HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ
Đề tài:
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ NƯỚC THẢI
HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
Tháng 9 1năm 2010
MỤC LỤC
Phần mở đầu .........................................................................................................4
...................................................................................................................................
2
Phần nội dung........................................................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ
NƯỚC THẢI
1 Khái niệm cơ bản ..............................................................................................6
1. 1 Khái niệm môi trường, môi trường đô thị .......................................................6
1.1.1 Khái niệm môi trường ...................................................................................6
1.1.2 Khái niệm về môi trường đô thị, phát triển bền vững ...................................6
1.1.3 Khái niệm về chất thải rắn ............................................................................7
1.1.4 Khái niệm về nước thải .................................................................................8
1.2 Những quy định về bảo vệ môi trường Việt Nam và quản lý chất thải rắn
và nước thải
vào thời điểm hiện tại là những thách thức dễ thấy và không dễ vượt qua. Việc
phát triển các hệ thống thoát nước, xử lý nước thải cũng như quản lý chất thải rắn
tại các đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam trong những năm qua còn nhiều bất
cập. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, song nguyên nhân chính là
việc huy động các nguồn lực trong xã hội cùng tham gia cũng như việc huy động
nguồn vốn và tổ chức quản lý còn yếu kém.
Gắn với thực trạng hiện nay, việc nghiên cứu về Quản lý chất thải rắn và
nước thải hướng tới phát triển đô thị bền vững là thật sự cần thiết và hữu ích.
Với khả năng nhận thức hiện tại, thời gian và nguồn tài liệu nghiên cứu có
hạn nên sẽ còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy có ý kiến nhận xét để người viết
có thêm nhiều kinh nghiệm để việc viết tiểu luận ngày càng được tốt hơn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiểu luận nhằm mục đích đề
xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn và nước thải hướng tới phát triển đô
thị bền vững ở nước ta hiện nay.
4
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3 nhiệm vụ
- Tổng quan lý luận về quản lý chất thải rắn và nước thải hướng tới phát triển đô
thị bền vững.
- Phân tích thực trạng quản lý chất thải rắn và nước thải ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn và nước thải hướng tới phát triển đô thị
bền vững..
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu về quản lý chất thải rắn và nước thải hướng tới phát
triển đô thị ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận: Tiểu luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp về
phát triển của thiên nhiên và con người trong đô thị và các điểm dân cư.
Môi trường đô thị có ảnh hưởng lớn và có mối quan hệ chặt chẽ đối với
việc bảo vệ cảnh quan đô thị và sức khỏe của nhân dân. Ngoài ra còn ảnh hưởng
lớn đến sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… nhất là sản xuất nông nghiệp
Bảo vệ môi trường đô thị là thông qua công tác đồng bộ trên các mặt luật
pháp, hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm tạo điều kiện tổ chức
tốt môi trường ở và môi trường lao động; giảm thiểu các tác động xấu ảnh hưởng
đến các yếu tố tự nhiên và xã hội đô thị. Việc bảo vệ môi trường đô thị là nhiệm
vụ của Nhà nước và chính quyền đô thị và của cộng đồng dân cư.
6
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã
hội và bảo vệ môi trường.
1.1.3 Khái niệm về chất thải rắn
Theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, chất thải được hiểu là vật chất ở
thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc
hoạt động khác. Đó như là một loại vật chất mà người ta thải đi như một thứ vô
giá trị. Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 29/4/2007của Chính phủ về quản lý
chất thải rắn, định nghĩa như sau: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải
ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động
khác”.
Có nhiều cách khác nhau để phân loại chất thải rắn, tùy theo tính chất và
căn cứ để phân chia. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến:
- Theo tính chất thì chất thải rắn được phân thành: chất thải rắn thông
thường và chất thải rắn nguy hại.
+ Chất thải rắn thông thường: không chứa chất hoặc các hợp chất có đặc tính
ăn, không khí và đặc biệt thấy rõ là sự ô nhiễm hình thành từ các bãi rác.
Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh là nơi phát sinh các nguồn bệnh nguy
hiểm.
1.1.4 Khái niệm về nước thải
Hiến chương Châu Âu đã định nghĩa nước ô nhiễm như sau: “Ô nhiễm
nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm
bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”.
