KHUYNH HƯỚNG dân CHỦ tư sản TRONG PHONG TRÀO dân tộc dân CHỦ ở VIỆT NAM NHỮNG năm 1919 1930 - Pdf 31

Đề tài: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG
PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1919-1930

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930
có hai khuynh hướng cách mạng song song tồn tại. Đó là khuynh hướng
cách mạng dân chủ tư sản và khuynh hướng cách mạng vô sản. Giữa hai
khuynh hướng này có sự cạnh tranh với nhau để một trong hai khuynh
hướng sẽ trở thành khuynh hướng chủ đạo của phong trào cách mạng Việt
Nam những thời kì sau. Đây có lẽ là đặc điểm nổi bật nhất của phong trào
dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930. Vì vậy, việc lựa chọn
nghiên cứu khuynh hướng dân chủ tư sản sẽ giúp giáo viên, học sinh hiểu rõ
thêm về đặc điểm nổi bật này của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam
những năm 1919-1930.
Trong hai khuynh hướng cách mạng ở Việt Nam thời kì 1919-1930, người
ta thường nói nhiều đến khuynh hướng cách mạng vô sản. Đó cũng là điều
hiển nhiên bởi vì khuynh hướng cách mạng vô sản là khuynh hướng cách
mạng đúng đắn nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử Việt
Nam. Bản thân mỗi giáo viên dạy lịch sử phải hiểu rõ điều đó và định hướng
cho học sinh hiểu được điều đó. Tuy nhiên, sẽ thật phiến diện nếu như ta
không tìm hiểu kĩ về khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản. Bởi vì:
Thông qua việc tìm hiểu về khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản
trong thời kì lịch sử 1919-1930 ta sẽ có cái nhìn xuyên suốt về khuynh hướng
cách mạng này từ khi nó xuất hiện đến khi nó chấm dứt vai trò lịch sử. Trên
cơ sở đó ta thấy được những đóng góp của khuynh hướng cách mạng này đối
với phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam, thấy được những mặt tích cực và
hạn chế của nó, đánh giá nó cho khách quan và chính xác.
Qua việc tìm hiểu khuynh hướng cách mạng này ta có thể đặt nó trong sự
so sánh với khuynh hướng cứu nước phong kiến, khuynh hướng cách mạng


Mục đích của đề tài nhằm khai thác rộng và sâu những kiến thức liên
quan đến khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở
Việt Nam những năm 1919-1930 qua đó giúp bản thân giáo viên nâng cao
hiểu biết về nội dung kiến thức này.


Trên cơ sở đó giáo viên chuyển hóa đề tại này thành chuyên đề để dạy cho
học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia, học sinh giỏi tỉnh. Thậm chí
giáo viên có thể chắt lọc từ trong đề tài một số vấn đề để từ đó nêu lên thành
câu hỏi, thành tình huống có vấn đề để phục vụ cho việc ôn thi đại học, ôn
thi tốt nghiệp THPT cho học sinh.
Từ đề tài này có thể lựa chọn ra những đơn vị kiến thức quan trọng để
xây dựng thành những đề tài mới, những chuyên đề mới phục vụ cho việc
dạy của giáo viên và học của học sinh. Ví dụ như chuyên đề về hoạt động của
tư sản dân tộc trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 1919-1930; hoạt
động của tiểu tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 19191930; những đặc điểm nổi bật của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản
trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930; những
đóng góp của tư sản dân tộc, tiểu tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở
Việt Nam những năm 1919-1930…
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Điều kiện lịch sử tác động đến khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở
Việt Nam những năm 1919-1930
Ngay từ đầu thế kỉ XX, luồng tư tưởng dân chủ tư sản đã ào ạt tràn vào
nước ta. Ngay lập tức, các sĩ phu yêu nước tiến bộ mà tiêu biểu là Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh đã chấp nhận nó, tiếp thu nó rồi bắt tay vào hoạt
động cứu nước. Cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng cách mạng
dân chủ tư sản diễn ra mạnh mẽ trong hai mươi năm đầu thế kỉ XX. Tuy
nhiên, trải qua hai mươi năm đấu tranh miệt mài, cuộc vận động cứu nước
đó không đạt được kết quả như mong muốn là là cho đất nước được độc lập,
tự do, dân trí được mở mang, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc, và

