LỰA CHỌN vấn đề dạy và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG dạy PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM GIAI đoạn 1919 – 1930 - Pdf 31

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC
DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

HỘI THẢO KHOA HỌC
MÔN LỊCH SỬ

CHUYÊN ĐỀ:
Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho
học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy nội dung quan hệ
quốc tế từ 1919-1945


LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP
CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY
NỘI DUNG QUAN HỆ QUỐC TẾ 1919-1945
A. Lựa chọn vấn đề dạy
I. Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939)
Quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia về mặt nhà nước trên lĩnh vực
ngoại giao trong qua trình đấu tranh, thương lượng nhằm giải quyết những vấn đề
chung, hướng tới duy trì một trật tự thế giới.
1. Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (19191929): Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn
a. Hội nghị Vécxai
* Nguyên nhân, mục đích triệu tập Hội nghị Vécxai
Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất giữa phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga) và phe
Liên minh (Đức, Áo, Hung và Italia) đã kết thúc ngày 11-11-1918. Cuộc chiến
tranh này đã đưa tới sự thay đổi sâu sắc trong tương quan lực lượng giữa các nước
đế quốc, theo hướng ngày càng bất lợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị
trí trung tâm trong thế giới tư bản chủ nghĩa trước đây, đồng thời cũng thay đổi cơ
bản nội dung, tính chất của quan hệ quốc tế. Hệ thống đế quốc chủ nghĩa không
còn nguyên vẹn nữa. Nước Nga xã hội chủ nghĩa ra đời, đã trở thành thách thức to
lớn đối với các nước tư bản chủ nghĩa. Phong trào cách mạng thế giới có bước

chặn Pháp mạnh lên, và muốn sử dụng Đức làm đối thủ, cản trở sự bá quyền của
Pháp ở châu Âu. Đáp lại sự ngăn cản của Anh đối với những đòi hỏi lãnh thổ của
mình đối với Đức, Pháp đã công khai nói rõ: "Ngay sau chiến tranh, Anh đã trở
thành đối thủ của chúng tôi" .
- Nội dung của Hội nghị Vécxai bao gồm một loạt Hoà ước kí với Đức và
đồng minh của Đức, Nghị quyết thành lập Hội Quốc liên. Hoà ước với Đức là
quan trọng nhất, kí ngày 28-6-1919 tại Phòng gương trong Cung điện Vécxai.
Pháp nhận lại Andát, Loren và vùng than Xarơ. Đức thừa nhận Ba Lan độc lập, trả
lại Ba Lan vùng đất bị Phổ chiếm đóng trước đây. Ba Lan có đường ra biển Ban
Tích. Đức bị tước bỏ các thuộc địa và bồi thường 132 tỉ Mác vàng tiền chiến phí,
luật nghĩa vụ quân sự bị loại bỏ, cấm Đức phát triển tàu ngầm, tàu chiến, xe tăng
và không quân. Vùng sông Ranh và khu vực rộng 50 km bên phải sông Ranh được
tuyên bố là vùng phi quân sự.
- Tuy nhiên, Hoà ước Vécxai không đụng chạm đến các cơ sở trọng yếu của
chủ nghĩa đế quốc Đức. Cơ sở công nghiệp quân sự Đức không bị tiêu diệt mà chỉ
bị hạn chế. Trong khi thảo luận các điều khoản quân sự của Hoà ước, Tổng thống
Mĩ Uynxơn đã tuyên bố rằng Đức cần phải có lực lượng quân sự cần thiết để "duy
trì trật tự trong nước và đàn áp chủ nghĩa Bônsêvích". Số quân 100 nghìn người
được tuyển lựa trên cơ sở tự nguyện. Như vậy, các nhà hoạch định Hoà ước
Vécxai đã tạo ra những cơ sở thuận lợi để phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức
nhằm chống lại Liên Xô và phong trào cách mạng ở chính nước Đức.
* Hậu quả của hệ thống Hoà ước Vécxai
- Những Hoà ước được kí giữa các nước tư bản thắng trận với Đức và đồng
minh của Đức như Áo, Hung, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, tạo thành "hệ thống Vécxai",
xác lập trật tự quan hệ quốc tế trong thế giới tư bản sau chiến tranh. Hệ thống Hoà
ước Vécxai không có khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa các nước đế quốc. Sự
phân chia thế giới mới do các cường quốc thắng trận thực hiện chỉ có tính chất tạm
thời. Hoà ước Vécxai đẻ ra mâu thuẫn giữa các nước thắng trận và bại trận. Mâu
thuẫn này cũng nảy sinh ngay chính trong các nước thắng trận. Hoà ước kí ở
Vécxai không thoả mãn ý đồ bành trướng của Mĩ.

