Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái có lịch sử phát triển gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển
của thương mại quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối đoái có thể làm thay
đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối đoái là
vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề như giá cả, xuất nhập khẩu, dòng
luân chuyển vốn và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế ở tầm vĩ mô. Tỷ giá hối đoái
có tác động và ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và quan hệ
kinh tế quốc tế nói chung, đặc biệt là quan hệ thương mại giữa các nước với nhau
nên nó luôn được các Chính phủ và các tổ chức kinh tế thế giới hết sức quan tâm.
Tỷ giá hối đoái là một công cụ quan trọng để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, do
vậy, việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái có một tầm quan trọng đặc biệt. Sau
gần 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc, đạt được thành tựu to
lớn trên nhiều lónh vực, trong đó những đổi mới về chính sách tài chính– tiền tệ và
tỷ giá hối đoái đã có tác động tích cực, góp phần tạo nên sự ổn đònh môi trường
kinh tế – xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, đây chỉ là những thành
tựu đạt được bước đầu, nhìn chung, vẫn chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế và
những đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
điều kiện nước ta hiện nay, việc đúc rút những kinh nghiệm quý giá từ những thành
công và cả những thất bại của các nước và lựa chọn một chính sách tỷ giá hối đoái
phù hợp, thực sự có hiệu quả, cùng với một số chính sách vĩ mô khác thúc đẩy nền
kinh tế phát triển bền vững là một vấn đề hết sức quan trọng.
1
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Ví dụ: Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị của Anh và Mỹ là như nhau. Một
tấn lúa mì loại 1 ở Anh có giá là 100 GBP, ở Mỹ có giá là 178 USD.
Ngang giá sức mua là:
Đây là tỷ giá hối đoái giữa bảng Anh và đôla Mỹ.
Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ giá hối đoái :
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en) : Đây là tỷ giá hối đoái được biết đến nhiều
nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng
ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (er) : Được xác định er = en * Pn/Pf
Pn : Chỉ số giá trong nước
Pf : Chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chên lệch lạm phát giữa các
nước và phản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một nước.
2. Phương pháp yết tỷ giá:
3
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
- Yết tỷ giá trực tiếp : Tỷ giá là giá một đơn vị ngoại tệ tính bằng số đơn vị nội
tệ. Hầu hết các nước trên thế giới đều dùng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, trong
đó có Việt Nam.
Nguồn: https://voer.edu.vn
- Yết tỷ giá gián tiếp : Tỷ giá là giá một đơn vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại
tệ. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 5 đồng tiềm dùng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp,
Tỷ giá thả nổi có điều tiết : Ngân hàng Trung ương tiến hành can thiệp tích cực trên
thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định.
5
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
- Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng lên cán cân thanh toán :
+ Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Bilateral Exchange Rate - NER) : là giá
cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua qua một đồng tiền khác mà chưa đề
cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.
+ Tỷ giá thực song phương (Real Exchange Rate – RER) : là tỷ giá danh nghĩa đã
được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện
sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Vì thế có thể xem tỷ giá thực là
thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc
gia khác.
+ Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal effective Exchange Rate - NEER) :là chỉ
số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại.
+ Tỷ giá thực đa phương (Real effective Exchange Rate – REER) : Bằng tỷ giá
danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả
các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các
đồng tiền còn lại.
- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế :
+ Tỷ giá séc : Tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
+ Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay : Tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng
ngoại tệ.
+ Tỷ giá chuyển khoản : Tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển khoản
ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng.
+ Tỷ giá tiền mặt : Tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối bằng tiền
ngang bằng cầu. Khi xuất khẩu tăng hoặc luồng vốn đầu tư nước ngoài tăng sẽ làm
tăng cung ngoại tệ, đồng tiền ngoại tệ giảm giá và ngược lại.
Các nhà kinh tế trọng hiện đại( đại diện là Milton Friedman) luôn ủng hộ tỷ giá thả
nổi, vì cho rằng chế độ tỷ giá này tạo nên sự ổn định các thị trường và yêu cầu
chính phủ các quốc gia nên dựa vào sự nhạy cảm của thị trường tiền tệ để làm cơ sở
cho các quyết định trong điều hành chính sách tiền tệ.
Chế độ tỷ giá này được đánh giá là giúp cho chính sách tiền tệ quốc gia được độc
lập, cán cân thanh toán quốc tế được tự động điều chỉnh cho cân bằng. Tuy vậy, chế
7
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
độ tỷ giá này lại gây sự biến động thường xuyên của tỷ giá hối đoái, khiến cho hoạt
động chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác luôn hàm chứa rủi ro.
2. Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết:
Là chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết
nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng
tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nú quá bất ổn định. Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố
định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho
tỷ giá hối đoái cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm
cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên
thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới
sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn
toàn phản ứng theo thị trường.