viên rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên hăng hái
tham gia các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Giai cấp tư sản ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và phân hóa
thành hai bộ phận là tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là
những chủ tư bản lớn, mở xí nghiệp để gia công và nhận thầu cho đế quốc,
lập các hiệu buôn bán lớn… Tư sản dân tộc đã đi vào con đườn phát triể
kinh tế dân tộc. Địa vị kinh tế của tư sản Việt Nam rất nhỏ bé, tổng số vốn
kinh doanh chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào
nước ta lúc bấy giờ. Tư sản dân tộc Việt Nam là lực lượng có khuynh hướng


dân tộc và dân chủ.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những sĩ phu yêu nước lão thành như
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh vẫn còn sục sôi nhiệt tình cách mạng. Về
cơ bản họ vẫn kiên trì đi theo con đường cứu nước mà chính họ đã vạch ra
từ đầu thế kỉ XX. Giờ đây, tuy hoạt động của họ không còn đóng vai trò nòng
cốt trong khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản nữa nhưng họ vẫn là
những biểu tượng lớn của khuynh hướng cách mạng này và của cả phong
trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam.
Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày càng có nhiều người Việt
Nam ra nước ngoài hơn. Một bộ phận trong số đó sẽ có điều kiện tiếp xúc và
tiếp thu luồng tư tưởng dân chủ tư sản. Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới
thứ nhất, việc thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện các chính sách về văn hóa,
giáo dục vô tình làm cho hệ tư tưởng dân chủ tư sản có điều kiện tràn vào
nước ta thêm nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, hệ tư tưởng dân
chủ tư sản lúc đó không còn là hệ tư tưởng mới nhất, tiên tiến nhất, cách
mạng nhất nữa. Vả lại, hệ tư tưởng đó khi vào Việt Nam lại bị bóp méo phần
nào nên đã bị giảm bớt tính ưu việt đi nhiều.
2. Những hoạt động tiêu biểu đại diện cho khuynh hướng cách mạng dân chủ
tư sản ở Việt Nam những năm 1919-1930

tang lớp nhân dân, nhất là thanh niên rất mến mộ và hưởng ứng hoạt động
của Phan Châu Trinh
- Hoạt động của một số người Việt Nam sống tại Pháp
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều Việt kiều tại Pháp đã tham gia
hoạt động như chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước. Nhiều trí thức và
lao động Việt Nam ở Pháp đã tập hợp lại trog các tổ chức yêu nước. Năm
1925, Hội nghững người lao động trí óc Đông Dương ra đời.
Một số thanh niên, sinh viên yêu nước xuất than trong các gia đình địa
chủ, tư sản lập ra Đảng Việt Nam độc lập, xuất bản báo Tái sinh.
2.2. Hoạt động yêu nước của tư sản và tiểu tư sản trong những năm 19191925
- Các hoạt động cạnh tranh với tư sản nước ngoài trên lĩnh vực kinh tế
Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp, giai cấp tư sản


Việt Nam vốn nhỏ yếu về kinh tế và thường xuyên bị tư sản nước ngoài cạnh
tranh, chèn ép. Tuy nhiên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản đã
mạnh dạn đương đầu với tư sản người Hoa và tư sản Pháp.
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tại các thành phố lớn như Sài Gòn,
Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,... với khẩu hiệu “Người An Nam mua bán với
người An Nam”, tư sản Việt Nam đã vận động tẩy chay hàng hoá của tư sản
Hoa kiều. Thậm chí một số nơi còn xảy ra các vụ xô xát, đập phá một số cửa
hàng, cửa hiệu của người Hoa. Việc làm này tuy có lợi cho tư sản Pháp, giúp tư
sản Pháp diệt trừ một đối thủ cạnh tranh với chúng, nhưng phong trào càng tiến
triển, Pháp càng lo sợ cho trật tự an ninh của chúng. Do đó chúng đã tiến hành
các vụ bắt bớ làm cho phong trào lắng dần.
Năm 1923, một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam Kì (đại biểu là Bùi Quang
Chiêu, Nguyễn Phan Long…) đã lập ra Đảng Lập hiến. Cơ quan ngôn luận của
Đảng lập hiến là hai tờ Diễn đàn Đông Dương và tờ Tiếng dội An Nam. Khi
được thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (như cho tham gia Hội đồng
Quản hạt Nam kì), họ lại thỏa hiệp với chúng.