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải là
nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình
công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.
8
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình
sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Thông
thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là
cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý.
* Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động
thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác.
* Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải
từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
* Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách
khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.
* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những
thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
* Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng
trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại
nước thải trên.
Bằng trực giác, con người có thể nhận thấy được các chất hoà tan trong
lên. Vị mặn chát là do một số muối vô cơ hoà tan, điển hình là muối ăn (NaCl) có
vị mặn.
* Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước sẽ thay đổi theo từng mùa trong năm. Nước
bề mặt ở Việt Nam dao động từ 14,3-33,50C. Nguồn gốc gây ô nhiễm nhiệt độ
chính là nhiệt của các nguồn nước thải từ bộ phận làm lạnh của các nhà máy, khi
nhiệt độ tăng lên còn làm giảm hàm lượng Ôxy hoà tan trong nước.
10
* Độ dẫn điện: Các muối tan trong nước phân li thành các ion làm cho
nước có khả năng dẫn điện. Độ dẫn điện phụ thuộc vào nồng độ và độ linh động
của các ion. Do vậy, độ dẫn điện cũng là một yếu tố đánh giá mức độ ô nhiễm
nước.
* DO (lượng Ôxy hoà tan): DO là lượng Ôxy hoà tan trong nước cần thiết
cho sự hô hấp của các sinh vật sống dưới nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn
trùng…). DO thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp
của tảo. Nồng độ Ôxy tự do trong nước nằm khoảng 8-10 mg/l và dao động mạnh
phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo… Khi
nồng độ DO thấp, các loài sinh vật trong nước giảm hoạt động hoặc chết. Do vậy,
DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
* Chỉ tiêu vi sinh vật: Nước thải chứa một lượng lớn các vi khuẩn, vi rút,
nấm, rêu tảo, giun sán... Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn bởi vi khuẩn, người ta
đánh giá qua một loại vi khuẩn đường ruột hình đũa điển hình có tên là Côli
(NH4Cl). Côli được coi như một loại vi khuẩn vô hại sống trong ruột người, động
vật. Côli phát triển nhanh ở môi trường Glucoza 0,5% và Clorua amoni 0,1%;
Glucoza dùng làm nguồn năng lượng và cung cấp nguồn Cacbon, Clorua amoni
dùng làm nguồn Nitơ. Loại có hại là vi rút. Mọi loại vi rút đều sống ký sinh nội tế
bào. Bình thường khi bị dung giải, mỗi con Côli giải phóng 150 con vi rút. Trong
1 ml nước thải chứa tới 1.000.000 con vi trùng Côli.
trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của
Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
xả nước thải;
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về chất thải rắn, nước thải
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu,
tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Trong đó, nội dung quản lý
nhà nước về chất thải rắnm nước thải bao gồm:
12
- Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản lý chất thải rắn,
nước thải; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn,
nước thải và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật.
- Ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất
thải rắn, nước thải.
- Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải
rắn, nước thải.
- Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý
chất thải rắn, nước thải.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản
lý chất thải rắn, nước thải.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI
Ở NƯỚC TA
Nhắc đến nước và rác thải, hầu hết chúng ta đề chỉ có liên tưởng đến các
vấn đề xã hội và ô nhiễm môi trường. Nhưng trên thực tế, vấn đề nước và rác thải
liên quan chặt chẽ đến kinh tế và phát triển đô thị bền vững. Theo ước tính nền
kinh tế Việt Nam thiệt hại 1,3% GDP vì nước, rác thải.
Trong những năm qua, dịch vụ cấp thoát nước và vệ sinh môi trường của
Việt Nam dần được cải thiện đáng kể, bộ mặt đô thị đã có nhiều khởi sắc, sạch
hơn, đẹp hơn. Tuy nhiên, môi trường đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ
phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày
(2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô
thị (hình 1 và bảng 1).