Ngân hàng Trung ương sẽ tiến hành can thiệp lên thị trường ngoại hối nhằm ảnh
hưởng lên tỷ giá, nhưng Ngân hàng Trung ương không cam kết duy trì một tỷ giá cố
định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm. Nói cách khác, Ngân
hàng Trung Ương thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều tiết thị trường
ngoại hối, song can thiệp của Ngân hàng Trung ương không nhằm mục đích để cố
Hạn chế, sàng lọc nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế chưa hấp thu
hiệu quả vốn vào.
PHẦN III: CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN VÀ CỦA VIỆT NAM TỪ TRƯỚC TỚI NAY
I. Cơ chế điều hành tỷ giá của một số nước đang phát triển
1.
Cơ chế điều hành tỷ giá của Trung Quốc
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc cải cách kinh tế, Trung Quốc đang nổi lên là
một nền kinh tế năng động và có nhiều triển vọng. Phát huy những tiềm năng kinh
tế - xã hội - tự nhiên có nhiều lợi thế với những bước đi thận trọng và hiệu quả
trong quá trình chuyển đổi, Trung Quốc đang nổi dậy để trở thành một trung tâm
mới của nền kinh tế thế giới - một cực khác của Châu Á cũng Nhật Bản.
Quá trình chuyển đổi chế độ tỷ giá ở Trung Quốc có thể chia thành 4 giai đoạn:
9
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
Giai đoạn 1949 - 1979 : Trong thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc quản lý theo cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, Chính phủ thực hiện quản lý tập trung đối với hoạt động ngoại hối, áp dụng chế độ tỷ
giá cố định và tỷ giá này do Ngân hàng nhân dân Trung Quóc công bố.
Giai đoạn 1980 - 1990 : Cùng với cải cách kinh tế năm 1979, chế độ tỷ giá được thay đổi theo
hướng gia tăng yếu đố thị trường. Bên cạnh tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
công bố, còn có tỷ giá mua bán trên thị trường. Mặc dù tỷ giá chính thức được điều chỉnh nhiều lần
nhưng tỷ giá trên thị trường ngoại tệ luôn có xu hướng cao hơn tỷ giá chính thức.
Từ năm 1991, Trung Quốc hướng tới chuyển đổi chế độ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có
quản lý. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức vẫn được áp dụng hơn tỷ giá thị trường. Từ năm 1993, thị
Quan điểm của Hàn Quốc là chính sách tỷ giá và ngoại hối phải được xây dựng từ
chính sách kinh tế. Để ổn định được giá trị đồng tiền trong nước, cải thiện điều kiện
và cán cân thanh toán, chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối phải được
hoạch định một cách hợp lý trong từng thời kỳ. Chính sách tỷ giá cũng phải nhằm
góp phần thực hiện các mục tiên: khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng
dự trữ ngoại tệ, hạn chế việc chuyển giao vốn điều lệ ra nước ngoài…
Quan điểm này của Hàn Quốc đã được thực hiện trong hơn 50 năm qua kể từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai và được cụ thể hóa ở từng thời kỳ. Có thể chia quá trình
10
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái đa dạng và phức tạp của Hàn Quốc từ những năm
1945 đến nay ra làm 3 giai đoạn:
Hệ thống tỷ giá cố định từ những năm 1945 đến cuối những năm 1960
Hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt, thống nhất từ cuối những năm 1960 đến đầu năm 1980
Hệ thống tỷ giá “giỏ ngoại tệ phức hợp” từ 1982 đến nay
3.
Cơ
chế
điều
hành
tỷ
đến khi cuộc khủng hoảng xảy ra thì tỷ giá của THB so với USD gần như cố định,
chỉ dao động quanh 25 THB/USD. Tuy nhiên, xuất khẩu của Thái Lan chiếm hơn
70% GDP hàng năm, lại tập trung vào một số mặt hàng chỉ lực, cán cân thương mai
thâm hụt từ 10% năm 1990 lên 60 - 70% so với xuất khẩu năm 1997. Nền kinh tế
Thái Lan bắt đầu sa sút từ cuối năm 1995, tốc độ tăng trưởng giảm, thâm hụt tài
khoản vãng lai cao, nợ nước ngoài tăng. Thị trường chứng khoán suy sujo từ cuối
năm 1996, các nhà đầu tư quốc tế lại tấn công vào đồng THB làm chi giá trị đồng
THB giảm mạnh. Đến ngày 02/7/1997, chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng
THB. Đến cuối năm 1997, nợ nước ngoài của Thái Lan lên đến 88 tỷ USD và dự trữ
ngoại
tệ
tụt
xuống
còn
28
tỷ
USD.
