tiểu luận quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện hiện nay - Pdf 27

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay chất thải y tế là một vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và
xã hội. Vì vậy việc quản lý chất thải y tế để xử lý, tiêu hủy chất thải phải bảo đảm
các yêu cầu cần thiết nhằm giảm thiểu những tác động của nó đối với môi trường,
góp phần bảo vệ môi trường sống lành mạnh, an toàn.
Tác động tiêu cực của chất thải y tế nói chung và đặc biệt là chất thải y tế
nguy hại nói riêng là rất rõ ràng, đặc biệt là nếu những chất thải nguy hại này không
được quản lý và xử lý đúng quy cách. Trong thực tế quản lý và xử lý chất thải y tế ở
Việt Nam, cho thấy mặc dầu đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa đạt được
những yêu cầu nhất là những năm trước 1999 khi chưa có Quy chế quản lý chất thải
y tế [2].
Phát biểu khai mạc tại Hội thảo quốc gia về xử lý chất thải bệnh viện được tổ
chức ngày 17-7-1998, GS Phạm Song nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, phó trưởng ban
thường trực Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đã
nói: Chất thải bệnh viện được xếp vào loại chất thải nguy hiểm vì gây ra bệnh tật
nếu ô nhiễm vào nguồn nước và không khí. Với phương châm của ngành y từ muôn
đời nay là “ PRIMO NO CERA” nghĩa là “đầu tiên là đừng làm hại” và ngôn ngữ
này là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Vì vậy bệnh viện cứu được một người mà do
những yếu tố khách quan và chủ quan lại từ các chất thải của bệnh viện làm nguy
hại đến trăm người là việc không thể chấp nhận được và xếp vào việc “ cần làm
ngay” [1].
Hiện cả nước có trên 1000 bệnh viện. Trung bình các bệnh viện trong cả nước
phát thải 252 tấn/ngày chất thải y tế, trong đó có 12%-25% là chất thải y tế nguy hại
cần phải xử lý đặc biệt. Lượng chất thải y tế nguy hại tăng lên nhanh chóng do tăng
tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần; tăng số lượng giường bệnh ở cơ sở điều trị
1
từ tuyến huyện trở lên và ngày càng tăng ứng dụng kỹ thuật cao trong tất các khâu
từ khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị [2].
Công tác quản lý và xử lý chất thải y tế của các bệnh viện còn kém hiệu quả,
chưa có biện pháp quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn Hầu hết các chất thải
rắn ở các bệnh viện đều không xử lý trước khi chôn hoặc đốt. Một số ít bệnh viện có

người bệnh tại gia đình. Tuy nhiên về hình thức chúng có nhiều đặc tính rất giống
các chất thải rắn khác như chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn bệnh viện (CTRBV)
là chất thải rắn y tế. Mặc dầu vậy khoảng 75 - 88% trong tổng số CTRBV là rác
thông thường như rác sinh hoạt (non-risk health care waste) và chỉ có khoảng từ 12-
25% là chất thải có tính chất nguy hiểm hay đặc biệt gọi là chất thải rắn lâm sàng
(Hazadous health care waste – clinical waste) mà chúng ta thường gọi là chất thải
rắn y tế nguy hại (CTRYTNH).
- Khái niệm chất thải đặc biệt được dùng trong trường hợp này là về loại, số
lượng hay tính chất của nó đòi hỏi những yêu cầu xử lý đặc biệt hơn. Về nguyên tắc
toàn bộ CTRYTNH phải được xử lý triệt để bằng các phương pháp đặc biệt.
- Ngày nay, cộng đồng ngày càng quan tâm nhiều tới việc thải loại chất thải y
tế (CTYT), đặc biệt là các loại chất thải có chứa mầm bệnh. CTYT tồn tại ở bất cứ
dạng nào (rắn, lỏng, khí) đều có chứa các mầm bệnh gây nguy hiểm tới sức khỏe và
môi trường. Nguồn gốc phát sinh CTYT là từ các cơ sở khám chữa bệnh cho con
3
người và động vật, từ các trung tâm nghiên cứu, trong quá trình sản xuất vaccin
hoặc có trong chất thải của các cơ thể sống. Chúng thường được phát sinh tại các
bệnh viện, phòng thí nghiệm của các trung tâm nghiên cứu, phòng khám tư nhân và
các trung tâm chăm sóc sức khỏe.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, CTYT được xác định là chất thải
phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. CTYT nguy hại (CTYTNH) được xác
định là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài
tiết; các bộ phận, cơ quan của cơ thể ngƣời và động vật; bơm kim tiêm và các vật
sắc nhọn, dược phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ được sử dụng trong y tế.