ông ta lại “dội nước đá vào người nghe” bằng mấy câu dõng dạc tuyên bố: “Tôi
nguyện hy sinh cho Chủ nghĩa Pháp -Việt đề huề”(!). Trần Huy Liệu đã viết:
trước 4 giờ chiều, trong cuộc đón Bùi Quang Chiêu, thanh niên là những người
đi đầu ủng hộ Bùi Quang Chiêu. Ba giờ sau, nghĩa là 7 giờ tối thanh niên đã ra
mặt chống đối Bùi Quang Chiêu, chống chủ nghĩa Pháp -Việt đề huề.
Lợi dụng những điều kiện có lợi cho hoạt động văn hóa, nhiều trí thức thanh
niên tiến bộ lúc bấy giờ đã tham gia một số tờ báo tiếng Pháp như tờ: La
Tribune Indigene (Diễn đàn của người bản xứ) của Nguyễn Phú Khai và Bùi
Quang Chiêu, La Cloche Félée (Tiếng chuông rè) của Nguyễn An Ninh,
L’Annam và báo Le Nhà quê của Phan Văn Trường, Jeune Annam, của Đảng
Thanh niên do Lâm Hiệp Châu làm chủ nhiệm, L’ Union Indochinoise của Vũ
Đình Dị, L’echo annamitte của Nguyễn Phan Long...
Báo chí đã đề cập tới một số vấn đề cụ thể đang diễn ra hàng ngày như công
kích chính quyền thực dân, bọn tay sai của Pháp ở Nam kì, công kích chế độ
thuộc địa và bọn quan lại tham nhũng, chống áp bức ở thuộc địa, đòi mở rộng
dân chủ...
Tờ La Cloche Félée (Tiếng chuông rè) do Nguyễn An Ninh làm chủ bút, với
lời lẽ kịch liệt “không phải chỉ đả kích mấy tên trùm sỏ trong tập đoàn thống trị
mà còn chống với cả chế độ thuộc địa nói chung”, “những người đọc La
Gloche Félée hồi ấy phần lớn là những người có tư tưởng chống đối chính phủ,


không sợ mật thám trù”. Tờ báo đó sau được Phan Văn Trường đổi tên là tờ L’
Annam và có khuynh hướng cộng sản rõ rệt.
Ngoài những tờ báo của người Việt, La Voix Libre (Tiếng nói tự do) của Ganốt-xky (Ganobsky) với những bài ngắn gọn, tờ báo tập trung đả kích tập đoàn
thông trị của Pháp ở Nam Kì từ Thống đốc cho tới Chủ tịch và các nghị sĩ Hội
đồng quản hạt Nam Kì, “Ga-nốt-xky đã trở thành một người Pháp chống thực
dân Pháp vào hạng nhất”.
Luật sư Mônanh (Monin) với tờ L’Indochine (báo ra hàng ngày), phải đương
đầu với cả tập đoàn thống trị Pháp. Tại các toà án, Mônanh đã trở thành một nhà

