ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN TRỌNG HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG
THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2010
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN TRỌNG HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG
THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH:
Ban Giám hiệu
CBQL:
Cán bộ quản lý
CLGD:
Chất lượng giáo dục
CMHS
Cha mẹ học sinh
CSVC:
Cơ sở vật chất
GD&ĐT:
Giáo dục và Đào tạo
KĐCLGD:
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .............................................................................................
1
1.
Lý do chọn đề tài ……………………………………………….........
1
2.
Mục đích nghiên cứu …………………………………………...........
2
3.
Khách thể nghiên cứu ………………………………………….........
2
4.
Giả thuyết nghiên cứu …………………………………………........
2
Tổng quan về vấn đề đảm bảo chất lượng ……………………..........
5
1.2
Các khái niệm công cụ …………………………………………........
6
1.2.1 Quản lý .......................................................................................
6
1.2.2 Quản lý giáo dục .......................................................................
8
1.2.3 Chất lượng .................................................................................
10
1.2.4 Chất lượng giáo dục ..................................................................
11
1.2.5 Quản lý chất lượng ....................................................................
12
1.4.1 Tổ chức tập huấn nghiên cứu chuẩn ..........................................
22
1.4.2 Tổ chức tập huấn viết báo cáo tự đánh giá, xác định minh
5
chứng ...................................................................................................
23
1.4.3 Tổ chức tập huấn lập kế hoạch khắc phục điểm yếu .................
25
1.4.4 Tổ chức thảo luận kế hoạch khắc phục điểm yếu, rút kinh
25
nghiệm ................................................................................................
1.4.5 Hướng dẫn thủ tục phối hợp đoàn đánh giá ngoài ...................
26
Kết luận chương 1 .......................................................................................
28
lượng và hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông ............
30
2.2.2. Nghiên cứu, xác định nội dung các tiêu chuẩn đánh giá chất
2.3
lượng của trường THPT Yên Hòa .....................................................
33
2.2.3. Đối chiếu thực trạng của nhà trường so với chuẩn ..................
37
2.2.4. Xây dựng kế hoạch khắc phục điểm yếu ...................................
37
Thực trạng quản lí hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn của
trường THPT Yên Hòa ……………………………………................
38
2.3.1 Tổ chức tập huấn nghiên cứu chuẩn ..........................................
38
2.3.2 Tổ chức tập huấn viết báo cáo tự đánh giá. ...............................
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO
CHẤT LƢỢNG THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG
GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG …………………
61
Các nguyên tắc đề xuất ………………………………………...........
61
3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa ............................................................
61
3.1.2. Nguyên tắc tính toàn diện .........................................................
64
3.1.3. Nguyên tắc tính khả thi .............................................................
64
3.1.4. Nguyên tắc tính hiệu quả ..........................................................
65
Các biện pháp…………………………………………………..........
65
3.2.6. Thăm dò tính khả thi của đề xuất..............................................
101
Kết luận chương 3 ........................................................................................
103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................
105
Kết luận ................................................................................................
105
Khuyến nghị .........................................................................................
107
Phụ lục
7
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1
hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam mới, và là tiền đề cho việc
đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Bậc trung học phổ thông được cả xã hội luôn
luôn quan tâm, lo lắng. Trong nhiều năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc học này như thí điểm phân ban, thay đổi
chương trình và sách giáo khoa, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí, giáo viên, phát
động các phong trào, hoạt động của ngành phục vụ nâng cao chất lượng giáo dục …
Đặc biệt, mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục của bậc trung học phổ thông cũng
như các bậc học khác đã được cụ thể hóa qua các văn bản của Luật, Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng, …
Để có những căn cứ đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục của bậc trung
học phổ thông, ngày 30 tháng 12 năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết
định số 80/2009/QĐ-BGDĐT ban hành Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
giáo dục trường trung học phổ thông; ngày 31 tháng 12 năm 2008 ra Quyết định số
83/2009/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Qui định qui trình và chu kì kiểm định chất
lượng cơ sở giáo dục phổ thông.
