TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHĨA 2011 – 2014
Đề tài:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH – THỰC TRẠNG TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn:
NGUYỄN HỮU LẠC
Sinh viên thực hiện:
HỮU THỊ MINH THƯ
MSSV : B100145
Lớp : Luật Hành chính
Khóa : 37 (B2)
Cần Thơ, tháng 4/2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày
tháng 4 năm 2014
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới quý Thầy, Cô giáo khoa Luật
trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Thầy Nguyễn Hữu Lạc- GV hướng
dẫn viết luận văn tốt nghiệp, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn
tôi nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Hội LHPN thành phố Cần Thơ, Sở Văn hóa Thể
thao & Du lịch, các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành
luận văn này.
Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi
Nghị định
03
CLB
Câu lạc bộ
04
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
05
AECID
Cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Tây Ban Nha
06
UNICEF
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
07
UNODC
1.2.2. Tâm lý.......................................................................................................... 11
1.2.3. Điều kiện kinh tế xã hội .............................................................................. 12
1.2.4. Định kiến giới.............................................................................................. 13
1.2.5. Trình độ dân trí ........................................................................................... 14
1.3. Hậu quả của bạo lực gia đình ........................................................................... 14
1.3.1. Hậu quả đối với bản thân người có hành vi bạo lực gia đình .................... 14
1.3.2. Hậu quả đối với nạn nhân bạo lực gia đình ............................................... 15
1.3.3. Hậu quả đối với trẻ em ................................................................................ 15
1.3.4. Hậu quả đối với gia đình............................................................................. 16
1.3.5. Hậu quả đối với xã hội ................................................................................ 16
1.4. Ý nghĩa của việc phòng, chống bạo lực gia đình .............................................. 16
1.5. Tổng quan những quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ...... 17
1.5.1. Một số quy định quốc tế liên quan đến bạo lực gia đình ............................ 17
1.5.2. Một quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam .. 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH ................................................................................................................... 25
2.1. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình....................................................... 25
2.1.1. Nguyên tắc thứ nhất: .................................................................................. 25
2.1.2. Nguyên tắc thứ hai:..................................................................................... 26
2.1.3. Nguyên tắc thứ ba: ...................................................................................... 26
2.1.4. Nguyên tắc thứ tư: ...................................................................................... 27
2.2. Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể bạo lực gia đình ........................................... 27
2.2.1. Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân ................................................................... 27
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT:
1. Bộ luật Dân sự năm 2005.
2. Bộ luật Hình sự năm 1999.
3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
4. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.
5. Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
6. Nghị định số 08/2009/NĐ-CP, ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ
“Hướng dẫn một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”.
7. Nghị định số 110/2009/NĐ-CP, ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ “Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình”.
8. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ “Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng,
chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình”
9. Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, ngày 25
tháng 9 năm 2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm
sát nhân dân tối cao (2001) hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999.
* TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ:
1. - Đánh vợ
tử vong, lãnh án Thứ ba, 04/12/2012 21 giờ 43 GMT+0
2. Vợ bạo hành chồng và những đòn độc …theo vietnamnet.vn - ngày 15/11/2012.
3. Doanh Toại, Bà nội bị cháu trai bức tử,
[truy cập vào Thứ năm,
phòng, chống bạo lực gia đình (giai đoạn 2008-2013)
- Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Cần Thơ, Báo cáo công tác xây dựng và hoạt
động địa chỉ tin cậy
- Sở Văn hóa Thể thao và du lịch Tp Cần Thơ, báo cáo tình hình triển khai nhân
rộng mô hình phòng, chống bạo lực gia đình
- Sở Văn hóa Thể thao và du lịch Tp Cần Thơ, báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện luật
Phòng chống bạo lực gia đình (2008-2013)
- Tổng cục Thống kê và Liên hợp quốc, Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, 2010.
- UNODC, Báo cáo nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hiện nay cho nạn
nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam, 2010.