Đây là bài học trong việc đưa ra một chính sách tỷ giá thích hợp, hạn chế tối đa
những tác hại đến nề kinh tế bởi vì chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu,
tổng sản phẩm quốc dân cũng như tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
II. Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước tới nay
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam chính thức áp dụng cơ chế neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh, tỷ giá
chính thức được điều chỉnh dựa trên các tín hiệu lạm phát, lãi suất, cán cân thanh
toán; tỷ giá thị trường tự do, tỷ giá ngân hàng thương mại được phép dao động
trong giới hạn 5% tỷ giá chính thức. Trong giai đoạn 1990-1991, tỷ giá chính thức
thường xuyên thấp hơn tỷ giá tự do và để giải quyết vấn đề này, thị trường ngoại hối
chính thức được thành lập vào năm 1991 bao gồm 2 sàn giao dịch ngoại hối ở Hà
Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tỷ giá chính thức được xác định dựa trên tỷ giá đấu thầu
tại 2 sàn, tỷ giá ngân hàng thương mại chỉ được phép dao động không quá 0,5% so
với tỷ giá chính thức.
13
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
3.
Giai đoạn 1991 - 1993: Cố định tỷ giá trong biên độ (pegged exchange
rate within horizontal bands)
- Việc sử dụng ngoại tệ được kiểm soát chặt chẽ.
- Kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ chặt chẽ hơn; hạn chế mang tiền ra khỏi biên giới.
- Thành lập quĩ dự trữ ngoại tệ chính thức để ổn định tỷ giá.
- Thành lập 2 sàn giao dịch ngoại tệ ở TP. HCM và Hà Nội.
- OER được hình thành dựa trên các tỷ giá đấu thầu tại hai sàn; Ngân hàng Nhà
nước can thiệp mạnh vào giao dịch trên hai sàn.
hưởng bởi những yếu tố nội tại của nền kinh tế như lạm phát, mất cân đối cán cân
thanh toán nên Ngân hàng Nhà nước đã phải giảm giá mạnh tiền đồng 2 lần liên tiếp
trong năm 1998 (tháng 2 và tháng 8) với tổng tỉ lệ phá giá lên đến 16,3%. Đến tháng
2 năm 1999, tỷ giá chính thức công bố là tỷ giá liên ngân hàng trung bình ngày làm
14
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
việc hôm trước, và tỷ giá của Ngân hàng Thương mại chỉ còn được phép giao dịch
xung quanh 0,1% và sau vài năm được nới lỏng thêm lên 0,25% vào tháng 7/2002
và 0,5% vào năm 2007.
Tỷ giá hối đoái 1999 - 2005
5.
Giai đoạn 2007 - 2011 : Cố định tỷ giá với biên độ được điều chỉnh
(crawling
bands)
Sau khi Việt Nam gia nhập sâu hơn vào kinh tế toàn cầu vớiviệc chính thức là thành
viên của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), chính sách điều hành tỷ giá đã có
những biến động mạnh sovới giai đoạn trước. Dòng vốn đổ vào nền kinh tế gia tăng
đột biếntrong 2 năm 2007-2008 khiến thị trường ngoại hối trở nên dư thừangoại tệ ở
quy mô lớn, VND tăng giá và tỷ giá Ngân hàng Thương mại luôn nằmsàn dưới của
biên độ cho phép. Tuy nhiên, những tác động từ khủnghoảng kinh tế thế giới khiến
luồng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đảochiều từ nửa cuối năm 2008 cộng với sức
ép từ lạm phát, nhập siêugia tăng, chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc
biên độ cho phép. Tại nhiều thời điểm, tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thấp hơn khá
nhiều so với biên độ cho phép, dù có vượt so với tỷ giá liên ngân hàng. Trong khi
đó, tỷ giá trên thị trường tự do hầu hết đều bám khá sát với diễn biến thị trường
chính thức.
Tuy nhiên, sự ổn định của tỷ giá trong giai đoạn 2012-2013 chủ yếu bắt nguồn từ
nguyên nhân quan trọng nhất là bối cảnh kinh tế khó khăn làm giảm đáng kể nhu
cầu nhập khẩu và thâm hụt thương mại so với các năm trước đó, theo đó làm giảm
nhu cầu ngoại tệ trên thị trường. Trong khi đó, nguồn cung ngoại tệ vẫn tương đối
dồi dào với mức giải ngân đầu tư nước ngoài và kiều hối ổn định và dự trữ ngoại
hối gia tăng.
