MỤC LỤC
Mở đầu.........................................................................................................................1
Nội dung.......................................................................................................................2
I. Một số tư liệu phục vụ dạy học Địa lí 12..............................................................2
1. “Khoán 100” và “Khoán 10” trong nông nghiệp Việt Nam....................................2
2. Các điểm cực trên đất liền của Việt Nam................................................................3
3. Lịch sử hình thành biên giới trên đất liền giữa Việt Nam
với các nước láng giềng.......................................................................................5
4. Những vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam.......................................................7
5. Khối núi Ngọc Linh - Khối núi cao nhất Nam Trung Bộ........................................7
6. Sóng lừng - những điều chưa biết............................................................................9
7. Thế nào là rét đậm, rét hại? ...................................................................................10
8. Sương muối và tác hại của nó................................................................................10
9. Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng".................................................11
10. Phân loại đô thị ở Việt Nam.................................................................................12
11. Các nhà máy lọc dầu đã và đang xây dựng ở Việt Nam......................................16
12. Nhà máy thủy điện Sơn La - nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam
và Đông Nam Á...................................................................................................17
13. Dự án xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.........................................18
14. Những nhà máy điện gió ở Việt Nam..................................................................20
15. Các sân bay dân dụng ở Việt Nam.......................................................................21
16. Các vệ tinh của Việt Nam đã được phóng thành công lên không gian...............23
17. Các di sản thế giới của Việt Nam.........................................................................24
18. Đất hiếm và công dụng của nó.............................................................................28
19. Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long................................28
II. Một số kinh nghiệm khi sử dụng tư liệu phục vụ dạy học Địa lí 12..............29
Kết luận......................................................................................................................31
Phần đánh giá và xếp loại của Hội đồng xét sáng kiến kinh nghiệm
cấp Trường và Sở GD & ĐT Thừa Thiên Huế...............................................32
4. Bố cục đề tài
Các tư liệu được trình bày trong đề tài này được sắp xếp theo tiến trình các bài học
trong SGK. Tuy nhiên, cũng có một số tư liệu có thể được sử dụng ở nhiều bài học
khác nhau.
2
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ TƯ LIỆU PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12
1. “Khoán 100” và “Khoán 10” trong nông nghiệp Việt Nam
a. “Khoán 100”
Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị 100/CT, cho phép áp dụng chế
độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp Việt Nam. Nội dung cơ bản của Chỉ thị 100/CT là
xóa bỏ chế độ công điểm và ăn chia trong các hợp tác xã, giao ruộng đất cho các đơn vị
hoặc cá nhân người lao động, áp dụng định mức giao nộp sản phẩm cho hợp tác xã rồi hợp
tác xã căn cứ trên các diện tích nhận khoán mà phân bổ nghĩa vụ đó cho từng hộ xã viên.
Định mức này căn cứ trên năng suất thực tế của ruộng đất trong những năm trước đó.
Người nông dân có trách nhiệm nộp thuế nông nghiệp, nộp thóc nghĩa vụ, nộp phần thóc
điều hòa trong nội bộ hợp tác xã (nhằm giúp đỡ những hộ gặp khó khăn và những dịch vụ
cần thiết của công tác quản lí, kĩ thuật, cung ứng vật tư,…). Phần còn lại mình được
hưởng. Như vậy, người nông dân bắt đầu thấy được rằng, bản thân cần tự chịu trách nhiệm
về công việc sản xuất của mình. Tuy phải làm một số nghĩa vụ, nhưng người nông dân có
thể biết trước những nghĩa vụ đó là bao nhiêu, họ sẽ có thu nhập là bao nhiêu sau mỗi mùa
vụ. Đó chính là tác dụng kích thích lớn lao của Chỉ thị 100/CT.