- UNODC, Tài liệu tập huấn về phòng, chống bạo lực gia đình cho các cán bộ hành
pháp và tư pháp tại Việt Nam, 2010.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng sinh thành và giáo dục tính cách của mỗi cuộc đời. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt,
xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc
phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên
quan như: Hiến pháp năm 1992; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh về
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn gồm 3
chương:
Chương 1: Khái quát chung về bạo lực gia đình
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Chương 3: Thực trạng áp dụng những quy định pháp luật về phòng, chống BLGĐ trên
địa bàn thành phố Cần Thơ và một số giải pháp đề xuất.
Được sự giảng dạy và hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo Nguyễn Hữu Lạc em đã cố
gắng, nỗ lực hoàn thành bài chuyên đề này. Tuy nhiên, thời gian hạn chế và kiến thức
cùng với kinh nghiệm thực tế chưa sâu, dựa vào những báo cáo và các bài viết, tài liệu là
chủ yếu, nên còn nhiều thiếu sót trong quá trình nghiên cứu. Kính mong được sự thông
cảm và đóng góp của quý Thầy, Cô hội đồng để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
2
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. K hái niệm gia đình và thành viên gia đình
3
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người sống trong cùng một
gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ và con cái, vợ và
chồng, những người khác sống cùng như người giúp việc, giữa những người đã từng là
con dâu với cha mẹ chồng, đã từng là con rể với cha mẹ vợ, giữa những người sống
chung với nhau như vợ chồng. Những người này có một khoảng thời gian sống chung với
nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình và xã hội, từ
đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ
với nhau.
1.1.2. K hái niệm bạo lực và bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là hành vi đi ngược lại giá trị đạo đức truyền thống của gia đình và
của dân tộc Việt Nam, là cơn sóng ngầm có sức tàn phá rất lớn, hậu quả để lại rất nặng nề
cho gia đình và xã hội, đây là nguy cơ bạo lực thường trực trong mỗi gia đình. Tư tưởng
lạc hậu, định kiến giới còn tồn tại, ăn sâu vào tiềm thức của một bộ phận người dân, làm
sai lệch quan điểm, nhận thức về giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi người và tổ ấm của
chính mình, là nguyên nhân gốc rễ khiến bạo lực gia đình nảy sinh ở các mức độ khác
nhau.
Trong cuộc sống gia đình, không thể tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn giữa
các thành viên với nhau. Tuy nhiên, cách giải quyết mâu thuẫn của mỗi người, mỗi gia
đình là khác nhau. Có người tìm cách đối thoại, trao đổi để cùng nhau vượt qua khó khăn.
Có người cảm thấy cuộc sống không hạnh phúc, không thỏa mãn được mục đích hôn
nhân nên đề nghị ly hôn để giải thoát cho hai vợ chồng. Nhưng cũng có người trút sự bực
dọc, giận dữ lên các thành viên khác trong gia đình, bắt người kia phải phục tùng bằng
ý khác làm nạn nhân bị thương tích, ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc bị thiệt mạng.
Theo kết quả nghiên cứu quốc gia2 về BLGĐ cho thấy: hành vi bạo lực về thể chất
mà phụ nữ Việt Nam thường gặp là tát, ném đồ vật vào người. Tỷ lệ hành vi bạo lực
trong đời tại Việt Nam là 28,6% và tỷ lệ hiện tại (bị bạo lực trong vòng 12 tháng qua) là
5,3%. Phụ nữ thường phải hứng chịu cùng một lúc nhiều hành vi bạo lực về thể chất. Bất
cứ thứ gì cũng có thể được sử dụng như “vũ khí” để gây thương tích như: gậy, ghế, gạch,
chén, giày dép…
Trong thời gian qua, có rất nhiều vụ án liên quan đến BLGĐ, điển hình như: Ngày
4-12-2012, TAND quận Bình Thủy3 xét xử lưu động và tuyên phạt các bị cáo Nguyễn
Văn Cường (ngụ phường Long Hòa, quận Bình Thủy) 6 năm 6 tháng tù giam về tội cố ý
gây thương tích. Ngoài ra, Cường còn phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền trên 63
triệu đồng. Nội dung cụ thể như sau: Ngày 18-6-2012, sau khi uống rượu với bạn bè,
Cường và chị Trần Thị Thu T (vợ Cường) xảy ra cự cãi. Chị T có lời lẽ xúc phạm Cường.