lượng chống chủ nghĩa xã hội. Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những
nước thỏa mãn và bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộc
xung đột quốc tế trong tương lai. Như vậy, hòa bình thế giới đã được lập lại trong
một thế giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn.
2. Quan hệ quốc tế của nước Nga Xô viết-Liên Xô và phong trào cộng sản
trong những năm 20 của thế kỉ XX
a. Quan hệ quốc tế của nước Nga Xô viết-Liên Xô
Sau khi hoàn thành đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, trong quan hệ quốc
tế, chính phủ Xô viết đấu tranh cho hòa bình và thiết lập quan hệ ngoại giao. Nước
Nga Xô viết phản đối tính chất gay gắt của các hòa ước, nhất là hòa ước Vecxai.
Qua hơn 7 năm tồn tại và khẳng định vị thế của mình, Liên Xô đã được hơn 20
quốc gia trên thế giới chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, khẳng
định vai trò, uy tín ngày càng cao của Liên Xô và những thắng lợi to lớn của nền
ngoại giao Xô viết.
b. Quan hệ quốc tế trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế những
năm 20 của thế kỉ XX
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã thúc đẩy quá trình phân hóa của phong trào
công nhân châu Âu. Chỉ còn ít người theo quan điểm của Lê nin kiên trì đấu tranh
chống chiến tranh đế quốc, kêu gọi công nhân đấu tranh bảo vệ hòa bình, tiến hành
cách mạng vô sản. Năm 1919, Quốc tế III được thành lập, quan tâm đến vấn đề
đấu tranh của các dan tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân.
Trong khi đó, những phần tử cơ hội trong Quốc tế thứ II vẫn cố gắng gây dựng
phong trào, ủng hộ chính quyền tư sản, gây chia rẽ trong phong trào công nhân.
3. Quan hệ quốc tế đưa tới Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)
a. Hai khối đế quốc đối lập hình thành
- Việc phân chia thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) chỉ có
lợi cho các nước thắng trận, nó đã chứa đựng nguy cơ cuộc xung đột quốc tế mới.


Sự phát triển kinh tế, chính trị, của các nước tư bản thời kì sau chiến tranh diễn ra

châu Âu và thế giới. Phát xít Đức nuôi hi vọng thống trị thế giới, trước hết là ở
châu Âu. Kế hoạch của bọn Hítle là giành giật "không gian sinh tồn" ở phương
Đông, có nghĩa là tấn công quân sự chống Liên Xô, dưới danh nghĩa cứu châu Âu
"khỏi nguy cơ chủ nghĩa Bônsêvích".
Ý đồ của Đức phát xít được giới phản động Anh, Pháp, Mĩ hoan nghênh, cổ vũ.
Họ âm mưu dùng nước Đức phát xít như một lực lượng xung kích của đế quốc
chống lại Liên Xô và phong trào cách mạng châu Âu.
- Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc không còn là nhân tố duy nhất trong quan
hệ quốc tế. Nó phát triển trong sự tác động với mâu thuẫn sâu sắc giữa hai lực
lượng xã hội đối lập. Mâu thuẫn đó đưa đến tình hình là cả hai nhóm đế quốc thù
địch nhau, tuy chống lại nhau nhưng lại tìm cách tiêu diệt Liên Xô và phục hồi hệ
thống tư bản chủ nghĩa duy nhất trên thế giới. Quan hệ quốc tế trong những năm
30 được quyết định bởi hai nhóm đối lập trên. Đó là đặc điểm quan trọng nhất của
tình hình chính trị thế giới trước chiến tranh. Điều đó đưa tới một thực trạng là bên