Như đã nói ở trên, Chỉ thị 100/CT năm 1981 (Khoán 100) đã có tác dụng lớn lao
trong việc cởi trói cho sản xuất nông nghiệp. Nhưng Khoán 100 vẫn còn nhiều hạn chế, do
đó nó chỉ phát huy tác dụng trong một số năm đầu. Tuy đã xóa bỏ chế độ công điểm,
nhưng người nông dân vẫn chưa thật sự được làm chủ ruộng đất. Việc giao khoán được
Như vậy là, so với Chỉ thị 100/CT năm 1981, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm
1988 có một bước tiến lớn: Người nông dân được trao quyền sử dụng đất và phương tiện
sản xuất lâu dài, được chủ động trong cả sản xuất lẫn tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm được
bán cho Nhà nước theo cơ chế thỏa thuận, không còn sự áp đặt về giá, về số lượng. Đó là
một sự giải phóng có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp, tạo ra một sự chuyển
biến nhanh chóng của nền nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ngành sản xuất lương thực, từ
chỗ thiếu đói triền miên tới chỗ nhanh chóng đủ ăn, dư thừa để xuất khẩu vào năm sau…
2. Các điểm cực trên đất liền của Việt Nam
a. Điểm cực bắc: Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm ở đỉnh Lũng Cú hay
còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước biển,
thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi điểm cực Bắc của Việt Nam. Từ
trên đỉnh cột cờ nhìn xuống đất có 2 ao nước hai bên núi quanh năm không bao giờ cạn
nước được gọi là mắt rồng, là nguồn nước cho đồng bào dân tộc hai bản sử dụng. Cột cờ
Lũng Cú có lịch sử rất lâu đời, trải qua nhiều lần phục dựng, tôn tạo. Cột cờ mới hình bát
giác có độ cao trên 30m được khánh thành ngày 25 tháng 9 năm 2010.
* Lịch sử dựng cờ
Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh Lũng Cú có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước
biển. Đây là một điểm nhỏ trên đoạn đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nếu mô
phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành một
chóp nón thì hai điểm thấp nhất theo vĩ độ là A pa Chải (Điện Biên) và Sa Vĩ (Móng
Cái), còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này cũng là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam
Cảnh quan dưới chân cột cờ là núi non trùng điệp xen kẽ bởi những khoảnh ruộng
bậc thang tạo nên một vẻ đẹp rất hoang dã, đặc trưng của vùng Tây Bắc địa đầu của Việt
Nam.
Cột cờ Lũng Cú được xây dựng đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu chỉ làm
bằng cây sa mộc. Cột được xây dựng lại từ thời Pháp thuộc, năm 1887. Những năm sau
đó như 1992, 2000 và đặc biệt năm 2002 cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại
nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian, trong đó năm 2002 cột cờ được
dựng với độ cao khoảng 20m, chân và bệ cột có hình lục lăng và dưới chân cột là 6 phù
điêu họa tiết bề mặt trống đồng Đông Sơn. Trên đỉnh cột là cán cờ cao 9m cắm quốc kỳ
Bắc, hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn và cứ mỗi canh giờ
trống lại được gióng lên ba hồi vang xa như để khẳng định chủ quyền đất nước. Chính vì
thế, Lũng Cú khi đọc chệch âm sang âm tiếng H'Mông của từ Long Cổ, tức trống của vua,
và người H'Mông tại nơi đây hầu như đều biết đánh trống đồng. Rất có thể cũng vì một
trong những lý do nói trên mà nhà nước Việt Nam khi xây dựng cột cờ đã đặt phù điêu
trống đồng Đông Sơn dưới chân cột.
Hiện nay tại đồn biên phòng Lũng Cú có một trạm chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ lá cờ
trên Cột cờ Lũng Cú và hầu như cứ khoảng 1 tuần hoặc lâu nhất là 10 ngày cờ lại phải
được thay mới, do sức gió trên đỉnh Lũng Cú rất mạnh khiến cờ dễ hư hỏng. Theo cán bộ
của trạm, lúc nào trong trạm cũng có hàng chục lá cờ lớn cỡ 54m2 để dự phòng.
b. Điểm cực Nam: Mũi Cà Mau thường được coi là điểm cực Nam trên đất liền
của Việt Nam. Mũi đất này còn có tên là Mũi Bãi Bùng.
Mũi Cà Mau hướng về phía tây, thuộc địa phận xóm Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc
Hiển, tỉnh Cà Mau, cách thành phố Cà Mau hơn 100 km. Bên trái mũi là biển Đông, bên
phải là biển Tây, tức Vịnh Thái Lan.
Hiện nay nếu xét về mặt địa lý thì mũi Cà Mau không phải là điểm cực Nam trên đất
liền của Việt Nam, mà chỉ nằm ở vùng cực Nam của Việt Nam. Điểm cực Nam trên đất
liền của tỉnh Cà Mau nằm ở xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, có độ vĩ 8°30' Bắc. Mũi Cà
Mau là điểm cực Tây của tỉnh Cà Mau.
