh toán đợc nợ khi đến hạn. Nếu định
giá thấp hơn giá thị trờng, sẽ ảnh hởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho
khách hàng, ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
của ngân hàng, ảnh hởng đến việc bố trí nhân sự trong việc định giá tài sản
của ngân hàng.
Pháp luật hiện hành đã cho phép bên thế chấp và bên nhận thế chấp có
quyền tự thoả thuận, định giá tài sản thế chấp trên cơ sở giá cả của thị trờng
tại địa phơng ở thời điểm thế chấp có tính đến các yếu tố tác động tăng hoặc
giảm giá ở thời điểm chấm dứt hợp đồng thế chấp. Định giá tài sản là một vấn
đề hết sức phức tạp, do đó cần phải chuyên môn hoá, ngân hàng cần phải
phân công cho một số cá nhân chuyên làm công tác định giá tài sản, có nh
vậy việc định giá mới chính xác. Đối với những tài sản lớn, phức tạp cần thiết
phải thuê các công ty chuyên về định giá tài sản để làm công việc này.
Trên thực tế, vì tài sản thế chấp rất đa dạng và phong phú nên cán bộ
ngân hàng không thể đủ khả năng và trình độ chuyên môn để định giá đợc tất
cả các loại tài sản thế chấp. Đối với tài sản thế chấp ( chủ yếu là nhà cửa và
quyền sử dụng đất ) thì dù thuê cơ quan thứ ba định giá hay tự các bên trực
chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thế
chấp và quy định của pháp luật mà thực hiện các thủ tục về hành chính thích
hợp nh xác nhận của cơ quan công chứng và đăng ký với cơ quan quản lý tài
sản thích hợp.
Theo quy định của pháp luật hiện hành ( pháp lệnh về hợp đồng dân sự
và các quy định khác ) giấy thế chấp tài sản phải có xác nhận của cơ quan
công chứng.
Hiện nay, bằng những thủ đoạn mới khá tinh vi một số đối tợng đã sử
dụng giấy tờ giả để làm thủ tục thế chấp vay vốn. Do vậy, ngân hàng trong
nhiều trờng hợp khó có thể phát hiện đợc giấy tờ sở hữu giả. Để biết đợc giấy
tờ sở hữu là giả hay thật, ngân hàng có thể xác minh thông qua các cơ quan
đã cấp hoặc phát giấy tờ đó. Chẳng hạn, đối với nhà đất, có thể xác minh tại
Sở Nhà đất và Sở Địa chính, đối với các giấy tờ có giá khác thì ngân hàng có
thể xác minh qua Ngân hàng Nhà nớc hoặc Kho bạc Nhà nớc nơi đã phát
hành các giấy tờ có giá đó ... Ngân hàng cũng có thể đề nghị các cơ quan đã
cấp hoặc phát những giấy tờ sở hữu về tài sản thế chấp xác nhận bằng văn bản
về nguồn gốc của các giấy tờ mà mình sẽ nắm giữ để cấp vốn cho vay.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
Trong thời gian qua, khi làm thủ tục thế chấp cho vay vốn một vài ngân
hàng đã nhận phải giấy tờ sở hữu giả về tài sản thế chấp mà không biết, chỉ
đến khi bên thế chấp không trả đợc nợ khi đến hạn và ngân hàng phải phát
mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì ngân hàng mới biết giấy tờ sở hữu về tài
sản thế chấp mà ngân hàng đang lu giữ đều là giấy tờ giả. Do đó, trớc khi ký
kết hợp đồng thế chấp, cán bộ ngân hàng cần hiểu rõ các quy định của pháp
luật về thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp để trên cơ sở đó thiết lập đợc
một hợp đồng thế chấp đúng đắn về cả nội dung và hình thức.
Giải toả tài sản thế chấp và trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài
ời đại diện hợp pháp của pháp nhân.
- Thể nhân hoặc pháp nhân đứng ra bảo lãnh phải có đủ năng lực về tài
chính để thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
- Uy tín của ngời bảo lãnh cũng là vấn đề ngân hàng cần quan tâm khi
xét duyệt một bảo lãnh.
Bên cạnh đó ngân hàng cần lu ý đến một số vấn đề sau:
+ Năng lực tài chính của cổ đông bảo lãnh cho công ty cổ phần là phần
tài sản của cổ đông nằm ngoài công ty cổ phần đợc bảo lãnh, vì phần vốn góp
của cổ đông tại công ty này đã đợc dùng để đánh giá năng lực tài chính của
công ty và trong trờng hợp cần phải có bảo lãnh tức là tài chính của công ty
đó cha đủ mạnh.
+ Cá nhân bảo lãnh cho các doanh nghiệp Nhà nớc thờng ẩn chứa
nhiều điều bất hợp lý trong việc sử dụng vốn vay do đó dễ xảy ra rủi ro đối
với ngân hàng.
+ Bảo lãnh cá nhân trong nhiều trờng hợp mang tính hình thức, vì vậy
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là hết sức phức tạp.
1.4. Nhân tố ảnh hởng đến chất lợng đảm bảo an toàn vốn tín dụng.
Nguyễn Xuân Linh
3012 K
hoa NGHIệP Vụ KINH DOANH NGÂN
HàNG
Thực tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn vốn tín dụng đang đợc đề cập
đến một cách cấp thiết. Theo thống kê cha đầy đủ, hiện nay đã có rất nhiều
văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp đảm bảo tiền vay.
Theo bộ luật dân sự, biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự có:
thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh, đặt cọc, kí cợc, kí quỹ, phạt vi
phạm.
Theo nghị định 178/ 1999/ NĐ- CP ngày 29/ 12/ 1999 của Chính phủ
về đảm bảo tiền vay của ngân hàng , biện pháp đảm bảo tiền vay chia làm
hai loại: