Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Trường Đại Học Xây Dựng - Pdf 31

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA QUẢN LÝ

BÁO CÁO
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Điạ điểm thực tập:
Trường Đại Học Xây Dựng

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Bích Thủy
Lớp

: QLGD_2B

Vị trí thực tập

: Khoa Sau Đại Học

Người hướng dẫn : PGS.TS.Hà Thế Truyền


Hà Nội, tháng2/2012

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………..3
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………….4
PHẦN MỞ ĐẦU:............................................................................................5
1.Tổng quan về trường Đại học Xây dựng…………………………….......5
1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của trường Đại học Xây dựng....5
1.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý………………………………………...9
1.3.Cơ sở vật chất và quy mô……………………………………………...10
1.4.Nhân sự…………………………………………………………………11

sau đại học trường đại học Xây dựng.
Về phía Học viện, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Hà Thế Truyềngiáo viên hướng dẫn đã luôn theo sát tư vấn, định hướng và góp ý cho em
trong suốt thời gian thực tập.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Do điều kiện thời gian không có nhiều, đây cũng là một chuyên ngành
học mới và khả năng của một sinh viên năm thứ 4 còn có nhiều hạn chế nên
báo cáo chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và
góp ý của các thầy cô giáo cùng bạn bè để báo cáo được hoàn thiện hơn!
3


1. LỜI NÓI ĐẦU:
Thực tập tốt nghiệp là một chương trình mang tính chất thực tế và cần
thiết đối với mỗi sinh viên. Sau thời gian 7 kỳ học lý thuyết tại giảng đường,
thực tập tốt nghiệp giúp sinh viên có dịp quan sát, tiếp cận và tìm hiểu các
hoạt động quản lý giáo dục trong thực tế hoạt động của một cơ quan quản lý
giáo dục, của nhà trường, của các cơ sở giáo dục khác. Ngoài ra sinh viên
còn có thêm hiểu biết về các mặt tổ chức hoạt động của 1 cơ sở giáo dục.
Thông qua đó sinh viên có điều kiện được tiếp thu những kỹ năng nghề
nghiệp ở đơn vị thực tập; củng cố, khẳng định và bổ sung thêm những kiến
thức cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục cũng như ý thức nghề nghiệp
trong tương lai.
Ngoài ra sinh viên biết liên hệ vận dụng các kiến thức về quản lý và
quản lý giáo dục đã học để phân tích và đánh giá các hoạt động của một nhà
trường, cơ sở giáo dục, các cơ quan quản lý giáo dục. Biết xác định những
kiến thức cần quan tâm, tìm hiểu ở những kỳ học tiếp theo.
Đồng thời sinh viên sẽ có ý thức trách nhiệm, thái độ đúng đắn trong
các hoạt động thực tiễn, có ý thức học tập, rèn luyện để chuẩn bị kiến thức và
kĩ năng nghề nghiệp trong tương lai cũng như thực hiện tốt các nội dung và
yêu cầu của đợt thực tập.

số 55 đường Gỉai Phóng, Phường Đồng Tâm, Quận Hai Bà Trưng và một số
cơ sở khác thuộc Hà Nội (Cổ Nhuế, Phúc Xá, Bách Khoa) . Trên cơ sở sát
nhập trường Đại học Xây dựng vừa học vừa làm.
Trong giai đoạn từ 1965-1966. Khoa Xây dựng (thuộc trường ĐH Bách
khoa) đã đào tạo 10 khoá sinh viên cho 8 ngành: XD cầu đường, XD Đường,
XD Thuỷ lợi, XD Cảng- đường thuỷ, XD Dân dụng và công nghiệp, XD đô
thị, Thông gió và cấp thoát nước. Các sinh viên khoá 7 ngành Cầu đường và
Xây dựng dân dụng đã tham gia trực tiếp chiến đấu trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Tấm gương tiêu biểu là Anh hùng liệt sỹ Bùi Ngọc Dương hy sinh
năm 1968.