Những chất này không được xử lý đúng cách sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức
khỏe con người [2].
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới, chất thải y tế là tất cả các loại chất
thải phát sinh trong các cơ sở y tế bao gồm cả các chất thải nhiễm khuẩn và không
nhiễm khuẩn [1].

Nhóm chất thải gây lây nhiễm gồm băng gạc bẩn, bông, đồ băng bó, quần áo, găng
tay, gạc, tất cả các vật tư hay thiết bị tiếp xúc với máu và chất thải của người bệnh.
nhóm các vật sắc nhọn gồm xy ranh, kim tiêm, dao mổ, kéo mổ, thủy tinh vỡ, ống
hút, lưỡi dao và các vật dụng khác có đầu nhọn hoặc cạnh sắc hay vật dụng dễ vỡ
trong quá trình vận chuyển và tạo thành đầu nhọn, cạnh sắc hoặc đã qua sử dụng
nhưng chúng có thể cắt hoặc đâm thủng. Nhóm chất thải y tế từ phòng thí nghiệm
gồm găng tay, ống nghiệm, các vật cấy, cất giữ các chất gây bệnh, túi máu và các
chất thải khác từ phòng thí nghiệm để nghiên cứu bệnh tật, huyết học, truyền máu,
vi sinh học, nghiên cứu mô học Chất thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn sử dụng
hoàn trả lại, thuốc phòng bệnh, thuốc bị đổ hoặc hư hỏng hay phải bỏ đi vì không
cần giữ các chất trị xạ. Chất thải bệnh phẩm gồm mô người có thể bị nhiễm bệnh
5
hay không nhiễm bệnh, nội tạng, các chi, các bộ phận cơ thể người, nhau thai và các
thi thể người, xác động vật và mô động vật phòng thí nghiệm
- Chất thải hóa học được chia thành các nhóm như chất thải không độc hại,
chất đường, amino axit, các muối vô cơ, hữu cơ và các chất độc hại như
formaldehyde, các hóa chất trong định hình, dung môi, trichlore ethylene, hóa chất
vô cơ, hữu cơ.
- Chất thải phóng xạ là chất thải rắn, chất thải lỏng, các chất thải từ mẫu bệnh
phẩm có chứa phóng xạ.
- Các vật chứa có áp suất gồm xy ranh khí nén, can nước và các bình chứa khí
nén.
1.2 Quy định việc thu gom chất thải y tế
- Theo quy định về nguyên tắc chung, việc phân loại rác thải y tế phải được
thực hiện càng gần nơi thải ra càng tốt. Các chất thải y tế độc hại không được để lẫn
với các chất thải thông thường.
- Các túi và vật chứa để thu gom chất thải y tế được quy định màu vàng cho
các nhóm thuộc chất thải y tế, màu xanh cho chất thải thông thường và màu đen cho
chất thải hóa chất, các chất phóng xạ và trị xạ.
- Các túi thu gom rác theo quy định tiêu chuẩn là loại nhựa polyethylene và

quyền địa phương phê duyệt đủ tiêu chuẩn để vận chuyển chất thải y tế ra ngoài cơ
sở y tế và cần có biên lai xác nhận việc thực hiện từng đợt.
- Đối với công nghệ xử lý và tiêu hủy chất thải, các cơ sở y tế trong thành phố
cần có một trung tâm lò đốt ở trong khu vực đó. Các đơn vị y tế trong các thị trấn
cần có một lò đốt cho một cụm các cơ sở hoặc mỗi cơ sở có một lò đốt. Biện pháp
chôn lấp chỉ nên áp dụng cho các cơ sở y tế không có lò đốt rác. Chất thải phải được
chôn tại đúng nơi quy định và phải đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường cho phép.