Diễn biến tỷ giá năm 2013
Nguồn: HSC, Reuters
17
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
PHẦN IV: KHUYẾN NGHỊ VỀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
I. Quan
điểm
chung:
Thị trường hối đoái Việt Nam mang đặc trưng là thiếu các công cụ phòng chống rủi
ro tỷ giá, các doanh nghiệp dễ chịu tổn thất khi tỷ giá biến động và vì vậy, việc điều
phát triển của đất nước và hòa nhập quốc tế. Bên cạnh việc không ngừng nâng cao
khả năng, vai trò của Nhà nước trong việc kiểm soát chặt chẽ sự biến động của tỷ
giá hối đoái và các luồng ngoại tệ đảm bảo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, sự
can thiệp của Ngân hàng Nhà nước đến thị trường ngoại hối sẽ giảm dần, chủ yếu
can thiệp thông qua việc ban hành các chính sách. Hoạt động điều hành chính sách
tỷ giá hối đoái sẽ được thực hiện theo hướng tăng cường sử dụng các biện pháp
kinh tế, hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng các biện pháp hành chính. Như vậy,
chính sách tỷ giá sẽ được tiếp tục cải tiến, phát triển theo hướng linh hoạt hơn.
Trước mắt cần áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có quản lý, điều chỉnh
theo cả hai hướng tăng hay giảm căn cứ vào thực tế, chọn biện pháp điều chỉnh tỷ
giá từ từ, hạn chế giải pháp sốc nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo cơ sở tăng trưởng
19
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
kinh tế vững chắc. Căn cứ điều chỉnh là tình hình phát triển và mục tiêu của nền
kinh tế, tốc độ lạm phát, lãi suất, sức mua thực tế của VND, sức mua của ngoại tệ,
diễn biến trên thị trường quốc tế, xu hướng giá thế giới. Cơ sở và phương pháp xác
định tỷ giá hợp lý là cân bằng cung cầu ngoại tệ theo nguyên tắc ngang giá sức mua
(PPP). Định hướng điều chỉnh tỷ giá cần bám sát cung cầu ngoại tệ (chủ yếu là
USD) để sử dụng khoản dự trữ ngoại tệ như một cái neo an toàn hay một vũ khí
hiệu nghiệm một cách hiệu quả nhất. Mục tiêu dài hạn là khả năng chuyển đổi hoàn
toàn của VND và một tỷ giá thích hợp có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế
với nhịp độ cao, khuyến khích xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
II. Khuyến nghị
Cần hoàn thiện cơ chế điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Để đảm bảo cho tỷ giá phản ánh
đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường nên từng bước mở rộng và tiến tới
loại bỏ việc qui định khung tỷ giá với biên độ của Ngân hàng Nhà nước đối với các
hợp để phát triển nông nghiệp, khuyến khích xuất khẩu, bài trừ tham nhũng… Từng
bước tăng mệnh giá VND: VND là một trong những đồng tiền có mệnh giá thấp
trên thế giới. Đây chính là điểm mâu thuẫn nội tại trong chính sách tiền tệ, muốn
nâng giá trị đồng tiền của mình nhưng lại để mệnh giá quá thấp. Vì vậy, cần có
phương án lâu dài, từng bước làm tăng mệnh giá của đồng Việt Nam. Tuy nhiên,
không thực hiện đổi tiền như trước đây gây ảnh hưởng rất lớn và có nhiều tác động
xấu mà nhiều năm vẫn chưa khắc phục hết. Có thể thực hiện đổi tiền bằng cách lưu
hành đồng thời đồng tiền cũ và đồng tiền mới trong thời gian một vài năm Tạo khả
năng chuyển đổi từng phần cho đồng tiền Việt Nam: đồng tiền chuyển đổi được sẽ
tác động tích cực đến hoạt động thu hút vốn đầu tư, hạn chế tình trạng lưu thông
nhiều đồng tiền trong một quốc gia. Hiện tượng đô la hóa nền kinh tế được hạn chế.
Việc huy động các nguồn lực trong nền kinh tế trở nên thuận lợi hơn, hoạt động
xuất nhập khẩu của quốc gia đó năng động hơn. Đồng tiền tự do chuyển đổi làm
giảm sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào chính sách quản lý ngoại hối và cơ
chế điều hành tỷ giá, giúp cho tốc độ chu chuyển vốn được đẩy mạnh, góp phần
đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế thế giới. Tuy nhiên, muốn tạo khả năng chuyển
đổi cho VND phải có đủ lượng ngoại tệ dự trữ và nền kinh tế vững mạnh. Khả năng
21
Đề tài: Cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam từ trước đến nay
cạnh tranh của hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam phải được nhanh
chóng cải thiện.
PHẦN V: KẾT LUẬN
Đề tài “Cơ chế điều hành tỷ giá Việt Nam từ trước đến nay” có mục đích nhằm
tìm hiểu rõ hơn về thực trạng thị trường ngoại hối, quản lý ngoại hối tại Việt Nam
hiện nay cũng như tác động của chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Nhà nước
ta đến thị trường này. Nghiên cứu bài học kinh nghiệm về chính sách tỷ giá hối