5


Khoá 11 là khoá đào tạo chính thức đầu tiên của trường ĐHXD. Nhà
trường vừa đào tạo vừa phải sơ tán vượt lên nhiều gian khổ. Trong những năm
1966-1971 hàng ngàn sinh viên của trường đã nhập ngũ, tham gia các phong
trào chống Mỹ cứu nước.
Trong hoàn cảnh khó khăn nhà trường vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đào
tạo, đóng góp nhiều cán bộ có chuyên môn tốt cho ngành xây dựng trong toàn
quốc, phục vụ đăc lực cuộc kháng chiến chống Mỹ. Có nhiều đề tài phục vụ
sản xuất và chiến đấu. Nổi bật là các đề tài cầu phao, cầu cáp treo, đường giao
thông phục vụ cho chiến trường của khoa Cầu đường, các đề tài về đảm bảo
giao thông đường thuỷ, hàn khẩu đê khi bị ném bom phá hoại, thiết kế thi
công hệ thống dẫn xăng dầu vào chiến trường ...cũng góp phần tích cực vào
thắng lợi chung của dân tộc trong cuôc kháng chiến.
Giai đoạn 1971-1983 là giai đoạn để lại nhiều dấn ấn trong lịch sử phát
triển của nhà trường. Tại địa điểm Hương Canh, Vĩnh Phú, ngày 9/10/1972
nhà trường đã bị máy bay Mỹ ném bom đánh phá, 61 cán bộ công nhân viên
và sinh viên đã hy sinh. Vượt qua khó khăn, thiếu thốn, bằng mồ hôi và cả

Năm 1976 trường có 500 cán bộ, hơn 100 người có trình độ Phó tiến sỹ
và tương đương. Năm 1994 toàn trường có 479 CBGD trong đó có 115 tiến
sỹ, phó tiến sỹ. Năm 2006 toàn trường có 631 cán bộ giảng dạy, có 5 tiến sỹ
khoa học, 141 tiến sỹ, 273 thạc sỹ. số cán bộ có trình độ sau đại học chiếm
66,4 %. Năm 2010 nhà trường có 653 cán bộ giảng dạỵ, 208 cán bộ với 66
phó giáo sư, giáo sư, 150 tiến sỹ, TSKH, 368 thạc sỹ.
Từ 1980 đến nay cán bộ trường đã được Nhà nước phong hàm 42 giáo
sư và 117 lượt phó giáo sư. Năm 1985 bộ môn Đường ô tô và thành phố được
tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Có 4 thầy giáo được phong danh hiệu nhà
gíáo nhân dân là Nguyễn Sanh Dạn, Lều Thọ Trình, Nguyễn Văn Chọn và
Phạm Ngọc Đăng. Nhiều sinh viên đào tạo từ trường ĐHXD đang giữ các
trọng trách của Đảng và Nhà nước.
Từ 1983 đến nay, trước nhu cầu của đất nước, nhiều khoa, ngành, bộ
môn mới được thành lập. Tiêu biểu như Vịên Công trình biển (năm 1994),
khoa Vật liệu, Kỹ thuật Môi trường (1989), khoa Công nghệ thông tin (2001),
khoa Mác Lê Nin( 2004). Thành lập Xí nghiệp Thiết kế và xây dựng thực
nghiệm (1985), ) .
Hàng loạt các trung tâm KHCN đã được thành lập từ năm 1981 như
Trung tâm môi trường đô thị và khu công nghiệp, Trung tâm kỹ thuật nền
móng- công trình, Trung tâm kiến trúc và Quy hoạch, Trung tâm công trình
thuỷ, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xây dựng, Trung tâm vật liệu
xây dựng nhiệt đới. Tháng 11/2001 thành lập Công ty tu vấn ĐHXD.
Các Trung tâm hiện đang được chuyển đổi thành các viện KHCN theo
định hướng thành các doanh nghịêp KHCN. Một số Viện mới được thành lập
từ năm 2005 đến nay như Viện Quy hoạch và Kiến trúc, Viện Địa kỹ thuật và
công trình, Viện Cảng và Kỹ thuật hàng hải, Các Trung tâm. Viện, Công ty đã
7


đóng góp nhiều vào sự phát triển khoa học công nghệ chung của đất nước, là

động của nhà trường với thực tiễn, ủng hộ nhà trường trên các khía cạnh cả
vật chất và tinh thần.
8


Trải qua gần 55 năm đào tạo và 45 năm thành lập, cán bộ và giáo viên,
sinh viên trường Đại học xây dựng đang nỗ lực phát huy các truyền thống vẻ
vang của nhà trường. Tiếp tục phấn đầu theo các định hướng chiến lược phát
triển, xây dựng Trường Đại học Xây dựng thành một trung tâm đào tạo,
nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ đầu ngành, hịên đại, có chất
lượng cao trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghịêp hoá, hịên đại hoá đât nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, từng bước hội nhập với các trường đại học tiên tiến trong khu
vực và trên thế giới.
Trường Đại học Xây dựng, tự hào với truyền thống vẻ vang, đang vững
vàng đi cùng đất nước, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to
đẹp hơn.
1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
Trường Đại học Xây dựng là một cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nguồn
nhân lực có trình độ đại học và trên đại học cho nhiều ngành khác nhau trong
lĩnh vực xây dựng. Trường còn là trung tâm nghiên cứu khoa học và triển khai
ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực xây dựng vào đời
sống.
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY TRƯỜNG.

9


1.3.Cơ sở vật chất và quy mô:
- Cơ sở vật chất: Khuôn viên của Trường Đại học Xây dựng hiện nay nằm

khoa học, 144 tiến sĩ, 2 giáo sư, 317 thạc sĩ, 67 phó giáo sư, 6 nhà giáo nhân
dân, 202 giảng viên chính, 55 nhà giáo ưu tú 55. Ngoài ra có 62 nhà giáo
(trong đó có 42 giáo sư và phó giáo sư) đã nghỉ hưu nhưng ký hợp đồng tiếp
tục giảng dạy và đào tạo giảng viên trẻ. Hiện nay giảng viên có trình độ sau
đại học chiếm 76,7 phần trăm, trong đó 25,56 phần trăm là tiến sĩ.(chưa kể
những người về hưu đang công tác ở trường
1.5. Lãnh đạo trường:
Hiệu trưởng, bí thư Đảng ủy: TS Lê Văn Thành
Phó Hiệu trưởng, Phó bí thư Đảng ủy: PGS.TS Phạm Duy Hòa
11


Phó Hiệu trưởng: PGS.TS Phạm Quang Dũng
Phó Hiệu trưởng: PGS.TS Phạm Hùng Cường
1.6. Các khoa, phòng ban:
Khoa

Cầu đường

Khoa

Công nghệ thông tin

Khoa

Công trình thuỷ

Khoa

Cơ khí xây dựng


Xây dựng Công trình biển

Viện

Khoa học Kỹ thuật Môi trường

Ban quản lý và đạo tạo kỹ sư chất lượng cao
Trung tâm Đào tạo thường xuyên
Các phòng thí nghiệm và thực hành.
Phòng máy chủ internet (thuộc khoa CNTT)

12


Phòng máy chủ Thư viện
Phòng Thực hành Tin học 212 - H1
Phòng thí nghiệm Điện - Điện tử
Phòng thí nghiệm Địa chất Công trình
Phòng thí nghiệm Công trình
Phòng thí nghiệm Cơ đất nền móng
Phòng thí nghiệm Máy xây dựng
Phòng thí nghiệm Sức bền
Phòng thí nghiệm Thuỷ lực
Phòng thí nghiệm Vật liệu
Phòng Thực hành Tin học tầng 4 Nhà thí nghiệm
Xưởng cơ khí
Các trung tâm, công ty
NCKH và triển khai ứng dụng các tiến bộ KHCN
Viện Nghiên cứu KH Công trình thuỷ