Bước xử lý ban đầu gồm đun sôi, khử hóa chất và biện pháp dùng nhiệt độ sấy khô
hoặc ướt chỉ được áp dụng cho chất thải nhóm chất thải y tế từ phòng thí nghiệm và
các vật liệu, thiết bị dùng để chữa trị cho bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS, giang mai
hoặc bệnh lao.
7
1.3 Quy định xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
Chất thải y tế gồm 5 nhóm khác nhau, mỗi nhóm có một quy trình xử lý, tiêu
hủy riêng [2]:
- Chất thải lây nhiễm thực hiện biện pháp chôn lấp, dùng lò đốt và đốt ngoài
trời.
- Các vật sắc, nhọn được phân loại cùng với các chất thải khác ở hầu hết các
bệnh viện huyện nhưng hầu hết các bệnh viện huyện lại không có kinh phí mua
những thùng chứa các vật này. Có bệnh viện tái sử dụng các chai nhựa đựng nước
uống hoặc các thùng kim loại để chứa kim tiêm, sau đó chôn dưới đất. Tuy nhiên ở
đa số bệnh viện, các vật sắc, nhọn này được thu gom trong các túi nhựa mỏng, có
thể gây nguy hiểm cho nhân viên xử lý rác.
- Chất thải y tế từ các phòng thí nghiệm sau khi được khử trùng hoặc tẩy uế sẽ
được đốt tại chỗ hoặc ngoài trời. Tuy nhiên, nhiều bệnh viện huyện thiếu các chất
tẩy uế cần để khử trùng loại chất thải này.
- Chất thải dược phẩm với biện pháp xử lý hiện nay gồm chôn lấp tại chỗ, thải
ra nơi thu gon rác công cộng, đốt trong các lò đốt thô sơ và đốt ngoài trời.
- Chất thải bệnh phẩm xử lý với phương pháp tiêu hủy bằng đốt trong các lò
đốt thô sơ, đốt ngoài trời và chôn lấp dưới đất. Tại nhiều bệnh viện huyện, thường

viện, cơ sở y tế vi phạm quy định về xử lý rác thải [1].
Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) Trần Đắc Phu cho
biết hiện nay, cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại, với tổng lượng chất thải rắn
phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 tấn là
chất thải rắn y tế nguy hại. Hiện chất thải y tế ở Việt Nam được xử lý bằng hai
phương án là đốt và chôn lấp trong đó vẫn còn 30,8% bệnh viện xử lý chất thải y tế
bằng lò đốt 1 buồng, thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh
viện. Tỷ lệ bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 45,6%. Ở Việt
Nam, mỗi ngày có 120 nghìn m
3
nước thải y tế được thải ra, 350 - 400 tấn chất thải
y tế, trong đó 42 tấn chất thải y tế độc hại cần được xử lý. Nước thải từ các bệnh
viện chưa qua xử lý xả ra môi trường đang là một vấn đề gây bức xúc trong nhân
dân các khu vực lân cận vì nó gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt. Thậm
chí, nhiều nơi ứ đọng, thẩm thấu còn ảnh hưởng đến cả mạch nước ngầm. Mỗi ngày,
10
các bệnh viện xả hàng triệu mét khối nước thải ra môi trường, một phần trong số đó
mang theo mầm bệnh hòa vào dòng chảy mương, máng, sông ngòi qua các khu dân
cư [1].
Đối với chất thải rắn, 90% bệnh viện thu gom hàng ngày, 67% bệnh viện xử
lý bằng lò đốt, than bùn hoặc công nghệ đốt khác, 32,2% xử lý bằng lò thủ công
hoặc chôn lấp trong bệnh viện. Theo ước tính, trong một ngày đêm, mỗi giường
bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải, trong đó từ 10% đến 15%
là loại chất thải độc hại, dễ gây lây nhiễm. Thế nhưng, khâu quản lý rác thải, chất
thải của các cơ sở y tế lại hết sức lỏng lẻo. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa
được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có
nhà lưu chứa hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn, không bảo đảm vệ sinh và có
nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng [1].
Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải rắn đòi hỏi
nhiều bộ phận trong bệnh viện cùng phối hợp nhịp nhàng với nhau giúp cho công

triệt để chắc chắn sẽ tiềm ẩn những nguy cơ với môi trường và cuộc sống hàng
ngày. Thực tế, gần như 100% bệnh viện có thực hiện phân loại chất thải từ nguồn,
nhưng khó có thể đảm bảo thực hiện tốt hoàn toàn do điều kiện nhân lực của từng
bệnh viện rất khác nhau. Việc phân loại rác thải rắn y tế còn chưa đúng quy định,
còn lẫn vào chất thải sinh hoạt. Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải
thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn. Không có phương tiện vận
chuyển riêng biệt, chuyên dụng, nơi lưu giữ không bảo đảm vệ sinh, có nhiều nguy
cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập. Phương pháp xử lý
chủ yếu hiện nay là bằng lò đốt, nhưng số lò đốt hiện đại, đốt tập trung đạt tiêu
chuẩn môi trường còn ít. Số còn lại là các lò đốt công suất nhỏ và trung bình, lò đốt
thủ công để phục vụ xử lý chất thải tại chỗ hoặc cho cụm bệnh viện, trong đó có
nhiều lò đốt đã cũ, không được sử dụng thường xuyên hoặc vận hành không hết
công suất…[1]
Ước tính mỗi ngày có khoảng 350 tấn chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế,
trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn nguy hại, mức độ gia tăng khoảng 7,6%/năm.
Trong đó, có khoảng 60 – 70 tấn là rác thải độc hại, phải xử lý. Tuy nhiên, chỉ có
1/3 số chất thải rắn được đốt bằng lò đốt hiện đại và có thể đảm bảo an toàn môi
trường… Số còn lại được tiêu huỷ bằng nhiều hình thức như thiêu ngoài trời, đốt
bằng lò thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh viện, hoặc thải trực tiếp ra bãi rác
chung. Điều đáng lo ngại là những cách thức tiêu huỷ này đều chưa đảm bảo vệ sinh
an toàn đối với môi trường xung quanh nơi có đông dân cư sinh sống. Có tới 33%
bệnh viện tuyến huyện và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý
chất thải y tế nguy hại bằng các lò đốt thủ công. Đối với chất thải lỏng y tế được
phát sinh từ các hoạt động chuyên môn và sinh hoạt của nhân viên bệnh viên, bệnh
nhân và người thăm nuôi, thì có tới 62,3% số bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước
13
thải. Ngoài ra, hệ thống xử lý nước thải của nhiều bệnh viện còn bị xuống cấp, công
nghệ xử lý chưa đảm bảo được tiêu chuẩn môi trường [1].
Từ trước đến nay, tại Việt Nam hầu như mới chỉ biết đến lò đốt chất thải rắn y
tế nguy hại, bao gồm lò đốt 2 buồng nhập khẩu từ các nước phát triển như từ Thụy

xử lý nước thải được đầu tư tại các Bệnh viện đều chưa được đánh giá hiệu quả xử
lý, hướng dẫn vận hành, chuyển giao, nghiệm thu, do vậy các bệnh viện gặp nhiều
khó khăn trong công tác kiểm tra, theo dõi, vận hành…dẫn đến tình trạng vận hành
không đúng, không đạt hiệu quả, một số bệnh viện hệ thống gặp sự cố nhưng không
biết hoặc vận hành không liên tục (Bệnh viện Đa khoa huyện Nam sách, máy bơm
nước từ bể chứa vào hệ thống xử lý không bị hỏng; Bệnh viện Đa khoa huyện
Thanh Hà chỉ không vận hành hệ thống bơm sục khí; Bệnh viện Đa khoa huyện
Cẩm Giàng vận hành không liên tục). Nguyên nhân là do chưa có biên chế chuyên
môn phụ trách về công tác bảo vệ môi trường, hầu hết là người làm kiêm nhiệm,
không có chuyên môn, không được đào tạo, tập huấn nên kết quả công việc còn hạn
chế; các công trình, hệ thống xử lý môi trường đã được đầu tư tuy nhiên về kinh phí
cho việc vận hành (dầu đốt, điện), kinh phí phục vụ công tác kiểm soát môi trường,
hoàn thiện các thủ tục hành chính về môi trường theo qui định còn gặp nhiều khó
khăn [11].