điều tra. Qua một đoạn thơ do Bùi Bằng Đoàn (phiên dịch) chép được của bị
can: “Sống không trừ được lo thiên hạ, chết không rửa được thù ý trung, mối
hận dẳng dai, Sông cả núi Hồng muôn thuở đó. Trò chơi trước đã sắp đến lúc
tàn, Sân múa sau chính đường sắp dựng, thúc người sôi sục, gió Âu, mưa Á tám
phương dồn”; cụ Ngô Đức Kế khẳng định người bị bắt mang tên Trần Văn Đức
chính là Phan Bội Châu. Cụ Ngô Đức Kế và các bạn của cụ cho rằng nếu không
có phản ứng gì thì chính phủ Pháp sẽ tìm cách thủ tiêu cụ Phan. Sau đó các báo
chí và các nhân viên Hoả Lò cũng lần lượt tung ra ngoài cái tin cụ Phan Bội
Châu bị bắt. Nhiều nhân vật và đoàn thể đánh điện cho các nhà chức trách Pháp
đòi thả Phan Bội Châu. Varen-vừa mới được bổ nhiệm chức Toàn quyền Đông
Dương đã được các sinh viên Trường Cao đẳng tổ chức đón tiếp với ba khẩu
hiệu: “Người đảng viên xã hội Varen muôn năm”, “Tha cho Phan Bội Châu”,
“Đả đảo chính sách thuộc địa bằng roi vọt”.
Hội Phục Việt đã kịp thời in truyền đơn phân phát ở Hà Nội và nhiều tỉnh
khác. Ngoài việc vạch tội ác của thực dân Pháp, truyền đơn kịch liệt phản đối
việc bắt nhà ái quốc Phan Bội Châu. Theo Tôn Quang Phiệt - một yếu nhân của
Hội Phục Việt hồi đó thì ở Nhà lưu trú Thanh niên Việt Nam tại Hà Nội một số
sinh viên đã tiếp Toàn quyền Varen và đã đọc một bài diễn văn mà mật thám
Pháp gọi là “nảy lửa”.
Khi Toà Đề hình Đông Dương tuyên án mức án khổ sai chung thân đối với
Phan Bội Châu thì dư luận rất phẫn nộ. Rất nhiều cá nhân, đoàn thể, trường học,
các nhà báo đánh điện cho Toàn quyền Đông Dương đòi thả Phan Bội Châu.
Cuối cùng, ngày 25-12-1925, trước áp lực đấu tranh của quần chúng, Toàn
quyền Varen kí lệnh “ân xá” Phan Bội Châu và đưa về giam lỏng ở Huế dưới sự
kiểm soát chặt chẽ của bọn mật thám.
Sự thắng lợi của phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu - phong trào
đấu tranh công khai đầu tiên, đã làm nức lòng nhân dân cả nước và cổ vũ mạnh


mẽ cho cuộc đấu tranh cứu nước trong giai đoạn mới.

tang cụ Phan Châu Trinh đã gây được một ảnh hưỏng rất sâu rộng cho phong
trào ái quốc và dân chủ hồi ấy và nếu bắt đầu từ cuộc đấu tranh chống độc


quyền hải cảng Sài Gòn năm 1923, qua những cuộc đưa Dân nguyện cho Toàn
quyền Varen (Varene), đòi thả cụ Phan Bội Châu, biểu tình đón Bùi Quang
Chiêu thì đây là độ cao chót của phong trào”.
2.3. Tâm tâm xã và Phục Việt ra đời, một bước chuyển biến mới của phong
trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc
Sự bế tắc của Phan Bội Châu trên con đường cứu nước, như chính cụ tự bạch
“trăm lần thất bại mà không một lần thành công” đã làm xuất hiện thêm hai tổ
chức yêu nước mới. Đó là Tâm tâm xã (1923) và Phục Việt (7-1925). Hai tổ
chức này đều chuyển hoá nhanh chóng theo khuynh hướng cách mạng vô sản.
- Tâm tâm xã hay là Tân Việt Thanh niên đoàn là do một nhóm 7 người trí
thức Việt Nam xuất dương sang Trung Quốc lập ra. Đó là những thanh niên yêu
nước trẻ tuổi: Lê Văn Phan (tức Lê Hồng Sơn), Hồ Bá Cự (tức Hồ Tùng Mậu),
Nguyễn Giản Khanh (con nuôi của cụ Nguyễn Thiện Thuật thủ lĩnh cuộc khởi
nghĩa Bãi Sậy), Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu (tức Tống Giao
Cầu), Nguyễn Công Viễn (tức Lâm Đức Thụ), Đầu năm 1924, Tâm tâm xã còn
kết nạp thêm Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái,... Tổ chức này gồm những
thanh niên trưởng thành sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và
đã từng chịu ảnh hưởng của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX. Nhưng lúc đó,
Việt Nam Quang phục hội do cụ Phan Bội Châu đứng đầu đã bị tan rã sau
những thất bại liên tiếp ở trong và ngoài nước. Nhờ vậy họ nhận thấy đường lối
của tổ chức này có nhiều hạn chế và sai lầm nên bàn nhau và quyết định đi tìm
một đường lối cách mạng đúng đắn.
Tôn chỉ của Tâm tâm xã là: “Liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân
Việt Nam không phân biệt ranh giới đảng phái, miễn là có quyết tâm hi sinh tất
cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục
quyền làm người của người Việt Nam”. Điều lệ của Tâm tâm xã còn đề cập tới

điểm mới về giải phóng dân tộc. Đồng thời Phục Việt cũng trở thành nơi đầu
tiên cung cấp thanh niên cho Trường huấn luyện chính trị Quảng Châu của Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên, tạo nguồn cán bộ cho phong trào cộng sản Việt
Nam trong nhiều năm sau.


