tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức trên địa bàn thành phố cần thơ - Pdf 31

Tuyển dụng viên chức – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2010 - 2014
ĐỀ TÀI:

TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG, QUẢN LÝ VIÊN CHỨC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn:
Thầy Lâm Bá Khánh Toàn

Sinh viên thực hiện:
Phạm Thị Thu Hƣơng
MSSV: B100202
Lớp: LK1063A1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2013

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 1

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng – B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

2.3.1. Thi tuyển……………………………………………..……………………..25
2.3.2. Xét tuyển………………………….………………………………………...28
2.4. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong tuyển dụng viên chức……………29

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 2

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

2.4.1. Đơn vị tuyển dụng………………….………………………………….…29
2.4.2. Quyền của ứng viên……………………….………………......…………..30
2.4.2.1. Trong giai đoạn dự tuyển……………………………………………30
2.4.2.2. Sau khi được tuyển dụng......................................................................32
2.5. Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động tuyển dụng viên chức………………….33
2.5.1. Yếu tố chủ quan............................................................................................33
2.5.2 Yếu tố khách quan.........................................................................................35
CHƢƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG, HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ......................37
3.1. Tổng quan về lực lƣợng lao động, lực lƣợng viên chức thành phố Cần Thơ
..................…................................................................................................................37
3.2. Thực tiễn hoạt động tuyển dụng viên chức tại Sở Giáo dục- Đào tạo, Y tế,
Lao động-Thƣơng binh và Xã hội thành phố Cần Thơ…………………………...38
3.2.1. Căn cứ pháp lý và hình thức thực hiện…….……………………………..38
3.2.2. Những kết quả đạt được...............................................................................43
3.2.3. Khó khăn, hạn chế........................................................................................45

nâng cao hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ công và thực hiện chức năng xã hội của
Nhà nước.
Việc tuyển dụng nhân lực mới tại các đơn vị sự nghiệp công lập cũng đang gặp
phải một số vướng mắc như thiếu sự chủ động, khó thu hút nhân lực có chất lượng
chuyên môn cao, tiêu cực phát sinh trong tuyển dụng, sự bất hợp lý từ các quy định
pháp luật. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng
nhân lực tại các đơn vị này. Để điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, các cơ quan nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nhiều văn bản còn
chưa phù hợp với thực tế, hệ thống văn bản vẫn còn thiếu sự thống nhất.
Với đặc thù của hoạt động cung cấp dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp công
lập cần thiết phải sử dụng một lực lượng lớn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ
thuật, được đào tạo nghiêm túc qua hệ thống trường lớp. Thực tế, các đơn vị này đang
nắm giữ một số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm hơn so
với bất kỳ hệ thống cơ quan, đơn vị nào khác.
Mặt khác, quan điểm, cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ
nhân lực làm việc tại đây cũng có nhiều sự thay đổi đã tạo ra một sự bị động từ phía
các đơn vị này. Luật Viên chức đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, là luật đầu
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 4

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng – B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

tiên điều chỉnh riêng về nhóm đối tượng viên chức. Việc ban hành Luật Viên chức
chứa đựng hy vọng sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức và các
đơn vị sự nghiệp công lập.


GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 5

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 ra đời tới thời điểm hiện tại, khi Luật Viên
chức đã có hiệu lực thi hành.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích - tổng hợp
trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan tới tuyển dụng viên chức,
cơ chế quản lý, sử dụng viên chức, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập và tác động
của cơ chế, pháp luật tới thực tiễn.
Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt giữa tuyển dụng
viên chức với các đối tượng khác. Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để tìm
hiểu số lượng viên chức được tuyển dụng tại một số đơn vị sự nghiệp công lập.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên
quan tới tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, sự tác động của một
số yếu tố tới thực tiễn tuyển dụng và những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả
tuyển dụng viên chức.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào hoạt động tuyển dụng viên chức
tại các đơn vị sự nghiệp công lập, chủ yếu là các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế từ
khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 ra đời tới thời điểm hiện tại, khi Luật Viên
chức đã có hiệu lực thi hành.
6. Kết cấu của luận văn

giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo
tối cao của Chính phủ.” 1
Các văn bản trong thời kỳ này gọi những người làm việc trong các đơn vị sự
nghiệp như y tế, giáo dục, khoa học là công chức. Ở giai đoạn này chưa có sự phân
biệt rạch ròi giữa công chức và viên chức mà đồng nhất hai khái niệm lại là một.
Theo Hiến pháp năm 1959, Nghị định 24/CP ngày 8/11/1962 của Hội đồng
Chính phủ ban hành Điều lệ tuyển dụng công nhân, viên chức nhà nước. Công nhân,
viên chức là những người làm việc ở xí nghiệp, công trường, trường học và cơ quan
nhà nước. Giai đoạn này cũng xuất hiện thuật ngữ “cán bộ” là những người được bầu
trong các cơ quan, tổ chức nhà nước.
 Giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 1998
Tại Điều 8 Hiến pháp năm 1980, quy định: “Cán bộ, viên chức nhà nước có
nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân”. Như vậy theo quy định của Hiến pháp năm 1980
thì những người làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước được gọi là cán bộ, viên
chức, không có đối tượng công nhân.
Điều 8 Hiến pháp năm 1992 quy định những người phục vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước là cán bộ, viên chức. Như vậy trong giai đoạn này thuật ngữ viên
chức đã xuất hiện, thế nhưng việc phân biệt giữa cán bộ và viên chức cũng chưa thật
sự rõ ràng và chưa được quan tâm đến nhiều.
1

Sắc lệnh số Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 7

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202



quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Luật viên chức xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp
của viên chức. Điều này sẽ góp phần từng bước giảm dần chế độ chủ quản đối với đơn
vị sự nghiệp công lập và hoàn thiện cơ chế kiểm soát đối với việc thực hiện thẩm
quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập.
Luật viên chức đã hoàn thiện và bổ sung các quyền, nghĩa vụ của viên chức, đó
là các quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định. Bên cạnh
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 8

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

đó, Luật viên chức cũng đã hoàn thiện hệ thống các nghĩa vụ của viên chức (bao gồm
cả những việc viên chức không được làm) phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động
nghề nghiệp của viên chức.
Luật viên chức tiếp tục đổi mới cơ chế và các nội dung quản lý viên chức: Một
trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức là:
Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc”. Đây
là nguyên tắc đặt nền móng để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo chế độ
việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ. Luật đề cao và
gắn thẩm quyền với trách nhiệm người đứng đầu trong vấn đề xác định số lượng vị trí
việc làm, số lượng viên chức và quản lý viên chức để phát huy tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập, góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực sự
nghiệp dịch vụ công.


SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

mang tính chuyên nghiệp hơn. Tùy từng giai đoạn, từng chế độ xã hội mà lực lượng
lao động theo chuyên môn có tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút
trong quản lý, sử dụng và hoạt động cung cấp dịch vụ. Nhưng có một điểm chung là
những người làm công việc này có được một sự tôn trọng từ phía nhà nước và xã hội.
Theo đó viên chức là một khái niệm rất rộng, “có khi dùng để chỉ một phạm vi
rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước”. Viên chức theo
cách hiểu ở trên không được sử dụng nguyên nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp
luật có hiệu lực thấp hơn. Tại Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm
từ được sử dụng là “cán bộ, công chức”. Khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm
2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công
chức. Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là công dân Việt Nam, trong biên
chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ
thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy
định của pháp luật.

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 10

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

Việc xác định rõ viên chức là tạo cơ sở pháp lý có giá trị nhằm xây dựng và
quản lý đội ngũ viên chức có đủ phầm chất, trình độ và năng lực đáp ứng được yêu
4

Điều 11 Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ.