Về vấn đề xử lý nước thải y tế hiện có 65,3% các bệnh viện có hệ thống xử lý,
hệ dự phòng mới chỉ có 15% được trang bị, 50% cơ sở sản xuất thuốc có hệ thống
xử lý nước thải. Số cơ sở y tế còn lại đang xả thẳng nguồn nước mang mầm bệnh
chưa qua xử lý vào môi trường. Nước thải từ các bệnh viện chưa qua xử lý là vấn đề
gây bức xúc cho người dân vì nó gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt. Rác
thải được chôn lấp, nước xả ra môi trường sẽ thẩm thấu, lâu ngày có thể ảnh hưởng
đến mạch nước ngầm được con người sử dụng trong sinh hoạt thường ngày [6].
15
Theo báo cáo Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế đưa ra tại Hội nghị tập
huấn công tác quản lý chất thải y tế, 6 bệnh viện Trung ương chưa có hệ thống xử lý
nước thải đó là: Mắt Trung ương, Nội tiết Trung ương, Răng hàm mặt Trung
ương Hà Nội, Điều dưỡng - phục hồi chức năng Trung ương, Y học cổ
truyền Trung ương và Châm cứu Trung ương. Đáng chú ý, phần lớn bệnh viện trong
số này đều nằm trong nội thành và tại các khu vực đông dân cư của Hà Nội. Tại một
số bệnh viện có hệ thống thu gom xử lý nước thải nhưng không đạt yêu cầu, khi
nước thải tràn ra ngoài, hoặc có khu vực xử lý chất thải, nhưng khi đoàn kiểm tra

phải được tổ chức tập huấn cho nhân viên trong các bệnh viện về phương pháp phân
loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý theo đúng quy định.
Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải đòi hỏi nhiều bộ
phận trong bệnh viện cùng phối hợp nhịp nhàng với nhau giúp cho công tác quản lý
tốt. Việc thực hiện tốt xử lý chất thải tại bệnh viện cần có sự tham gia của tất cả mọi
người, từ ban lãnh đạo bệnh viện, các trưởng phó khoa và nhân viên y tế tại các
khoa phòng, nhân viên thực hiện trực tiếp thu gom, vận chuyển và xử lý rác. Do đó,
cần lập kế hoạch quản lý chất thải y tế, tổ chức huấn luyện cho cán bộ, công nhân
viên hiểu rõ công tác quản lý cũng như xử lý chất thải y tế và tổ chức kiểm tra đánh
giá định kỳ hay đột xuất và đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật.
Mọi chất thải phát sinh trong môi trường bệnh viện cần được quản lý theo
đúng "Quy chế quản lý chất thải” do Bộ Y Tế ban hành nhằm làm giảm thiểu các
nguy cơ lây nhiễm sang người bệnh, nhân viên y tế và ra ngoài cộng đồng từ các
17
chất thải lây nhiễm trong bệnh viện. Người làm phát sinh chất thải phải tiến hành
phân loại ngay, thu gom và thải bỏ vào đúng nơi, vào đúng các phương tiện đã quy
định. Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải rắn tại bệnh viện
bao gồm sự phối hợp của các phòng ban trong bệnh viện, gồm ban lãnh đạo bệnh
viện, khoa Chống nhiễm khuẩn, phòng Quản trị, và tất cả các khoa phòng trong
bệnh viện.
Mỗi khoa phòng cần được trang bị các loại thùng rác màu khác nhau đặt tại
những vị trí thích hợp. Các thùng rác phải có nắp đậy, có chân đạp và dễ cọ rửa.
Các thùng được lót các túi nylon đúng màu quy định (xanh, vàng, đen). Trên túi có
vạch ghi rõ “không đựng quá vạch này” ở mức 2/3 túi. Có dây buộc đi theo túi. Bơm
tiêm và vật sắc nhọn được phân loại riêng và cho vào thùng đựng vật sắc nhọn theo
đúng quy định của bộ y tế:
- Thùng, túi nilon màu xanh: đựng chất thải sinh hoạt bao gồm: giấy, báo, tài
liệu, khăn, gạc, các đồ dùng và các vật liệu y tế chăm sóc người bệnh không dính
máu… thức ăn thừa, vật liệu đóng gói, hoa, lá cây, rác quét dọn từ các sàn nhà(trừ
chất thải thu gom từ các buồng cách ly) và từ các khu vực ngoại cảnh.