Tức giận, Cường đánh và đạp vào người chị T, rồi bỏ đi. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày,
Cường về nhà và tiếp tục cãi nhau, đánh và xô chị T ngã. Sau đó chị T kêu đau bụng,
Cường và gia đình đưa chị T đến Bệnh viên Đa khoa TP Cần Thơ. Bác sĩ chẩn đoán chị T
bị thương nặng, phải nhập viện để theo dõi. Ngày 26-6, chị T đã tử vong do vết thương
quá nặng.
Từ thực tế trên cho thấy đây là hành vi bạo lực (chồng bạo lực vợ): Đánh đập, xâm
hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên trong gia đình. Đây có thể nói là một trường hợp
điển hình của BLGĐ, phản ánh quy luật vòng tròn bạo lực trong việc bất bình đẳng,
người chồng cho rằng mình có quyền “dạy” vợ. Đây là một suy nghĩ sai lầm, lệnh lạc
xuất phát từ sự bất bình đẳng giới (giữa vợ và chồng), người chồng cho mình quyền được
2
Nguồn: Kết qủa nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ do Tổng cục Thống kê và Liên hợp quốc
phối hợp thực hiên, năm 2010.
3
nội hành hà, lại sống trong cảnh cô đơn quá lâu, bà D thắt cổ tự vẫn vào ngày
05/10/2009.
Đây là một dạng bạo lực tâm lý rất nghiêm trọng mà hành vi khách quan của bạo
lực đã cấu thành tội phạm, bất kể có hậu quả vật chất xảy ra hay không. Trong trường
hợp này nếu bà D không tự vẫn thì Mang vẫn phạm tội “Ngược đãi hoặc hành hạ…” theo
quy định tại Điều 151 Bộ Luật Hình sự năm 1999, với khung hình phạt là: Bị phạt cảnh
cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Những hành
vi xúc phạm của con cháu thường dẫn đến những tổn thương tâm lý nghiêm trọng đối với
ông bà, cha mẹ. Hành vi của Mang là đi ngược lại truyền thống đạo đức, vi phạm nghiêm
trọng chuẩn mực của xã hội nên không trước thì sau cũng sẽ dẫn đến hậu quả bà D tự vẫn
hoặc bỏ nhà đi. Trong trường hợp này người thân trong gia đình phải có những can thiệp
kịp thời và quyết liệt thì hậu quả không đáng tiếc như có thể họp mặt gia đình, dòng họ
để phân tích về những sai trái, vô đạo của Mang, cần thiết có thể báo cho chính quyền địa
4
Bà nội bị cháu trai bức tử - một số vụ án bạo lực gia đình, NXB Phụ nữ, năm 2011, Tr.23.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
6
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
phương can thiệp hoặc nạn nhân có thể chủ động nhờ sự giúp đỡ của cơ quan chức năng
để xử lý hành vi của thủ phạm.
3. Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành
Sóng ngầm tàn phá gia đình - một số vụ án bạo lực gia đình, NXB Phụ nữ, năm 2011, Tr.23.
6
Vợ bạo hành chồng và những đòn độc …theo vietnamnet.vn - ngày 15/11/2012.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
7
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
Bé T. ngày càng quá quắt, không những nói bóng nói gió, chị còn đay nghiến thẳng mặt
chồng. Anh L. nóng giận to tiếng, liền bị chị ta hất cả mâm cơm vào người. Không hôm
nào là anh L. không phải chịu cảnh vợ về tới nhà là “đá thúng đụng nia”, nhưng tuyệt
nhiên anh không hề hé răng với ai nửa lời. Có khi, anh L. bị vợ đánh đến bầm tím tay
chân, nhưng khi đến trạm xá anh chỉ cười bảo do liệt nửa người, tập đi nên té. Nhiều lần
anh L. viết đơn ly dị nhưng chẳng hiểu sao, chị T. lại không đồng ý ký đơn. Vì ngại nói
ra lý do chính đáng là bị vợ bạo hành nên năm lần bảy lượt anh L. không thể chấm dứt
với người vợ cạn nghĩa. Cam chịu cảnh "địa ngục trần gian" được 3 năm, trong một lần
cự cãi, chị Bé T. đạp vào chiếc xe lăn anh L. đang ngồi làm anh ngã lăn xuống bậc tam
cấp. Người nhà anh L. trông thấy liền viết đơn tố cáo. Tuy đã được hòa giải êm xuôi,
nhưng vụ việc Lê Thị Bé T. bạo hành chồng trong suốt 3 năm qua đã không thể che giấu
thêm được nữa. Anh Nguyễn Hữu L. được giải quyết ly hôn, 2 đứa con trai đã lớn cũng
xin được ở với cha để tiện bề chăm sóc cho anh.
4. Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
hạ vợ... Theo cáo trạng, do ghen tuông vô cớ, L. thường xuyên đánh đập dã mang chị T.
(vợ) và đã từng bị cơ quan chức năng xử lý hành chính và giáo dục nhưng L. vẫn tính nào
tật nấy tiếp tục ghen tuông vô cớ. Ngày 10/9, khoảng 1 giờ, công an tỉnh Bình Thuận,
công an thành phố Phan Thiết, công an xã… có mặt tại nhà L. vận động nhưng L. vẫn
khóa cửa và uy hiếp, thách thức nếu ai bước vào sẽ đâm chết vợ. Trong khi mọi người ở
bên ngoài. L bật đèn, dùng dao khống chế, buộc vợ cởi hết quần áo quan hệ tình dục
trước sự chứng kiến của nhiều người... Nạn nhân (chị T vợ L.) chua xót cho biết, trước
đây mình đã gẫy gánh một lần nên dù L liên tục bạo hành suốt gần 20 năm qua, chị vẫn
cắn răng chịu đựng. Tuy nhiên, lần này thì không còn tình còn nghĩa gì nữa, không còn
có thể tha thứ được nữa.
Trong thực tế có rất nhiều vụ việc hiếm dân tương tự xảy ra giữa những người có
quan hệ thân mật như vợ chồng nhưng không bị phơi bày. Đó là vì hoạt động tình dục
luôn được coi là một vấn đề thầm kín không dễ để nạn nhân chia sẻ, trình báo. Nhưng có
một trở ngại khác lớn hơn chính là quan niệm sai lầm cho rằng: Đã là vợ chồng hoặc
chung sống như vợ chồng thì người phụ nữ phải có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu tình dục
của chồng.
Phụ nữ gặp khó khăn hơn khi tiết lộ những trải nghiệm bạo lực tình dục so với
những trải nghiệm bạo lực thể xác. Tương tự như vậy, việc nói về bạo lực tình dục trong
hôn nhân được xem như một chủ đề không phù hợp, chuyện phòng the cần kín đáo nên
chuyện bạo lực tình dục thường được các chị em phụ nữ che dấu do nhiều nguyên nhân
như sợ hạnh phúc gia đình bị ảnh hưởng, làng xóm dị nghị, xấu mặt cho gia đình, dòng
họ, do vậy nên các chị em phụ nữ thường chịu đựng. Là phụ nữ không ai không có những
lúc mệt mỏi, ốm đau hoặc những lúc tinh thần không thoải mái nhưng nhiều người chồng
vẫn ép buộc khiến người phụ nữ phải miễn chưỡng quan hệ vợ chồng. Thậm chí có
những trường hợp người chồng, người tình còn dùng đến hành vi bạo lực, đe dọa dùng
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành
viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung
sống với nhau như vợ chồng”.
Đồng thời, theo Điều 8 của Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì các hành vi liên
quan đến bạo lực gia đình bị nghiêm cấm là:
“1. Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo
lực gia đình.
3. Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực
gia đình.
4. Trả thù, đe doạ trả thù người giúpđỡ nạn nhân bạo lực gia đình,người phát hiện,
báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
5. Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
6. Lợi dụng hoạt động phòng,chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt
động trái pháp luật.
7. Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối
với hành vi bạo lực gia đình”.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
10
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
1.2. Một số yếu tố tác động đến bạo lực gia đình
khẳng định mình dường như đã là một thói quen, một điều không thể thiếu; và thực sự
khả năng kiềm chế của họ cũng không bằng phụ nữ nên rất dễ “động chân động tay” khi
phải giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng:
trong suy nghĩ của một số phụ nữ, việc đay nghiến, chì chiết chồng là hoàn toàn bình
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
11
SVTH: Hữu Thị Minh Thư
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình - Thực trạng tại thành phố Cần Thơ
thường, mà không hề nghĩ đó là hành vi bạo lực, gây ra những tổn thương về tinh thần
cho người chồng.
Cha mẹ luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng cho con cái mình. Song
quan niệm về giáo dục của phần đông người Việt vẫn là “yêu cho roi cho vọt”. Chính vì
vậy, việc cha mẹ đánh đập, mắng mỏ con cái được coi là bình thường, thậm chí là cần
thiết và không thể thiếu để dạy con thành người. Những đứa con trong gia đình phải chấp
nhận sự giáo dục này, và cuối cùng cũng cảm thấy đó là bình thường để chịu đựng. Bên
cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ vẫn có suy nghĩ con cái là “của mình”, nên mình có quyền đối
xử tùy ý, người khác không được can thiệp vào.
Với các thành viên khác trong gia đình, tâm lý “kính già yêu trẻ”, “kính trên
nhường dưới” vẫn được đề cao. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa, sự áp
đặt của những thành viên lớn tuổi với các thành viên nhỏ hơn trong gia đình là khá phổ
biến và thường xuyên vì quan niệm “khôn không đến trẻ, khỏe không đến già”. Trong xã
hội hiện nay, điều này thường làm phát sinh tư tưởng chống đối ở giới trẻ khiến các mối
quan hệ trong gia đình trở nên căng thẳng, dễ làm phát sinh bạo lực gia đình.
1.2.3. Điều k iện k inh tế xã hội
Cả 2 cự cãi dằn co, trong lúc không kìm được cơn giận, H. dùng dao đâm vào người anh
N., khiến anh tử vong trên đường đi cấp cứu.
Tuy nhiên, ở rất nhiều gia đình, dù điều kiện vật chất đầy đủ nhưng vẫn có hiện
tượng bạo lực gia đình. Điều này có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các
thành viên trong gia đình có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu đi sự quan
tâm chăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh tế mà phát sinh tranh chấp
giữa những người thân trong gia đình. Ở những gia đình này, bạo lực về tinh thần có xu
hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh tế hay tình dục bởi vì những nhu cầu này
đều có thể được đáp ứng phần nào bằng tiền bạc.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu hướng bạo lực
có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: mọi người đều dễ dàng tìm đến việc sử
dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Ngoài ra, sự suy giảm các giá trị
truyền thống cũng làm gia tăng những hành vi bạo lực gia đình vốn hiếm gặp trước đây:
Vợ đánh chồng, con cái đánh đập, mắng chửi bố mẹ, bạo lực tình dục trong gia đình, đặc
biệt là với trẻ em…
1.2.4. Định k iến giới
Do ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu
sắc định kiến giới, đó là những định kiến nằm ngay trong truyền thống văn hóa, phong
tục tâp quán, chuẩn mực đạo đức bấy lâu nay trong xã hội: tư tưởng trọng nam, khinh nữ;
chồng chúa, vợ tôi; tư tưởng gia trưởng; định kiến giới: phụ nữ là người giữ gìn hạnh
phúc gia đình - “một điều nhịn là chín điều lành”… Những quan niệm này đã khiến cho
người nam giới cho rằng họ có vai trò trụ cột trong gia đình, có quyền định đoạt mọi việc,
họ luôn có tư tưởng mình là “tiếng nói”, có "quyền" quyết định những vấn đề quan trọng,
quyết định thái độ ứng xử với các thành viên khác, họ có quyền “dạy dỗ” trong gia đình
nên có thể mắng chửi vợ một vài câu là điều bình thường, thậm chí tát vợ một vài cái
cũng không sao; hay do hiểu sai mục đích của biện pháp nghiêm khắc trong giáo dục con
cái theo quan niệm “yêu cho roi, cho vọt” dẫn đến nhiều bậc cha mẹ tự cho mình quyền
được đánh đập, hành hạ con cái mình.