14


Xây dựng công trình ngoài khơi & ven bờ
Xây dựng công trình ven biển
Vật liệu và cấu kiện xây dựng
Cấp thoát nước
Hệ thống Kỹ thuật trong công trình
Môi trường đô thị và khu công nghiệp
Kinh tế xây dựng
Kinh tế và quản lý đô thị
Kiến trúc
Quy hoạch đô thị
Cơ giới hoá XD
Máy Xây dựng
Tin học XD Công trình
Tin học
Công nghệ phần mềm
Các chuyên ngành đào tạo sau đại học:
Chương trình đào tạo ngắn hạn, cấp chứng chỉ
Giám sát thi công XD công trình DD,CN & hạ tầng kỹ thuật;
Giám sát thi công XD công trình giao thông;
Giám sát thi công XD công trình Thuỷ lợi, Thuỷ điện;
Quản lý dự án đầu tư XD;

15


Đấu thầu XD;
Quản lý đất đai, nhà ở và XD công trình;

Xây dựng Công trình thuỷ;
Xây dựng Cầu, Hầm;
Công nghệ Môi trường Khí;
Kỹ thuật máy nâng, máy vận chuyển liên tục;
Kỹ thuật máy và thiết bị xây dựng;
Cơ học vật thể rắn;
Kinh tế Xây dựng;
Công nghệ Môi trường nước và nước thải;
Công nghệ Môi trường chất thải rắn
2.Tổng quan về Khoa đào tạo sau đại học
Ngày 11/03/1977 Thủ Tướng Chính Phủ giao nhiệm vụ đào tạo Nghiên cứu
sinh cho Trường Đại học Xây dựng.
Năm 1987 khoa Đào tạo Sau đại học được thành lập
Lĩnh vực đào tạo chính của khoa hiện nay gồm: Tiến sỹ, Thạc sỹ và các
chương trình đào tạo ngắn hạn. Cho đến nay trường đại học xây dựng đã
đào tạo được 142 tiến sỹ, 1737 thạc sỹ, hơn 17.500 học viên ngắn hạn. Các
tiến sỹ, thạc sỹ này đã trở thành các cán bộ lãnh đạo, các nhà khoa học đầu
ngành tại các trường đại học, cao đẳng, các vụ, viện, các tổng công ty… Họ
đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành xây dựng
Việt Nam, Lào và Campuchia.
Quy mô đào tạo hiện nay 18 chuyên ngành tiến sỹ và 14 chuyên ngành thạc
sỹ, với 70 nghiên cứu sinh và khoảng 1100 học viên cao học.
Trường Đại học Xây dựng tự hào đã và đang góp phần đào tạo cán bộ kỹ thuật
trình độ cao cho đất nước nói chung và trong lĩnh vực xây dựng nói riêng, tự
hào tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cho nhiều Trường Đại học,
Cao đẳng trong cả nước, là đối tác tiềm năng, tin cậy trong các dự án đào tạo
Quốc tế.
Đào tạo Sau Đại học là lĩnh vực đào tạo quan trọng nhất để thực hiện mục
tiêu: “Xây dựng và phát triển Trường Đại học xây dựng thành một trung tâm
đào tạo và NCKH đầu ngành có chất lượng cao trong lĩnh vực xây dựng cơ

nhiệm vụ tổ chức tuyển sinh cao học và NCS đi học nước ngoài. Thấy rõ tầm
quan trọng của công tác đào tạo sau đại học, năm 1987 Trường đã thành lập
Khoa Sau đại học tách khỏi Phòng Nghiên cứu khoa học để đảm nhận công
tác này.
2. Đào tạo thạc sỹ
Năm 1987 Trường đã mở lớp cao học thí điểm đầu tiên ngành xây dựng công
trình biển, gồm 27 học viên. Tiếp đó năm 1989 mở lớp cao học thí điểm ngành
Xây dựng dân dụng và công nghiệp gồm 7 học viên. Kinh nghiệm từ 2 lớp cao
học thí điểm này đã góp phần không nhỏ vào chủ trương mở cấp học cao học
của Nhà nước trong quyết định năm 1991.
Đào tạo thạc sỹ được đẩy mạnh từ năm 1992 sau khi Nhà nước có quyết định
số 55/HĐBT ngày 09/03/1991 mở đào tạo cao học, một bậc học mới.