cạnh những nguyên nhân chia rẽ các nước tư bản, lại có nhân tố làm cho bọn
chúng xích lại gần nhau, đó là sự thù địch với Liên Xô. Hai khuynh hướng này
trong chính sách đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc đã đưa tới cuộc Chiến tranh thế
giới thứ hai.
- Nếu như chính sách đối ngoại của các cường quốc trong thời kì trước Chiến
tranh thế giới thứ nhất được quyết định bằng chính quan hệ giữa các nước đế quốc
thì chính sách đối ngoại trong những năm 30 được quyết định bởi hai đường lối:
một bên là các nước đế quốc và một bên là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa .
- Sự tiến công của Italia ở Êtiôpia, cuộc can thiệp của các nước phát xít vào
Tây Ban Nha, việc quân Nhật xâm lược Trung Quốc, Đức chiếm Áo, Tiệp Khắc là
những mốc lớn trên con đường đi đến chiến tranh thế giới. Giới cầm quyền các
nước đế quốc đã ra sức dung dưỡng những hành động xâm lược đó, theo đuổi
chính sách "không can thiệp","thoả hiệp Minkhen", "sự khoản đãi đối với các hành
động xâm lược của Nhật Bản" ở Trung Quốc là việc thực hiện đường lối chống

nhấn mạnh rằng, để giải thích tính chất của chiến tranh cần đặt nó trong mối liên


hệ với chính sách trước đó của một nhà nước cụ thể, giai cấp cụ thể và cảnh báo
trước về xác định tính chất của chiến tranh: " Chiến tranh là một việc phức tạp,
nhiều vẻ và phong phú. Không thể xem xét một cách rập khuôn được", mà phải
tìm hiểu một cách cụ thể.
Việc phân tích tính chất chiến tranh của Lênin là mẫu mực về việc xem xét một
cách biện chứng các hiện tượng phức tạp của lịch sử và hiện tại. Trong giai đoạn
đầu, chiến tranh mang tính chất đế quốc chủ nghĩa cả về hai bên tham chiến.
Nhóm phát xít, đứng đầu là nước Đức, không chỉ nhằm phân chia thế giới mà còn
nhằm thủ tiêu nền độc lập của các dân tộc, tiêu diệt chủ nghĩa xã hội và nền dân
chủ, đàn áp cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc. Tư tưởng "thống trị thế
giới", lý luận "chủng tộc thù địch" là cơ sở sản sinh ra những kế hoạch tàn sát
hàng loạt nhân dân các nước. Đối với các nước phát xít, chiến tranh mang tính
chất đế quốc chủ nghĩa từ đầu đến cuối.
Đối với Anh và Pháp, trong giai đoạn đầu chiến tranh cũng mang tính đế quốc
chủ nghĩa, bởi vì các nước này theo đuổi những mục đích đế quốc chủ nghĩa.
Trong thời kì "chiến tranh kì quặc", Anh và Pháp bị động trong các hoạt động
quân sự chống lại Đức, nhưng lại tích cực chuẩn bị các hành động quân sự để
chống lại Liên Xô. Tuy nhiên, chính vào thời điểm đó, nguy cơ của chủ nghĩa phát
xít đã đe doạ tự do, độc lập dân tộc của nhiều nước, cho chính sự tồn tại của các
dân tộc. Nó trở thành một thực tế quy định tính chất chính nghĩa cuộc chiến tranh
của các dân tộc chống chủ nghĩa phát xít. Khuynh hướng này được biểu hiện trong
các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc, Êtiôpia, Tây Ban Nha,
Anbani. Quá trình "chuyển hoá" sang Chiến tranh thế giới thứ hai được kết thúc
bằng việc Đức tấn công Ba Lan. Năm 1940, một loạt các dân tộc châu Âu, kể cả
Pháp, đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Năm 1941, đến lượt các nước ở bán đảo
Bancăng tham chiến. Sau khi Pháp thất bại, nước Anh bị uy hiếp, chiến tranh từ
các nước đối lập với Đức, Italia đã chuyển sang chính nghĩa, chống chủ nghĩa phát