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 11

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

cầu ngày càng cao trong quá trình phục vụ nhân dân và cộng đồng, phát huy tính
sáng tạo, tính năng động và năng lực của viên chức. Nhà nước có chính sách xây
dựng phát triển đội ngũ viên chức, thu hút bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ thỏa
đáng với lực lượng viên chức có tài năng có cống hiến cho xã hội để ngày càng
nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Viên chức là tầng lớp lao động trí thức được nhà nước tuyển dụng thông
qua hợp đồng làm việc.
Viên chức có viên chức viên chức giữ chức vụ và viên chức không giữ
chức vụ. Viên chức được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề
nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao;
được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy
chế của đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra, viên chức còn được hoạt động nghề nghiệp
ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc; được ký hợp đồng vụ,
việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm (nhưng phải hoàn
thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp

nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp. Ví dụ viên chức ngạch
giảng viên có giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp… Chức danh nghề
nghiệp được bổ nhiệm cho viên chức theo các nguyên tắc: làm việc ở vị trí việc
làm nào thì bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm đó,
người được bổ nhiệm phải đủ tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp. Việc thay
đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức được thực hiện thông qua thi hoặc
xét.
Việc đưa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập từ đối tượng viên chức
sang công chức là điều băn khoăn nhập nhằng. Luật công chức và viên chức còn
gập khuôn nhau.
Điều này khiến cho việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng viên
chức gặp một số điểm phức tạp.
- Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh
vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV. 5
- Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời
hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc
trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng
phụ cấp chức vụ quản lý.
- Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện
chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công
lập.6
Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị
sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động
của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp hành chính có thẩm quyền thành lập và quản
lý. Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, bộ
5

Lần đầu tiên Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã làm rõ được tiêu chí
xác định ai là cán bộ, ai là công chức… Từ đó, đã tạo cơ sở và căn cứ để đưa ra
những nội dung đổi mới và cải cách thể hiện trong Luật cán bộ, công chức, nhằm
giải quyết vấn đề mà thực tiễn quản lý đặt ra. Qua đó xác định rõ phạm vi, đối
tượng điều chỉnh làm cơ sở cho việc hình thành Luật Viên chức năm 2010.
Phân biệt cán bộ và công chức
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và công chức có
những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân
sách nhà nước; giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân
định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp
xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã).
Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành
viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn
với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm
quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 14

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi
như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước
và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của hệ

Được hưởng phụ cấp công từ quỹ lương của đơn vị sự
vụ.
nghiệp công lập theo quy định
của pháp luật, hoặc một phần từ
ngân sách, còn lại là nguồn thu sự
nghiệp. Làm việc ở vị trí nào thì
hưởng lương theo vị trí đó.

Nhiệm vụ

Thực hiện nhiệm vụ gắn với Thực hiện chức năng xã hội, trực
quyền lực nhà nước. Vận tiếp thực hiện nghiệp vụ. Thực

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 15

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

hành quyền lực nhà nước, hiện những công việc có yêu cầu
làm nhiệm vụ quản lý trong về trình độ, năng lực, kỹ năng
đơn vị sự nghiệp công lập.
chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn
Lao động của công chức vị sự nghiệp công lập.
mang tính chất quyền lực
công.


Trang 16

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

1.3. Đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp
luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. 7
Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để
cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo
đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh
vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung
cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn.
Chính phủ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy
hoạch, tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác
định lĩnh vực hạn chế và lĩnh vực cần tập trung ưu tiên phát triển, bảo đảm sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng các
hoạt động sự nghiệp. Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện dịch
vụ kinh doanh, thu lợi nhuận. Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách
chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành
các đơn vị sự nghiệp công lập.8
Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức
nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và

lập;
 Cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.9
Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành nhằm cung cấp những
dịch vụ công mà Nhà nước chịu trách nhiệm chủ yếu đảm bảo để phục vụ nhân
dân như lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội, thể dục thể thao, khoa học, môi
trường và các lĩnh vực khác mà không thu hút được ngoài công lập tham gia vì
không có lợi nhuận, không sinh lời như vệ sinh, môi trường hoặc là ngành mà đơn
vị ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng như ngành điện lực, cầu đường.
Như vậy, từ yêu cầu xác định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp, Chính
phủ đã cụ thể hóa quy định về việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập gắn với vị
trí việc làm của người lao động.
Nhưng hiện nay hoạt động cung cấp dịch vụ công thiết yếu được chính phủ
khuyến khích xã hội hóa, các đơn vị ngoài nhà nước có quyền tham gia (trừ một số
ngành nghề do Luật định vì mục đích quốc phòng-an ninh quốc gia); đơn vị cung
cấp dịch vụ công trong và ngoài công lập đều được nhà nước đối xử bình đẳng
thông qua hệ thống pháp luật quy định.
Ví dụ như hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở bảo trợ xã hội (ngành Lao độngThương binh và Xã hội)… đây là điểm khác biệt lớn nhất trong hoạt động giữa
đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị sự nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.
Chính vì hoạt động phục vụ nhà nước của đơn vị sự nghiệp công lập nên
nhà nước phải chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, nên có ba loại hình
về mức độ tự chủ về kinh phí hoạt động.10
 Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
9