18


Địa bàn đào tạo cao học chủ yếu là ở Hà Nội. Ngoài ra, nhà trường còn mở
một số lớp kết hợp với Liên doanh dầu khí VIETSOVPETRO (2006-2009),
các trường đại học: Đại học Hàng Hải - Hải Phòng (1992, 1996, 2000, 2005,
2006), Đại học Đà Nẵng (1994, 2000, 2002, 2004, 2005, 2006), Đại học Vinh
(1997, 1999, 2007), Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu (2007).
Các luận văn thạc sỹ đảm bảo các quy định của Nhà nước, hầu hết được thực
hiện một cách công phu, khối lượng lớn và có những đóng góp nhất định về
mặt khoa học và phục vụ sản xuất. Số lượng học viên tuyển mới gia tăng dần
hàng năm. Năm 2009 tuyển 529 học viên.
3. Đào tạo liên tục
Từ năm 1987 sau khi Khoa Đào tạo sau đại học được thành lập, các hoạt động
Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho kỹ sư được đẩy mạnh. Nhà trường xây
dựng các chuyên đề về tin học trong xây dựng, nâng cấp các chương trình bổ
túc kỹ sư. Các lớp bồi dưỡng sau đại học thuộc lĩnh vực truyền thống: xây

nhiều tỉnh thành như¬: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hoá, Quảng
Ninh, Hải Dư¬ơng, Việt Trì, Vĩnh Yên, Yên Bái, Hoà Bình, Điện Biên,
Quảnh Bình, Nha Trang, Tuy Hoà, Bình Định, TP. Hồ Chí Minh...

20


PHẦN 2: NỘI DUNG
1.Cơ sở pháp lý
Trường Đại học Xây dựng được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1966, theo
Quyết định số 144/CP ngày 8/8/1966 của Hội đồng chính phủ, trên cơ sở là
khoa Xây dựng( 1956- 1966) của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trong thời gian chiến tranh, Trường Đại học Xây dựng sơ tán về các địa điểm:
huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, rồi Hương Canh thuộc huyện Bình
Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. Đến đầu thập niên 1980,Trường Đại học Xây dựng
mới chuyển về đóng tại Hà Nội.
Hiện tại nhà trường đang sử dụng tổng hợp các tài liệu pháp quy sau:
+ Điều lệ trường đại học( ban hành theo quyết định số 153/2003/QĐ-TTG
ngày 30 tháng 7 năm 2003 của thủ tướng chính phủ)
+ Quy chế đào tạo sau đại học( ban hành theo Quyết định số: 18/ 2000/ QĐBGD& ĐT ngày 08 tháng 6 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Giaó dục và Đào tạo).
+ Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học cao đẳng và trung cấp
chuyên nghiệp hệ chính quy ban hành kèm theo quyết định số 42/2007/QĐ –
BGDĐT ngày 113 tháng 08 năm 2007 của bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo.
- Quy chế nhà trường:
Thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2010 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học, cao
đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (gọi tắt là quy chế 43), trường Đại học
Xây dựng đã ban hành Hướng dẫn thực hiện quy chế theo Quyết định số
806/2010/QĐ-ĐHXD-ĐT ngày 25/8/2010 của Hiệu trưởng Trường Đại học
Xây dựng. Quy chế này được áp dụng từ năm học 2010-2011 cho đào tạo hệ