các nước bị chiếm đóng mà cả các nước tư bản là Anh và Mĩ. Việc hình thành mặt
trận này không diễn ra nhanh chóng mà là dần dần trong tiến trình chiến tranh.
"Chính sách Munkhen" chống Liên Xô trước đó đã kéo dài việc thành lập Mặt trận
này. Lúc đầu chính phủ các nước phương Tây không chỉ nhằm tiêu diệt Liên Xô
mà cũng không đánh giá đúng lực lượng và khả năng của Liên Xô.
Sự xâm lược phát xít đã đe doạ sự sống còn của Liên Xô, Anh, Mĩ và các dân
tộc khác. Bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền, tự do của các dân tộc là cơ sở
vững chắc cho Mặt trận. Trong những năm chiến tranh, nhân dân lao động Anh,
Mĩ là những người đồng minh kiên quyết nhất của Liên Xô và là cản trở đối với
các thế lực thân phát xít ở Mĩ, Anh.
Sự xâm lược phát xít không chỉ đe doạ nhân dân lao động mà còn đụng chạm
đến quyền lợi của giới càam quyền Anh và Mĩ. Những nhà cầm quyền Anh và Mĩ
hiểu rằng, mỗi thắng lợi của bọn xâm lược sẽ tăng khuynh hướng kinh tế quân sự
của khối phát xít và đe doạ địa vị quốc tế và độc lập dân tộc của Anh và Mĩ. Chính
vì thế họ đã liên minh với Liên Xô và tổ chức đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.
Sự thành lập Mặt trận đồng minh chống phát xít trở thành hiện thực còn do sự
phá sản của các kế hoạch thành lập Mặt trận thống nhất chống Liên Xô của bọn
phản động quốc tế ngay trước khi chiến tranh nổ ra. Kí Hiệp ước không tấn công
với Đức năm 1939, Liên Xô đã làm thất bại các kế hoạch bao vây cô lập Liên Xô
của bọn đế quốc. Lợi dụng mâu thuẫn sâu sắc giữa các đế quốc, Liên Xô đã biết
chia rẽ khối đế quốc và cùng Anh, Mĩ lập mặt trận chống phát xít (trên ba mặt:
hợp tác chính trị - sự thoả thuận giữa ba cường quốc về các vấn đề quốc tế quan
trọng nhất; hợp tác kinh tế ; hợp tác quân sự ) :
- Thời kì 1939-1941: Phe phát xít tạm thời thắng lợi (Đức bất ngờ tiến công Ba
Lan, chiếm được nhiều nước châu Âu, lan sang Bắc Phi và Đông Á)
- Thời kì 1941-1942: Đức tấn công Liên Xô, chiến tranh lan rộng khắp thế giới
(Chiến tranh châu Á - Thái Bình Dương).
- Chiến thắng Xtalingrát và bước ngoặt trong chiến tranh (11.1942 - 12.1943):
Chiến thắng Xtalingrát làm cho Đức từ chủ động rơi vào thế bị động; các nước
Đồng minh từ phòng ngự chuyển sang phản công.