Như vậy, chất lượng giáo dục phổ thông đã có căn cứ là các tiêu chuẩn đánh
giá. Để việc nâng cao chất lượng giáo dục bậc học này thì các cơ sở giáo dục phổ
thông cần phải triển khai hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục theo chuẩn đã ban
hành.
Một thực tế cho thấy, nhiều cơ sở giáo dục trên địa bàn Thành phố Hà Nội,
trong đó có trường THPT Yên Hoà, chưa nhận thức đúng yêu cầu của hoạt động
đảm bảo chất chượng theo tiêu chuẩn đánh giá. Một trong những biểu hiện cụ thể là
qua công tác tự đánh giá để kiểm định chất lượng giáo dục các cơ sở giáo dục phổ
thông theo yêu cầu của Bộ GD &ĐT, các trường còn lúng túng, gặp rất nhiều vướng
9
mắc, hạn chế, còn bàn cãi, thâm chí còn làm với hình thức đối phó. Vì vậy, hoạt
động đảm bảo chất lượng giáo dục theo chuẩn chưa thể hiệu quả được, bền vững.
- Phân tích thực trạng hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục theo chuẩn tại
trường THPT Yên Hòa, Cầu Giấy – Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lí hoat động đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng trường trung học phổ thông.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện và thời gian có hạn, đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp
quản lí hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn tại trường trung học phổ thông
Yên Hòa.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lí thuyết để
xá định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lí thuyết cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là cán bộ quản lí về công tác
quản lí chất lượng giáo dục.
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là người đứng đầu các tổ
chức đoàn thể trong nhà trường về công tác quản lí chất lượng giáo dục
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là cán bộ, giáo viên, nhân
viên về công tác quản lí chất lượng giáo dục
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là học sinh của nhà trường về
công tác quản lí chất lượng giáo dục
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia
Tác giả hỏi ý kiến các chuyên gia về bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
dục trường trung học phổ thông và kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông
dưới các hình thức: tổ chức hội thảo, xin ý kiến trực tiếp với từng chuyên gia.
- Phương pháp thống kê
2/ Hướng dẫn
3/ Đào tạo đội ngũ
4/ Cung cấp trang thiết bị, công nghệ và phương pháp luận đánh giá sản
phẩm.
5/ Phân tích ý kiến của khách hàng, đảm bảo quyền và trách nhiệm pháp lý
của sản phẩm.
Như vậy, mô hình đảm bảo chất lượng dựa trên nguyên lý là tất cả các bộ
phận chức năng phải chia sẻ trách nhiệm về chất lượng, cung cấp mọt phương pháp
hữu hiệu để đạt và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng. [19, tr.23]
Một cách tiếp cận khác cho rằng, quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng
là một hệ thống các nguyên tắc làm việc có mục đích sắp xếp công việc trong một
tổ chức nhằm đảm bảo rằng:
- Các mục đích và sứ mệnh của tổ chức đó là rõ ràng và được tất cả mọi
người trong nhà trường biết đến [tính minh bạch].
- Có các hệ thống quản lý làm việc và ở đó công việc được sắp xếp trôi chảy,
hết sức rõ ràng, và tất cả mọi người trong tổ chức đều phải được biết [tính kế
hoạch].
- Mọi người luôn hiểu rõ ai chịu trách nhiệm về cái gì [tính chịu trách
nhiệm].
13
- Quan niệm thế nào là chất lượng trong tổ chức đó phải được quy định trên
giấy tờ và được sự đồng lòng của tất cả mọi người [tính nhất trí và quy định rõ
chuẩn mực].