14
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị
vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm
(chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả
nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh
CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền
núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350
tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên,
tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình
2.2). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500
tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là
15
Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày;
TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1
tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đôthị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc
biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và
loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương
nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị
bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát
vào mạng lưới thoát nước đô thị nhiều nơi còn rất thấp. Các tuyến cống được xây
17
dựng và bổ sung chắp vá, có tổng chiều dài ngắn hơn nhiều so với chiều dài
đường phố, ngõ xóm. Nhiều tuyến cống có độ dốc kém, bùn cặn lắng nhiều,
không ngăn được mùi hôi thối. Nhiều tuyến cống lại không đủ tiết diện thoát
nước hay bị phá hỏng, xây dựng lấn chiếm, gây úng ngập cục bộ. Úng ngập
thường xuyên xảy ra nhiều nơi về mùa mưa. Nước thải nhà vệ sinh phần lớn chảy
qua bể tự hoại rồi xả ra hệ thống thoát nước chung tới kênh, mương, ao hồ tự
nhiên hay thấm vào đất. Nước xám và nước mưa chảy trực tiếp ra nguồn tiếp
nhận. Mới chỉ có gần 10% nước thải đô thị được xử lý. Ở nhiều khu đô thị mới,
mặc dù nước thải sinh hoạt đã được tách ra khỏi nước mưa từ ngay trong công
trình, nhưng do sự phát triển không đồng bộ và sự gắn kết kém với hạ tầng kỹ
thuật khu vực xung quanh, nên khi ra đến bên ngoài, các loại nước thải này chưa
được xử lý, lại đấu vào một tuyến cống chung, gây ô nhiễm và lãng phí. Ngoài ra,
cốt san nền của nhiều khu đô thị, đường giao thông và các khu vực lân cận không
được quản lý thống nhất, nên gây tác động tiêu cực, ảnh hưởng lẫn nhau. Phí
thoát nước hay phí bảo vệ môi trường do nước thải quá thấp, không đủ trang trải
chi phí quản lý.
Hiện tại Việt Nam có 110 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó chưa
đến một phần ba có hệ thống phù hợp để xử lý nước thải và các chất thải độc hại.
Một thực trạng dễ nhìn thấy đó là tình trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng nước
thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp chưa qua xử lý vẫn được xả trực tiếp vào
nguồn nước hiện đang phổ biến.
Nhiều dòng sông, kênh, mương thoát nước đô thị, các bãi chôn lấp rác bị ô
nhiễm đến mức báo độngg đã gây ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ sức khỏe,
sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
Hiện nay ở Việt Nam, hệ thống thoát nước dùng chung cho cả nước mưa
và nước thải. Hệ thống này khá cũ, được xây dựng từ nhiều năm trước đây.
lớn.
Thực tế, tầm quan trọng của chiến lược phát triển đô thị bền vững đã được
các cơ quan chức năng nhận rõ. Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ phê duyệt điều
chỉnh định hướng đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2050, với mục tiêu
từng bước cung cấp tới các khu đô thị những cơ sở hạ tầng hiện đại và một môi
trường lành mạnh. Định hướng được soạn thảo sẽ nhấn mạnh đến yếu tố môi
trường và sử dụng hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên, quản lý nước thải và chất
rắn. Tuy nhiên, sẽ là một thách thức quá lớn về thời gian, đặc biệt trong vòng
mười năm tới để cơ quan chức năng giải quyết triệt để những vấn đề không mới
như trên. Câu chuyện Vedan Việt Nam gây ô nhiễm sông Thị Vải, tỉnh Đồng Nai
vẫn còn nguyên tính thời sự như một minh chứng điển hình cho những vi phạm
về môi trường.
Các khu đô thị mới và khu công nghiệp tuy hiện nay đã có nhận thức rõ
hơn về trách nhiệm xử lý nước thải, tuy nhiên phải có hình thức cưỡng chế đủ
mạnh và dưới sự giám sát của người dân.
20 Lộc - Thị Nghè từ lâu đã chuyển
Nước kênh Nhiêu
thành màu đen do bị ô nhiễm nặng.