chống phát xít đã đề ra việc mở mặt trận thứ hai, chủ trương này hoàn toàn mang ý
nghĩa tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Nhưng chính phủ Mĩ và Anh
mở mặt trận thứ hai chỉ khi nào Liên Xô đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong tiến
trình chiến tranh. Về thực chất chủ trương này nhằm làm suy yếu Liên Xô, vì Liên
Xô có đủ sức đánh bại khối phát xít Đức ở châu Âu.
Thực tế chứng minh rằng, Liên Xô là lực lượng đi đầu của mặt trận chống phát
xít.
4. Kết cục của Chiến tranh thế giới thứ hai. Ý nghĩa lịch sử và bài học
kinh nghiệm của chiến thắng chống chủ nghĩa phát xít
a. Kết cục
- Chiến tranh thế giới II kết thúc với sự thất bại của phe phát xít, thắng lợi
thuộc về các nước Đồng minh và nhân dân các nước trên thế giới đã kiên cường
chống chủ nghĩa phát xít.
- Chiến tranh thế giới II là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất, tàn phá
nặng nề nhất trong lịch sử nhấn loại. Nó không chỉ diễn ra ở châu Âu như trong
thế chiến lần I mà còn diễn ra ở châu Á, châu Phi, Thái Bình Dương và các vùng
biển khác.
b. Ý nghĩa
- Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử
nhân loại, chủ nghĩa phát xít đã bị thất bại hoàn toàn cả về quân sự, chính trị, tinh
thần.


- Dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, các cuộc cách mạng xã hội đã
diễn ra và đưa đến sự ra đời các nước xã hội chủ nghĩa, sự phát triẻn của phong
trào cách mạng sau chiến tranh. Chủ nghĩa đế quốc càng khủng hoảng sâu sắc.
- Kết quả quan trọng nhất của Chiến tranh thế giới thứ hai là sự biến đổi căn
bản trong tương quan lực lượng trên vũ đài chính trị thế giới có lợi cho hoà bình,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (từ một nước xã hội chủ nghĩa thành một hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới). Chiến tranh đã làm thay đổi tương quan lực

đề cụ thể: Trao đổi tái hiện nhằm gợi lại kiến thức cũ để tiếp thu kiến thức mới;
trao đổi phân tích, khái quát hoá nhằm hướng học sinh tìm ra bản chất của sự kiện
lịch sử; trao đổi tìm tòi phát hiện nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh
khi ôn tập tổng kết…. Việc trao đổi đàm thoại giữa các nhóm học tập cùng một nội
dung lịch sử để đánh giá khả năng tư duy, mức độ sáng tạo của từng học sinh, rèn
luyện tính kiên nhẫn trong học tập, khả năng giao tiếp…từ đó, phân loại và lựa
chọn chính xác những học sinh giỏi nhất tham gia vào đội tuyển.


Thứ ba, sử dụng bài tập lịch sử bồi dưỡng, ôn tập cho học sinh giỏi quốc
gia. Giáo viên sau khi giảng dạy một giai đoạn lịch sử, một vấn đề chuyên sâu cần
biên soạn các câu hỏi ôn tập giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức cơ bản, nâng
cao khả năng độc lập tư duy, rèn luyện kĩ năng làm bài.
Việc xây dựng bài tập, câu hỏi ôn tập trong dạy học lịch sử nói chung không
thể là việc làm tuỳ tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa mà phải xuất phát từ những căn cứ
khoa học và phải tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản như:
+ Nội dung bài tập phải gắn với chương trình, sách giáo khoa.
+ Đảm bảo tính hệ thống trong việc xác định nội dung kiến thức cơ bản.
+ Đảm bảo tính đa dạng, toàn diện trong việc xác định kiến thức lịch sử ở nhiều
mặt khác nhau của đời sống xã hội….
+ Nội dung bài tập lịch sử phải phù hợp với trình độ nhận thức, phát huy trí thông
minh sáng tạo, có tác dụng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức của học sinh.
+ Bài tập lịch sử cần chính xác về nội dung và chuẩn mực về hình thức.
Sau đây là một số câu hỏi và bài tập về nội dung quan hệ quốc tế giai đoạn
1919-1945
1. Trật tự thế giới mới được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ nhất như thế
nào ? Nhận xét về trật tự thế giới mới này.
2. Hệ thống hòa ước Vécxai gồm những nội dung nào ? Hậu quả của hệ thống hòa
ước này.
3. Nhận xét về hai trật tự thế giới trong thế kỉ XX và dự đoán về sự hình thành một

học sinh giỏi môn Lịch sử, cộng tác giảng dạy môn Lịch sử trong giai đoạn hiện
nay đạt được hiệu quả cao.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status