- Có một hệ thống nhằm kiểm tra rằng tất cả công việc đều được làm theo kế
hoạch; khi có gì sai sót và chắc chắn sẽ có sai sót có những phương pháp đã được
đồng ý trước để sửa chửa các sai sót đó [các cơ chế đảm quản lý chất lượng].[9]
Như vậy, quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng giúp các tổ chức có thể đảm
Có tác giả lại cho rằng quản lý là tác động vừa có tính khoa học vừa có tính
nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Các nghiên cứu về lý luận quản lý từ những lý luận và quan điểm của những
tác giả trên cho thấy nổi lên các khuynh hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận quản lý theo quan điểm điều khiển học và lý
thuyết hệ thống. Theo đó quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với các bản chất khác nhau như như sinh học, xã hội,
kinh tế, kỹ thuật v.v … Quản lý là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho hệ vận
động, vận hành và phát triển.
Thứ hai, nghiên cứu quản lý được xem như là một hoạt động, một lao động
tất yếu trong các tổ chức.
Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các chức
năng quản lý được thực hiện theo một trình tự và chúng tương tác qua lại với nhau.
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của
các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt
mục đích đã xác định. [15]
Dù quản lý được định nghĩa theo nhiều các khác nhau như vậy, nhưng các
định nghĩa đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản và bao gồm các yếu tố sau:
+ Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hoặc nhiều người đóng vai trò là tác
nhân tạo ra các tác động, là trung tâm thực hiện những hoạt động tổ chức, khai thác,
những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý.
+ Đối tượng quản lý: Có thể là một người hoặc nhiều người trong tổ chức và
các yếu tố được sử dụng làm nguồn lực của tổ chức. Đối tượng quản lý chịu sự tác
động của chủ thể quản lý.
+ Công cụ quản lý: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý được sử
dụng để định hướng, dẫn dắt, khích lệ, phối hợp các hoạt động của con người và các
bộ phận trong một tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, công cụ
15
16
Đến ngày nay, quản lý giáo dục thực sự đã trở thành một chuyên ngành khoa
học đang phát triển đã trải qua nhiều biến đổi, bổ sung và ngày một phong phú.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội nhưng có một đặc trưng riêng là
đào tạo con người. Do đó, quản lý giáo dục có đầy đủ những yếu tố của quản lý nói
chung nhưng lại phải đảm bảo những nguyên tắc riêng của quản lý giáo dục.
Đó là, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Chẳng hạn,
quản lý giáo dục ở Việt Nam phải đảm bảo nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt nam. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách giáo
dục phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
Nguyên tắc pháp chế: Các cơ quan quản lý giáo dục phải tuân thủ qui chế
quản lý hành chính của bộ máy nhà nước. Các cơ quan quản lý giáo dục phải là một
cơ quan có tư cách pháp nhân và có thẩm quyền trong khuôn khổ pháp luật để quản
lý các hoạt động giáo dục.
Nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội: Nguyên tắc này đòi hỏi phải kết hợp
quản lý giáo dục mang tính chất nhà nước với quản lý giáo dục mang tính chất xã
hội để tạo sự tham gia của quần chúng lao động, các tổ chức xã hội vào xây dựng và
quản lý nhà trường.
Nguyên tắc quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương, vùng lãnh thổ:
Nghĩa là, có sự quản lý nhà nước thống nhất nhất từ Trung ương đến cơ sở về nội
dung hoạt động giáo dục và đào tạo, kết hợp với sự phân cấp và phối hợp quản lý
nhà nước về việc đảm bảo các nguồn lực cho các hoạt động giáo dục theo địa
phương, vùng, lãnh thổ.
Nguyên tắc tính khoa học: đòi hỏi quản lý giáo dục phải xây dựng trên hệ
thống tri thức sâu rộng, trên sự tổng kết quá trình phát triển của lý luận quản lý và
phải nhận thức được những qui luật khách quan của giáo dục, của tự nhiên và xã hội
để có thể sử dụng vào thực tiễn quản lý giáo dục.
dich vụ được cung cấp với đầy đủ những “thông số kỹ thuật đã định, thì mọi sự sai
lệch đều làm giảm chất lượng của sản phẩm, dịc vụ đó. Cách tiếp cân này dự trên
sản xuất về chất lượng.