2.4. Việt Nam Quốc dân đảng (1927-1930)

Sự xuất hiện Việt Nam Quốc dân đảng là một trong những hiện tượng phát
triển của chủ nghĩa dân tộc cách mạng, là sự vượt lên trên sự bế tắc của chủ
nghĩa yêu nước ôn hoà trong điều kiện lịch sử mới.
Chủ nghĩa dân tộc cách mạng đã xuất hiện hồi đầu thế kỉ XX bằng Duy Tân
hội, Việt Nam quang phục hội và nhiều tổ chức yêu nước khác. Đến những năm
1922-1930, chủ nghĩa dân tộc cách mạng được biểu hiện phong phú bằng các
đảng chính trị, các hội văn hoá, các cơ quan ngôn luận, có khi bằng đoàn thể
đượm màu sắc tôn giáo.
Theo GS.Trần Văn Giàu, vào năm 1925, luồng “chủ nghĩa yêu nước ôn hoà”
mà Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai chính khách tiêu biểu, được công
khai quảng bá trong quảng đại quần chúng nhân dân Bắc, Trung, Nam và lớp trẻ
hơn các chí sĩ ấy nhưng đầy máu nóng như Nguyễn An Ninh, Trần Huy Liệu
cũng chưa vượt qua các mức yêu nước ôn hoà. Những suy tư của Nguyễn Thái
Học muốn hợp tác với Chính phủ Pháp để làm cho dân tộc Việt Nam tiến bộ
theo kịp người Pháp như người Pháp đã từng hứa hẹn trong chiến tranh; những
người biểu tình đòi ân xá cho Phan Bội Châu (1925), những cuộc tập hợp lớn
hơn chục vạn người để làm đám tang cho Phan Châu Trinh và việc Chính phủ
Pháp phái Varen (nguyên đảng viên Đảng xã hội) sang làm Toàn quyền Đông
Dương càng gây ảo mộng làm cho chủ nghĩa yêu nước ôn hoà và chủ nghĩa cải
lương càng thêm thịnh đạt.
Nhưng chính thực dân Pháp đã nhanh chóng dập tắt ảo vọng “đề huề”, “ỷ
Pháp cầu tiến bộ”, chính sách đầu tư khai thác thuộc địa của Pháp vào Việt Nam

Về cơ cấu tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng có 4 cấp: Tổng bộ, Kì Bộ, Tỉnh
bộ và Chi bộ. Số đảng viên trong chi bộ không quá 19 người. Nhưng Việt Nam
Quốc dân đảng chưa bao giờ trở thành hệ thống trong nước. Đứng đầu Chi bộ là
Chi bộ trưởng. Chi bộ có thể hình thành trong phạm vi các đơn vị hành chính
một xóm, một làng, một tổng, một huyện, một khu phố hay một thành phố. Trên
thực tế, Việt Nam Quốc dân đảng đã xây dựng và phát triển cơ sở ở Vĩnh Yên,
Phú Thọ, Sơn Tây (Hà Tây). Cuối năm 1928 đầu năm 1929, phát triển thêm
nhiều cơ sở ở Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội và Thái Bình. Theo tài
liệu dò xét được của mật thám Pháp thì riêng Bắc Kì Việt Nam Quốc dân đảng


đã lập được 120 Chi bộ với khoảng 1.500 đảng viên, trong đó có 120 người là
cai đội lính khố đỏ. Ở Trung Kì, Việt Nam Quốc dân đảng hầu như không phát
triển được lực lượng vì ở các tỉnh Trung Kì cơ sở hội Việt Nam cách mạng
thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng khá mạnh. Ở Nam Kì Việt Nam Quốc
dân đảng xây dựng được một số chi bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mĩ Tho.
Thành phần xã hội của đảng viên trong Việt Nam Quốc dân đảng chủ yếu
gồm trí thức, giáo viên, công chức, học sinh, những người làm nghề tự do, một
số tư sản ở thành thị, những kì hào, địa chủ, phú nông ở nông thôn và một số
binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Việt Nam Quốc dân đảng hầu như
không kết nạp công nhân và nông dân lao động.
Ban lãnh đạo tổng bộ Việt Nam Quốc dân đảng gồm một số nhân vật có uy
tín như Nguyễn Thái Học (Chủ tịch đảng), Nguyễn Thế Nghiệp (Phó Chủ tịch),
các uỷ viên gồm có Nhượng Tống, Tưởng Dân Bảo và Nguyễn Hữu Đạt. Cơ
quan Tổng Bộ có các ban: Ban tuyên truyền huấn luyện (Phó Đức Chính phụ
trách), Ban ngoại giao (Nhượng Tống), Ban trinh sát (Hoàng Văn Tùng), Ban
Kinh tài (Hồ Văn Mịch và Nguyễn Ngọc Sơn), Tổ chức ám sát (Đoàn Trần
Nghiệp).
Vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba-danh (Bazin) tuy có làm nức lòng các tầng
lớp nhân dân, nhưng sau đó đã bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Sau 5 tháng săn