22


+ Đảm bảo các yêu cầu: tính chính xác (tên từng môn học, từng giờ học,
buổi học, ngày giờ, năm tháng, địa điểm...) tính sư phạm (môn học tiên quyết
phải được dạy trước môn học triển khai, bố trí thời lượng hợp lý theo buổi
học, theo học kỳ, theo năm học) đảm bảo tính khả thi (về các điều kiện đào tạo
như: đội ngũ giảng viên, phòng thực hành thực tập...)
+ Có 3 loại kế hoạch chính: kế hoạch cho một khóa học, kế hoạch năm
học, kế hoạch học kỳ.
- Đặc điểm riêng:
+ Không có một mẫu kế hoạch đào tạo nào là vạn năng để dùng chung
cho mọi khóa, mọi cơ sở đào tạo. Trong thực tế các kế hoạch này thường
xuyên được sáng tạo, phát triển và hoàn thiện mang đực điểm và phù hợp với
từng cơ sở đào tạo.
+ Tuy nhiên trong bất kỳ một văn bản nào được đem ra triển khai thực
hiện đều phải có bút phê và dấu cảu ban giám hiệu.
- Kế hoạch cho một khóa học:
+ Kế hoạch đào tọa cho một khóa học bao giờ cũng được thiết kế trước
tiên, thậm chí là phải có cả ngày khi đệ trình mở khóa đào tạo lên ban giám
hiệu. Bản kế hoạch đào tạo cho một khóa học là cơ sở để xây dựng kế hoạch
năm học và kế hoạch học kỳ.
+ Kế hoạch đào tạo cho một khóa học phải bám sát chương trình đào
tạo và nguồn lực đào tạo (giảng viên, cơ sở vật chất, tài chính)
+ Kế hoạch đào tạo cho một khóa học thực chất là một bản dự toán triển
khai khóa đào tạo hay bồi dưỡng xác định.
+ Kế hoạch đào tạo cho một khóa học càng chi tiết, càng chính xác thì
càng an toàn và hiệu quả (chất lượng và hiệu suất) trong hoạt động đào tạo của
cơ sở đào tạo.

24


+ Kế hoạch cho một học kỳ luôn luôn phải đạt được các yêu cầu chính
sau đây: đảm bảo tính chính xác (tên từng môn học, từng giờ học, buổi học,
ngày giờ, năm tháng, địa điểm), đảm bảo tuân theo đúng kế hoạch đào tạo của
khóa học hay chương trình đào tạo, phù hợp với kế hoạch năm học đã thiết kế,
đảm bảo khả năng kiểm tra, thanh tra, thực hiện triển khai.
2.3. Tổ chức đào tạo
- Nguyên tắc chung: công tác tổ chức đào tạo về bản chất là triển khai thực
hiện đào tạo theo chương trình đào tạo và theo quy chế đào tạo hiện hành
thông qua kế hoạch học kỳ, kế hoạch năm học và kế hoạch khóa học đã được
phê duyệt. Các nguyên tắc chung mà bất kỳ một ai làm công tác đào tạo đều
phải thực hiện cho đúng bao gồm các điểm chính sau:
+ Triển khai đúng chương trình đào tạo và kế hoạch khóa học đã đề ra
+ Tuyệt đối thực hiện đúng quy chế đào tạo hiện hành
+ Trong bất kỳ tình huống nào nếu thay đổi chương trình, kế hoạch đào
tạo hay áp dụng linh hoạt khác quy chế phải có ý kiến phê duyệt của ban giám
hiệu.
- Tổ chức dạy: khoa cần cung cấp cho giảng viên chương trình chi tiết môn
học, soạn kĩ và yêu cầu từng giảng viên phải thực hiện đúng yêu cầu và mục
tiêu của môn học ghi trong chương trình chi tiết và phải làm lịch trình giảng
dạy theo mẫu soạn sẵn và nộp một bộ chế bản điện tử bài giảng và tài liệu
tham khảo photo để học viên tự nhân bản.
+ Trên cơ sở lịch trình giảng dạy, cán bộ đào tạo, thanh tra hoàn toàn có
thể kiểm soát được tiến trình giảng dạy và đánh giá giữa kỳ của từng giảng
viên trong học kỳ. Bài giảng soạn bao gồm các kiến thức cốt lõi của môn học
và các câu hỏi bài tập cho người học chuẩn bị trước hoặc ôn luyện. Nên nhớ
rằng bài giảng là giải pháp đảm bảo giảng dạy hiệu quả nhất, chứ không phải
giáo trình, không phải các phương tiện nghe là hiệu quả nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status