Điều 4 Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2012 quy định về điều kiện thành lập, tổ chức lại,
giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.
10
Nghị định 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4 /2006 của Chính phủ, Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.


càng được quan tâm đầu tư và thực hiện thu hút lực lượng viên chức đến phục vụ.

1.4. Quản lý viên chức
Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật, các phát minh, sáng chế của thế giới vào quản lý và phát triển
sản xuất trong nước ở tất cả ngành nghề lĩnh vực làm đa dạng hàng hóa tiêu dùng,
xuất khẩu được mặt hàng nông nghiệp cải thiện cuộc sống nhân dân đưa đất nước
thoát khỏi tình trạng đói kém, thiếu lượng thực. Xác định được mục tiêu con người
11

Ths. Hoàng Thị Thu Hồng, tạp chí Quản lý nhà nước số 210, tháng 7 năm 2013.
Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 07/12/2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ về giao tổng
biên chế công chức trong cơ quan hành chính và tổng biên chế công chức viên chức trong đơn vị sự nghiệp
công lập năm 2013 của thành phố Cần Thơ.
12

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 19

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

là trung tâm của sự phát triển đảng và nhà nước ta quan tâm và coi trọng nhân tố
hàng đầu của sự phát triển, các năm qua và hiện nay Việt Nam đang phát huy nội
lực khẳng định được vị thế trên trường quốc tế, đồng thời xác định phát triển kinh tế
phải gắn với an sinh xã hội, phát triển bền vững, đảm bảo phúc lợi xã hội cho nhân
dân, thu hẹp khoảng cách vùng miền, thực hiện công bằng xã hội, từ đó có chính


Trang 20

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

Các bộ, cơ quan ngang bộ thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp
của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về viên chức.13
Ngoài nhiệm vụ quản lý Viên chức thì cơ quan quản lý còn tổ chức thực hiện
công việc kiểm tra, thanh tra Viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập như quy định
tại Điều 50 Luật Viên chức năm 2010.
Nhìn chung, những quy định pháp luật về Viên chức đã cụ thể hóa về quyền
và nghĩa vụ hay những hình thức tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, khen
thưởng, kỷ luật viên chức thể hiện được hướng nhìn nhận khách quan của đảng và
nhà nước về cơ chế đổi mới quản lý đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ được giao. Đổi mới cơ chế quản lý viên
chức nhằm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức, tài năng, chuyên môn nghiệp vụ
của đội ngũ viên chức, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách khu vực dịch vụ
công, phát triển và hội nhập quốc tế.
1.4.2. Nội dung quản lý
Sau khi dự tuyển viên chức có kết quả đạt, được tuyển dụng viên chức phải
ký hợp đồng làm việc lần đầu, hưởng lương theo chế độ tập sự, trừ những trường
hợp được hưởng chế độ thu hút, đãi ngộ thì không phải tập sự và xếp lương khác
với viên chức mới trúng tuyển, nhưng cũng phải thực hiện hợp đồng làm việc với
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quản lý quá trình hoạt động đơn

Viên chức phải tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ và quy
cách ứng xử, chịu sự thanh tra, giám sát của cơ quan tổ chức có thẩm quyền và nhân
dân theo vị trí việc làm được sắp xếp phân công của người đứng đầu đơn vị sự
nghiệp công lập.14
Nhìn chung, những quy định pháp luật về viên chức đã cụ thể hóa về quyền
và nghĩa vụ của viên chức cũng như các hình thức tuyển dụng, sử dụng, quản lý
viên chức ngày càng riêng biệt, đặc trưng và có đổi mới cơ bản cơ chế quản lý
viên chức nhằm phát huy tiềm năng tri thức của lực lượng viên chức, đáp ứng yêu
cầu quá trình cải cách khu vực dịch vụ công của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

14

Điều 48 Luật viên chức năm 2010.