Hàng ngày đội vệ sinh đến nhận rác tại mỗi khoa, mang rác đi bằng xe kéo tay đậy
kín đến nhà chứa rác tập trung của bệnh viện. Xe vận chuyển rác từ các khoa phòng
đến nơi thu gom chất thải theo đúng giờ quy định. Chất thải được thu gom và
chuyển bằng xe chuyên dụng, phải có xe vận chuyển riêng cho từng loại rác thải: xe
rác sinh hoạt và xe rác y tế. Các túi rác được nạp vào các thùng rác 240lít tại nhà thu
gom rác. Rác y tế nguy hại được đóng gói trong các thùng hoặc trong các hộp carton
trong quá trình vận chuyển ra ngoài bệnh viện.
Chú ý khi vận chuyển: Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc
người bệnh và các khu vực sạch khác. Các phương tiện vận chuyển phải được cọ rửa
ngay sau khi vận chuyển chất thải và phải có logo đúng theo quy định. Nhân viên
19
vận chuyển chất thải phải mang bảo hộ theo đúng quy định. Đối với các chất thải y
tế nguy hiểm có nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm, phòng điều trị người
bệnh nhiễm quan trọng (chất thải nhóm C, đàm tại khoa của bệnh nhân lao), bệnh
viện đều thực hiện xử lý ban đầu bằng hóa chất hay bằng autoclave trước khi thu
gom đến nơi tập trung chất thải. Các chất thải phóng xạ phải được thu gom và xử lý
theo đúng pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ và các quy định hiện hành của nhà
nước. Các chất thải phóng xạ dạng rắn như bơm tiêm, lọ, găng tay có phóng xạ được
phân làm 2 nhóm theo thời gian bán rã, được để riêng bảo quản trong kho đợi qua từ
8 -10 chu kỳ bán rã của loại đồng vị đó và sau đó được hủy như chất thải lâm sàng.
3.3 Lưu trữ và tiêu hủy chất thải
Bệnh viện bố trí một khu vực nhà rác riêng, có đủ điều kiện và phương tiện để
lưu giữ tập trung toàn bộ chất thải theo từng loại. Nhà chứa rác cần đảm bảo một số
quy chế như: cách xa nơi chuẩn bị đồ ăn, xa nơi công cộng và lối đi, có phân chia
chất thải y tế riêng biệt với chất thải sinh hoạt, có tường xây xung quanh, có mái
che, có cửa có khóa và có trang bị đầy đủ phương tiện rửa tay, bảo hộ cá nhân, có
các vật dụng và hóa chất cần thiết để làm vệ sinh và xử lý chất thải.Chất thải sinh
hoạt và chất thải y tế sau khi lưu trữ tại nhà chứa rác của bệnh viện phải được
chuyển đi hủy 2lần/ngày. Chất thải y tế được giữ lạnh và Công ty môi trường đô thị
vận chuyển đến lò đốt Bình Hưng Hoà để được đốt hàng ngày, thời gian lưu giữ tối

Phương pháp này rất phù hợp cho việc xử lí chất thải rắn sinh hoạt, phương pháp
này được áp dụng rất có hiệu quả như ở Cầu Diễn, Hà Nội (công nghệ ủ hiếu khí
(compostry) – công nghệ Tây Ban Nha với công suất 50.000 tấn rác/năm – SP
13200 tấn/năm, công nghệ Pháp – TBN ủ sinh học chất thải hữu cơ áp dụng tại Nam
Định với công suất thiết kế 78.000 tấn rác/năm ). Ở thành phố Việt Trì với công suất
thiết kế 30.000 tấn rác/năm [12]
21
3.5 Một số công nghệ xử lý rác hiện đại
Công nghệ vi sóng sử dụng năng lượng vi sóng ở tần số khoảng 2450 MHz để
khử khuẩn. Kết hợp hơi nước (bão hoà) ở áp suất thường hoặc áp suất cao làm ẩm
tất cả bề mặt chất thải, làm tăng hiệu suất diệt khuẩn.vận hành đơn giản, chi phí đầu
tư và vận hành thấp; tăng khả năng tái chế chất thải an toàn…Công nghệ không đốt
này đang là một xu thế của thế giới vì nó không thải ra khí độc hại. Ưu điểm của
công nghệ này là phát huy được hiệu quả cao đối với các chất thải lây nhiễm, chi phí
vận hành thấp, không gây ô nhiễm môi trường thứ phát, thân thiện với môi trường
[6].