2.4 Nhận xét
Mặc dù vấn đề quản lý nước thải và chất thải của Việt Nam còn nhiều bất
cập nhưng Chính phủ Việt Nam ngày càng quan tâm đến vấn đề này. Chính phủ
Việt Nam đã ban hành Nghị định về Thoát nước đô thị và khu công nghiệp, Nghị
định về Quản lý chất thải rắn và một số Nghị định khác liên quan. Nghị định mới
ban hành này công cụ quản lý thống nhất có tính pháp lý cao nhằm cải cách, thúc
đẩy ngành thoát nước và vệ sinh môi trường đôi thị phát triển bền vững, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, chỉ khi nào có một
khung pháp lý rõ ràng cho quy hoạch, cấp vốn và thực hiện đầu tư tại các tỉnh và
hội và bảo vệ môi trường. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền
vững.
Bảo vệ môi trường sinh thái, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với bảo vệ
môi trường, khắc phục ảnh hưởng của biến đổi khí hậu hiệu ứng nhà kính, thủy
triều dâng; gắn liền với trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo vệ tài
nguyên, môi trường. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
22
nhiên. Khắc phục và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường. Xử lý
tốt chất thải rắn, nước thải và khí thải.
3.1 Các giải pháp quản lý chất thải rắn
Xây dựng quỹ tái chế chất thải rắn là một trong những giải pháp của Chiến
lược quản lý chất thải rắn vừa được Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ký quyết
định phê duyệt ngày 17 tháng 12 năm 2009. Theo Chiến lược, quản lý tổng hợp
chất thải rắn là trách nhiệm chung của toàn xã hội; được thực hiện theo phương
thức tổng hợp, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là
nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu; tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng
chất thải phải chôn lấp. Quản lý tổng hợp chất thải rắn phải đáp ứng theo nguyên
tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền"; các tổ chức và cá nhân phát sinh chất thải,
gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm đóng góp kinh phí, khắc phục,
bồi thường thiệt hại.
Đến năm 2025 là 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực
hiện phân loại tại hộ gia đình, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị, tổng
lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và nguy hại; 90% tổng lượng
chất thải rắn xây dựng đô thị và chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông
thôn được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường.
Phấn đấu tới năm 2050, tất cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu
gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng những công nghệ tiên tiến, thân
thiện với môi trường và hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức
rác Vietstar, huyện Củ Chi. Ảnh: CAO THĂNG
3.2 Các giải pháp về quản lý nước thải
Tổ chức thoát nước cho các đô thị cần dựa trên từng điều kiện cụ thể.
Nguyên tắc tổ chức thoát nước cho các đô thị một cách tổng quát được đề xuất
như sau:
- Đối với các khu vực trong đô thị hiện có: vẫn sử dụng hệ thống cống thoát nước
chung, với các tuyến cống bao thu gom các loại nước thải và nước mưa đợt đầu,
không cho chảy trực tiếp vào sông, hồ, kênh mương mà dẫn bằng các tuyến cống
chính về các trạm xử lý nước thải. Trên các tuyến cống chính này, gần nguồn tiếp
nhận, để giảm chi phí vận chuyển và xử lý nước thải, bố trí các giếng tràn tách
hỗn hợp nước mưa đợt sau và một phần nước thải đã được pha loãng, tràn qua
đập tràn chảy ra nguồn tiếp nhận. Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, mật độ dân cư,
quỹ đất, nhu cầu tái sử dụng nước thải ... mà có thể áp dụng mô hình thoát nước
tập trung hay phân tán, với công nghệ hiện đại hay chi phí thấp.
- Đối với các khu đô thị xây dựng mới, xây dựng hệ thống thoát nước riêng, xử lý
nước thải đạt yêu cầu trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
- Trong giai đoạn chưa có điều kiện xây dựng đầy đủ các tuyến cống thoát nước
riêng và trạm xử lý nước thải, vẫn phải coi trọng và phát huy vai trò của bể tự
hoại để xử lý nước đen, hay nước đen và nước xám từ các hộ gia đình, nhà chung
cư, cơ quan, cơ sở dịch vụ... Bể tự hoại phải được thiết kế, xây dựng và quản lý
đúng quy cách.
- Đối với các đô thị miền núi, có độ dốc dọc đường lớn, thuận lợi cho việc thoát
nước, nên sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Các thị trấn, các khu vực ven đô,
có thể áp dụng loại hệ thống thoát nước riêng giản lược, với đường kính nhỏ,
chôn nông dọc vỉa hè, sơ đồ đấu nối xuyên tiểu khu, cùng với các kênh, mương,
25