(iv) Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu) nếu “nó đáp ứng nhu
cầu của khách hàng”. Trong trường hợp này chất lượng chỉ được xem xét một cách
đơn giản dưới con mắt của khách hàng, tức là những người sử dụng chúng [14].
18
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ thì chất lượng được xem
là giá trị của tổ chức, là thước đo năng lực sản suất tạo ra sản phẩm và chất lượng
luôn là mục tiêu để khách hàng tìm kiếm. Trong xã hội hiện đại, chất lượng của sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ được xác lập dựa trên những tiêu chí, chỉ số cụ thể. Do đó,
người ta hoàn toàn có thể nhận biết, so sánh chất lượng của những vật có cùng đặc
điểm.
1.2.4. Chất lượng giáo dục
Bản thân chất lượng đã khó định nghĩa thì việc nói rõ chất lượng giáo dục lại
càng khó khăn hơn. Bởi vì, chất lượng giáo dục bản thân nó đã chứa đựng nhiều yếu
tố vô hình và không phải lúc nào cũng nhìn thấy, đo đếm được. Chất lượng giáo dục
nằm ngay trong các thành tố của giáo dục và còn lưu lại trong mỗi con người đã
được học tập, giáo dục trong môi trương ấy.
Ở cấp độ hệ thống (hệ thống giáo dục quốc dân), chất lượng giáo dục được
hiểu là chất lượng của cả hệ thống giáo dục ấy. Một hệ thống giáo dục thường phức
tạp và bao gồm nhiều thành tố cấu tạo nên hệ thống. Do vậy, khi nói đến chất lượng
giáo dục của hệ thống chúng ta ngầm hiểu rằng chất lượng giáo dục của cả hệ thống
là tổng hợp chất lượng của tất cả những gì tạo nên hệ thống. Điều này nhắc nhở
chúng ta phải phân biệt được giữa chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng giáo
dục. Chất lượng giáo dục là một phạm trù triết học xác định sự vật là nó chứ không
phải là cái khác, còn quản lý chất lượng giáo dục là hành động chủ quan, có mục
giáo dục trong nhà trường mà chất lượng giáo dục phải có ở tất cả những gì tạo nên
nhà trường thậm chí cả những yếu tố bên ngoài nhà trường. Do đó, chất lượng giáo
dục không chỉ giới hạn trong nhà trường mà bao gồm cả những bộ phận trong cả hệ
thống giáo dục có mối quan hệ với cơ sở giáo dục. Như trên chúng ta đã quan niệm
chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân là chất lượng giáo dục tổng
quát thì chất lượng giáo dục trong nhà trường chính là chất lượng ở dạng đơn vị vì
các cơ sở giáo dục là những bộ phận cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.5. Quản lý chất lượng
1.2.5.1. Quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng cũng như chất lượng, có nhiều khái niệm khác nhau.
Chẳng hạn, theo A.G.Robertson, một chuyên gia về chất lượng người Anh cho rằng:
“Quản lý chất lượng sản phẩm được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm
xây dựng chương trình phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì
và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền
20
sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của
người tiêu dung”. Theo định nghĩa này, quản lý chất lượng chính là hệ thống quản
trị tác động từ khâu thiết kế đến sản xuất sao cho thỏa mãn yêu cầu của người tiêu
dùng. Nhu cầu của người tiêu dùng sẽ chi phối hệ thống quản trị. Khi nhu cầu thay
đổi thì hệ thống quản trị phải thay đổi theo nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng.
Còn đối với A.V.Feigebaum thì lại định nghĩa quản lý chất lượng là “Một hệ
thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ
chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã
đạt và nâng cao nó”. Theo định nghĩa này, quản lý chất lượng tập trung vào việc
triển khai các tham số chất lượng. Điều mấu chốt của định nghĩa này coi quản lý
chất lượng là hệ thống hoạt động triển khai các tham số chất lượng.
xong có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có
lỗi. Việc làm này thường kéo theo lãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại
các sản phẩm không đạt yêu cầu.