Tuy nhiên, đầu tư ban đầu cho một lò đốt rác không khói bằng công nghệ "vi
sóng", khá cao trên 51 tỷ đồng. Đây là đề án hết sức cần thiết không chỉ với ngành
y tế hiện nay, mà cho toàn xã hội nhằm giải tìm ra giải pháp hữu hiệu cho bài toán
về rác thải y tế. Ngành y tế đang quyết tâm phấn đấu đến năm 2015 có 75 – 80% cơ
sở y tế được xử lý rác thải rắn nguy hại đạt tiêu chuẩn môi trường; đến năm 2020
100% cơ sở y tế đực xử lý rác thải rắn nguy hại đạt tiêu chuẩn môi trường, trong đó
70% được tái chế tái sử dụng [6].
3.6 Xử lý nước thải bệnh viện
Công trình lọc sinh học nhỏ giọt: Bể lọc sinh học dùng để xử lý nước thải
bằng phương pháp sinh học hiếu khí mức độ hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. Bể
hoạt động theo nguyên tắc vi sinh vật dính bám trên vật rắn và hình thành màng lọc
sinh học. Bể được cấp gió tự nhiên hoặc cấp gió nhân tạo. Đối với bể lọc sinh học
nhỏ giọt, các chất ô nhiễm hữu cơ của nước thải đưa vào bể lọc sinh học không được
lớn hơn 200mg/l, tải trọng thủy lực q lấy I - 3 m3/m3 vật liệu/ ngày. Đặc điểm dây

hướng dẫn công tác thu gom, xử lý và loại bỏ chất thải ở các cơ sở y tế. Vấn đề này
cần được các đơn vị cơ sở y tế khám chữa bệnh và y tế dự phòng trên cả nước đặc
biệt quan tâm để góp phần giảm thiểu những tác động, ảnh hưởng của chất thải y tế
đối với môi trường nhằm bảo vệ môi trường sống an toàn, lành mạnh.
Bộ Y tế đã có công văn yêu cầu các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế tăng cường
công tác quản lý chất thải y tế trong bệnh viện; thực hiện quản lý, xử lý chất thải rắn
y tế theo quy định. Tăng cường giám sát quản lý chất thải rắn y tế, không để tình
trạng lọt rác thải y tế nguy hại ra ngoài. Xử lý nghiêm các đơn vị không thực hiện
việc thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải y tế theo quy định. Thường
xuyên vận hành hệ thống xử lý nước thải theo quy định, hệ thống xử lý chất thải rắn
(nếu có). Định kỳ kiểm tra, giám sát tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý chất
thải của bệnh viện, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt chuẩn theo quy định. Đồng thời,
thực hiện công tác đào tạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm
công tác quản lý chất thải y tế của bệnh viện, chấn chỉnh các tồn tại trong quản lý
chất thải y tế của bệnh viện.
24
Bộ Y tế yêu cầu các bệnh viện xây dựng mới phải bắt buộc có hệ thống xử lý
nước thải mới được phê duyệt hồ sơ. Các bệnh viện đang hoạt động phải định kỳ
kiểm tra, lưu giữ hồ sơ xử lý nước thải. Với chất thải rắn nguy hại, các địa phương
có nhiều bệnh viện cần áp dụng mô hình xử lý chất thải rắn tập trung, còn lại áp
dụng xử lý theo cụm bệnh viện. Các bệnh viện chưa có lò đốt chất thải rắn cần áp
dụng các công nghệ xử lý thân thiện với môi trường như công nghệ khử khuẩn, công
nghệ vi sóng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status