Đi cùng với đó là tư tưởng “đèn nhà ai nhà nấy sáng”, "vợ chồng đóng cửa bảo
- Bị xử lý hình sự (cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chung thân, tử hình) tùy
theo mức độ.
- Có thể bị nạn nhân “tức nước vỡ bờ” bạo lực trở lại, gây hậu quả nghiêm trọng.
1.3.2. Hậu quả đối với nạn nhân bạo lực gia đình
- Tổn thương về cơ thể: gãy xương, tàn phế, bầm dập, rách da, suy giảm chức năng
vận động,…
- Về sức khoẻ sinh sản: vô sinh, biến chứng khi mang thai, bệnh truyền nhiễm qua
đường tình dục, nạo phá thai không an toàn, mang thai ngoài ý muốn.
- Về tâm lý và hành vi: lạm dụng các chất kích thích, lo âu, buồn chán, rối loạn ăn,
ngủ, tự tử.
- Về kinh tế: mất sức lao động, phải phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ xã hội, ảnh hưởng
đến khả năng làm việc và thu nhập.
- Nếu bạo lực tiếp diễn nghiêm trọng, nạn nhân có thể tử vong.
1.3.3. Hậu quả đối với trẻ em
- Kết quả học kém
- Thiếu tự trọng, rối loạn hành vi
- Trầm uất, thường bị ác mộng
- Lang thang, có nguy cơ cao mắc tệ nạn xã hội và phạm tội
- Sao chép hành vi khi lớn lên (trở thành người gây bạo lực gia đình hoặc nạn nhân
bạo lực gia đình).
Hành vi bạo lực đều để lại những hậu quả nặng nề về thể chất, sức khỏe, tinh thần,
kinh tế,…đối với nạn nhân. Đặc biệt, với trẻ em thì những hành vi này sẽ để lại dấu ấn
sâu sắc trong tâm hồn trẻ, chi phối đến sự hình thành nhân cách sau này. Những trẻ em là
nạn nhân trực tiếp của bạo lực gia đình phải gánh chịu nỗi đau về thể xác, tinh thần lớn
lao, rất dễ có những phản ứng tiêu cực. Còn với những em phải chứng kiến nạn bạo lực
giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là bạo lực giữa bố mẹ chúng thì thậm chí còn
bị ảnh hưởng nặng nề hơn, có thể gây nên những chấn thương tâm thần, đôi khi kéo dài
suốt cả cuộc đời. Những đứa trẻ này thường lo lắng, bất an, khó hòa nhập cuộc sống, từ
Với những tác động tiêu cực như trên đối với mỗi cá nhân, gia đình, bạo lực gia
đình cũng để lại hậu quả nặng nề cho toàn xã hội. Trước hết, nó làm suy thoái đạo đức
nghiêm trọng: khi mà những quan hệ thiêng liêng, bền vững (tình cảm vợ chồng, sự hiếu
thảo với cha mẹ, tình nghĩa anh em,…) Bên cạnh đó, hành vi bạo lực còn tác động xấu
đến trật tự xã hội: những người xung quanh, những người chứng kiến hành vi sẽ cảm thấy
bất bình, thấy ức chế và không tin vào những giá trị tốt đẹp; hoặc khi đã vô tâm, lãnh
đạm thì chính họ sẽ thực hiện hành vi này, làm gia tăng xu hướng bạo lực trong xã hội.
1.4. Ý nghĩa của việc phòng, chống bạo lực gia đình
Với những hậu quả nêu trên, việc phòng, chống bạo lực gia đình có ý nghĩa quan
trọng trong việc đảm bảo quyền con người, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của
các thành viên gia đình; đảm bảo sự phát triển lành mạnh của trẻ em; đảm bảo cho hạnh
phúc, bình yên trong mỗi gia đình cũng như đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Việc phòng, chống bạo lực gia đình trước hết là nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi
bạo lực hoặc nguy cơ gây ra hành vi bạo lực gia đình, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích
hợp pháp của tất cả các chủ thể, đặc biệt là nạn nhân của bạo lực gia đình. Không chỉ
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
16
SVTH: Hữu Thị Minh Thư