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 22

SVTH: Phạm Thị Thu Hƣơng -B100202


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC
TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể về địa vị pháp lý của viên chức,
trong đó cụ thể quy trình tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ lương,
khen thưởng và hình thức kỷ luật riêng của viên chức.... Trong Chương 2 người viết
tập trung quy trình tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập để làm rõ


Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ

tăng 41.719 người, bằng 148% so với số người nghỉ và 10,5% so với số cán bộ,
công chức. Số lượng cán bộ, công chức, viên chức tăng hơn 20% sau 5 năm thực
hiện Nghị quyết 132 về tinh giản biên chế cũng như những kế hoạch và giải pháp
cụ thể để tiếp tục thực hiện tinh giản đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Theo số liệu từ Ban Nội chính Trung ương: biên chế công chức của năm
2007 là 238.668 người, năm 2012 là 274.694 người, tăng 15,09%. Số viên chức
năm 2007 là 1.490.544 người, năm 2012 là 1.872.044 người, tăng 25,59% . Số
tăng chủ yếu cho các đơn vị mới được thành lập hoặc các đơn vị cũ nhưng được
bổ sung về chức năng, nhiệm vụ, thuộc các lĩnh vực về môi trường, đất đai, biển
và hải đảo, du lịch, ngoại vụ, dân số, kế hoạch hóa gia đình và tăng ở một số địa
phương được chia tách theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền.15
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 là văn bản quy phạm pháp luật đầu
tiên cụ thể hoá những quy định về cán bộ, viên chức tại Hiến pháp năm 1992.
Pháp lệnh đã xây dựng những nội dung cơ bản về tuyển dụng, sử dụng, quản lý
viên chức. Tuy nhiên, do chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa công chức và viên
chức nên hoạt động tuyển dụng, quản lý, sử dụng đối với hai nhóm đối tượng này
không có sự khác biệt. Về vấn đề tuyển dụng, Pháp lệnh mới dừng lại ở những quy
định cơ bản để các đơn vị căn cứ thực hiện chứ chưa có những hướng dẫn chi
tiết.16
Như vậy, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi đã tính đến đặc thù công
việc của các đơn vị sự nghiệp và hoạt động nghề nghiệp của viên chức để thực
hiện hoạt động tuyển dụng. Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 có sự
phân biệt nhóm đối tượng viên chức và công chức tại các cơ quan nhà nước có
những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, sử dụng và
quản lý viên chức. Ngày 12/4/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số
29/2012/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Theo
Nghị định này, người đăng ký dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất,

chuyên môn kỹ thuật hoặc kỹ năng đặc biệt, được đào tạo về chuyên môn để đảm
nhiệm công việc. Vì vậy tuyển dụng viên chức theo một thủ tục đơn giản hơn, chủ
yếu bằng hình thức xét tuyển, nội dung xét tuyển tập trung đánh giá năng lực
chuyên môn của ứng viên. Đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức được tuyển
dụng ràng buộc nhau bởi hợp đồng làm việc.
Việc tuyển dụng viên chức nhiều năm qua mỗi địa phương thực hiện mỗi
cách khác nhau.
2.1.2. Nguyên tắc tuyển dụng viên chức
Nguyên tắc tuyển dụng phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng,
khách quan và đúng pháp luật. Bảo đảm tính cạnh tranh. Tuyển chọn đúng người
đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập. Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng,
người dân tộc thiểu số. 18
Đội ngũ viên chức hiện nay chiếm số lượng khá lớn đã và đang đáp ứng
những nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của viên chức
công tác tuyển dụng cần phải được xem xét chú trọng một cách cẩn thận. Tránh
tình trạng lợi dụng các mối quan hệ trong tuyển dụng, từ đó không đảm bảo các
yêu cầu về chất lượng làm việc của viên chức. Xuất phát từ yêu cầu bức thiết của
xã hội việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
17

Điều 3 Luật viên chức năm 2010.

18

Điều 21 Luật Viên chức.

GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn

Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status