mãi đến khi các đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng bị Pháp giam vào tù ngục
mới thảo luận về chủ nghĩa, về tư tưởng. Việc làm này quá muộn và không có
kết quả, càng tranh luận càng mất đoàn kết, càng chia rẽ sâu sắc.
Ba là, mặc dù có phê phán tư tưởng phiêu lưu mạo hiểm, ám sát cá nhân,
không biết đến sức mạnh của quần chúng nhân dân, mang nặng tư tưởng “Sát
thân thành nhân” của Việt Nam Quốc dân đảng, người đương thời vẫn nhiệt liệt
biểu dương tinh thần chiền đấu, chủ nghĩa yêu nước của các chiến sĩ đã đứng
dậy chiến đấu ở Yên Bái, Lâm Thao, Vĩnh Bảo và những nơi khác hồi đầu
tháng 2-1930. Có điều là phải nhìn thấy bài học kinh nghiệm: khi lịch sử đặt ra
yêu cầu “Con em trong nước phải giám hi sinh vì nước, vì danh dự của dân
tộc”, thì “các nhà lãnh đạo phong trào nhất thiết phải tránh chủ nghĩa mạo hiểm,
cân nhắc lợi hại, dự đoán thành bại, tránh cho con thuyền cách mạng được càng
nhiều ghềnh thác càng hay”..
Bốn là, Chủ nghĩa dân tộc của những nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng
từ khởi nghĩa Yên Bái trở về trước không có chủ trương chống cộng sản. Tuy là
một đảng không có chủ nghĩa xác định, nhưng Việt Nam Quốc dân đảng thừa
nhận “Cách mạng vô sản Nga, cùng với cách mạng Trung Quốc đã gây một ảnh


hưởng lớn trên toàn thế giới”, thúc đẩy “thời đại các dân tộc bị áp bức nổi dậy
làm cách mạng”; và mặc dù, trên thực tế chưa làm được, nhưng trong hai bản
điều lệ năm 1928 và năm 1929 đều xác định rõ một trong ba nhiệm vụ cơ bản
của Việt Nam Quốc dân đảng là giúp các dân tộc khác đấu tranh tự giải phóng.
Trước và Sau khởi nghĩa Yên Bái không chỉ có nhân dân Việt Nam mà cả
Đảng cộng sản Pháp, Tổng công hội thống nhất và báo Nhân đạo cũng bền bỉ
đấu tranh chống khủng bố của đế quốc Pháp. Không ít đảng viên của Việt Nam
Quốc dân đảng đã được những người cộng sản Việt Nam cảm hoá hướng theo
ngọn cờ cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Theo GS. Trần Văn Giàu, “Những bước thoái hoá về tư tưởng của Việt
Nam Quốc dân đảng sẽ bắt đầu sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại, số