Kiểm soát chất lượng là một quá trình mà trong đó một sản phẩm hay một
dịch vụ, hoặc bất cứ bộ phận nào trong quá trình có liên quan đến việc sản xuất hay
vận chuyển sản phẩm, được kiểm tra theo một tiêu chuẩn đó được định trước và sẽ
bị loại bỏ hay làm lại nếu như nó dưới chuẩn (Ellis, 1993).
Nói cách khác, kiểm soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại các lỗi
trong quá khứ. Kiểm soát chất lượng trong môi trường sản xuất là “một phương
thức cần thiết cho việc thanh tra và loại bỏ, những sản phẩm có khiếm khuyết (mặc
dù có một số phương pháp thống kê của lý thuyết này có thể được sử dụng nhằm
tránh khả năng có các sản phẩm này)” (Freeman, 1994). Russo (1995) định nghĩa
chất lượng như “một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi một sản phẩm, hay một mẫu
sản phẩm, được kiểm soát”. Theo Russo, khái niệm chủ yếu trong kiểm soát chất
lượng là “quá trình này không nhằm vào gốc rễ của vấn đề. Kiểm soát chất lượng
chỉ giải quyết các vấn đề sau khi chúng bị phát hiện.” Theo Vroeijenstijn (1992),
kiểm soát chất lượng (và đo lường chất lượng) là việc tóm tắt các thông tin và hàm
ý là sẽ có các ý định trừng phạt hay khen thưởng. Kiểm soát chất lượng “vốn dĩ là
nhằm trừng phạt, áp đặt các hình phạt cho việc làm thiếu hiệu quả, nhưng đồng thời
nó cũng cho thấy rằng một khi sản phẩm đã đạt được mức độ tối thiểu thì không cần
phải nỗ lực để cải tiến” (Vroeijenstijn, 1992). Kiểm soát chất lượng, do đó, không đi
22
ra ngoài việc chấp nhận hay từ chối một sản phẩm. Từ quan niệm đó về kiểm soát
chất lượng, chất lượng có thể được hiểu như sau:
- Một đánh giá về mức độ mà các đặc điểm của sản phẩm đáp ứng được các
yêu cầu mà ngay từ đầu một qui trình sản suất đã qui định; hoặc
- Mức độ mà một sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về các đặc điểm mà một
thể có vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng.
Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính
sách, thủ tục, qui trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được,
duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998). Định nghĩa này cũng
được Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Australia sử dụng.
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được
tính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng (Kells,
1988; Neave & van Vught, 1991). Theo Russo (1995), đảm bảo chất lượng là sự
“xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các
dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm. Nếu như chúng ta có hệ thống đảm bảo chất
lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phế phẩm.
“Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến
hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ cần thiết để tạo sự tin tưởng
rằng thực tế (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814).
(iii) Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management - TQM)
Cũng giống như một hệ thống đảm bảo chất lượng, TQM tập trung vào năm
lĩnh vực: sứ mạng và chú trọng đến khách hàng; cách tiếp cận các hoạt động có hệ
thống; việc phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực; các tư tưởng dài hạn; và sự phục vụ
hết mực. Theo Sherr và Lozier (1991), có năm thành phần chính ảnh hưởng đến
việc cải tiến chất lượng ở trường học: sự trung thực, chia sẻ quan điểm, kiên nhẫn,
hết lòng làm việc, và lý thuyết TQM. Trong năm thành tố trên, chỉ có cái cuối cùng
là có thể dạy và học được.
Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể - một mô hình cũng có xuất xứ từ
thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục. Đặc trưng của
mô hình Quản lý chất lượng tổng thể là ở chỗ nó không áp đặt một hệ thống cứng
nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nó tạo ra một nền “Văn hoá chất lượng” bao
trùm lên toàn bộ quá trình đào tạo. Triết lý của Quản lý chất lượng tổng thể là tất cả
mọi người bất kỳ ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản
24
hội.
25