Quốc. Họ hăng hái chuyển hoá theo khuynh hướng cộng sản.
Chính gia đình Nguyễn Ái Quốc cũng là thành viên của Duy Tân hội và sau
đó là của Việt Nam Quang phục hội; còn Nguyễn Ái Quốc là một trường hợp
khác biệt trong cả một trào lưu yêu nước; là một sắc tố trỗi vượt trong phong
trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Sau khi vào Sài Gòn, đến bến Nhà Rồng, với tên
là Văn Ba, ngày 3-6-1911, xuống tàu buôn Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche
Tréville) nhận làm phụ bếp. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, rời bến Nhà Rồng ra đi
với ý muốn sang phương Tây để làm quen với nền văn minh Pháp, để tìm xem
những gì ẩn náu đằng sau những từ hoá mỹ: tự do, bình đẳng, bác ái mà bọn
thực dân đang phô trương ở các thuộc địa. Cuộc khảo nghiệm dài ngày, gian
khổ tại nhiều thuộc địa và tại những quốc gia đã từng diễn ra các cuộc cách
mạng tư sản điển hình đã giúp Người đối chiếu thực trạng các nước tư bản phát
triển với cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa để xác định mục tiêu, tìm
kiếm đồng minh và những phương pháp hành động mới cho cuộc cách mạng
Việt Nam.
Bằng con đường lao động và chấp nhận lao động cực nhọc làm phương
tiện và biện pháp để đi tìm chân lí, Nguyễn Ấi Quốc đã thực hiện một cuộc
hành trình dài ngày quá nhiều nước. Người đã chứng kiến tội ác chồng
chất của chủ nghĩa thực dân, Người cũng đã chia sẻ và nếm trải những khổ
đau của nhân loại trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất 1914 1918.
Năm 1918. Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại
biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp),


chúng rêu rao đưa lại quyền tự do bình đẳng cho các dân tộc, thực chất là
các nước thắng trận (chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp) chia lại thị trường thế giới.
Nhân danh nhóm những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, ngày 18 tháng
6 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị, đồng thời gửi tới Tổng
thống Mỹ và trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị Vécxây bản Yêu sách
của nhân dân An Nam gồm 8 điểm.

nhưng trước sau rốt cuộc bị các giai cấp thống trị xuyên tạc và lợi dụng làm lợi
khí mê hoặc lòng người để cho chúng tự do sai khiến và bóc lột những người
nghèo khổ, duy chỉ có các nhà triết học duy vật từ các nhà lí luận của cách mệnh
tư sản đến các nhà lí luận của cách mệnh vô sản, tức các nhà mác- xít là chỉ cho
nhân dân con đường tự giải thoát khỏi ách thống trị và bóc lột, mà xây dựng
hạnh phúc cho đời mình. Nhưng các nhà lí luận của cách mệnh tư sản chỉ mới
nhằm giải phóng cho con người trừu tượng, mà trong thực tế thì những con
người thực tế này chính lại lợi dụng học thuyết tự do của họ mà bóc lột số đông
những con người thực tế khác". Ông kết luận "Chỉ có chủ nghĩa duy vật biện
chứng với chủ nghĩa khoa học của Các Mác và Ănghen mới dạy cho loài người
đánh đổ mọi giai cấp bóc lột mà giải phóng hoàn toàn con người thực tế. Do đó
tôi càng tin rằng, nếu chúng ta muốn khôi phục độc lập dân tộc mà đừng để cho
giai cấp nào phỗng mất tay trên thành quả cách mệnh mà bóc lột đồng bào, thì
phải đi theo con đường cách mệnh do chủ nghĩa Mác vạch ra".
Các tổ chức khác tuy không có sự chuyển hoá nhanh và đồng loạt như
Tân Việt cách mạng đảng, nhưng cũng có một số người chịu ảnh hưởng của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Đối với Đảng Thanh niên (1926-1927), theo nhà sử
học Trần Huy Liệu - một trong những yếu nhân của Đảng này, thì khoảng
năm 1928 - lúc ấy những tổ chức bí mật của các tổ chức chính Đảng đã lan
tràn khắp trong nước, nhiều cơ sở quần chúng của Đảng Thanh niên trước
đây đã trở thành địa bàn của nhiều đảng phái mới. Những phần tử cốt cán
của Đảng Thanh niên cũng dần dần phân hoá, số đông gia nhập Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt cách mạng đảng, và sau đó nhiều
người chuyển qua Đảng cộng sản. Nguyễn An Ninh một thời theo “chủ
nghĩa ôn hoà” đã từng nói với nhiều người rằng: "Ở ngoài Đảng, tôi nhận
vận động trí thức và những người thuộc tầng lớp trên, như thế có lợi hơn
cho công tác của Đảng. Tôi xin nguyện làm một chiến sĩ vô danh của Đảng.
Tuy tôi không vào Đảng, nhưng trái tim tôi đã thuộc về Đảng".
Việt Nam quốc dân Đảng (1927-1930) muốn phối hợp hành động chống
Pháp, nhưng không cùng chính kiến với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status