Trước đây một số tài liệu nói rằng điểm cực Nam trên đất liền của Việt Nam là xóm
Rạch Tàu, cũng thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, ở tọa độ 8°34' (hoặc 8°30') độ vĩ
Bắc, 104°40' (hoặc 104°50') độ kinh Đông.
Người Việt khi nói về đất nước của mình thường dùng câu "Nước Việt Nam trải dài
từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau". Vì vậy, trong tâm thức người Việt, cùng với Ải Nam
Quan (Lạng Sơn), Mũi Cà Mau là một địa điểm thiêng liêng, xa xôi nhưng rất đỗi gần gũi.
c. Điểm Cực Tây ApaChải, cách TP.Điện Biên Phủ khoảng 250 km. Là điểm cực
Tây của Việt Nam, vùng giáp biên 2 nước Trung Quốc và Lào. ApaChải thuộc xã Sín
Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Cột mốc ở độ cao 1.864m là điểm cực tại kinh
độ:102 độ 09’00”Đ - vĩ độ: 22 độ 23’53”B, nằm trên đỉnh núi Khoan La San - xã Sín Thầu
- huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên là nơi xác định ranh giới ba nước là Việt Nam - Lào Trung Quốc, được các bên thống nhất cắm mốc vào ngày 27/6/2005. Cột mốc đẹp nhất
Quốc - Lào. Đến trước khi Việt Nam giành được độc lập năm 1945, hai bên Pháp - Thanh
thực hiện quản lý theo đường biên giới và hệ thống mốc giới theo Công ước 1887; 1895 và
có tiến hành một số hoạt động kiểm tra, sửa chữa mốc giới hoặc bổ sung một số mốc giới.
Trong những năm 1950 - 1960, hai bên chủ yếu quản lý đường biên giới theo tập
quán và theo các bản đồ của Pháp hoặc Trung Quốc xuất bản. Trong những năm 70 của thế
kỷ 20, với mục tiêu giải quyết các tranh chấp về quản lý biên giới lãnh thổ giữa hai nước,
ta và Trung Quốc đã tiến hành 3 lần đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền, sau
đó đàm phán bị gián đoạn do những biến cố của lịch sử. Sau khi Việt Nam và Trung Quốc
bình thường hoá quan hệ năm 1991, từ năm 1994 - 1999, hai bên thống nhất tiến hành đàm
phán giải quyết các vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Ngày
30/12/1999, hai nước đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền. Sau khi Hiệp ước biên giới
được Quốc hội hai nước phê chuẩn và có hiệu lực tháng 7/2000, hai bên thống nhất triển
khai phân giới cắm mốc trên thực địa.
Công tác phân giới cắm mốc trên thực địa được bắt đầu triển khai từ tháng 12/2001
bằng việc cắm mốc 1369 tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) - Đông Hưng
(Quảng Tây). Sau 8 năm phấn đấu không biết mệt mỏi, ngày 31/12/2008 hai bên chính
thức ra Tuyên bố kết thúc toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Trong năm
2008 - 2009, hai bên tập trung vào soạn thảo 3 văn kiện pháp lý về biên giới lãnh thổ gồm
Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về
cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.
Ngày 18/11/2009, hai bên chính thức ký 3 văn kiện này. Ngày 14/7/2010, tại cửa khẩu
Thanh Thủy (Hà Giang), hai bên chính thức tuyên bố 3 văn kiện biên giới có hiệu lực và
6
chính thức quản lý biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc theo 3 văn kiện biên
giới và hệ thống mốc quốc giới mới.
Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đã được cụ thể hóa trên thực
địa một cách khoa học, chi tiết, phù hợp với thực tế bằng một hệ thống mốc giới hiện đại
gồm 1.971 cột mốc (trong đó có 1 mốc ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc,
phần cao nguyên phía Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, tại địa phận các tỉnh Kon Tum, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai. Dãy Ngọc Linh có độ cao khoảng 800 - 2.600 m.
Dãy Ngọc Linh, chạy viền theo ranh giới phía Đông của huyện Đăk Glêi, Tu Mơ
Rông của tỉnh Kon Tum với các huyện Phước Sơn và Bắc Trà My, Nam Trà My của
tỉnh Quảng Nam, tiếp đến là trên ranh giới giữa huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum với các
huyện Sơn Tây, Sơn Hà, Ba Tơ của tỉnh Quảng Ngãi, các huyện KBang, Đắk Đoa của
tỉnh Gia Lai. Dãy núi này chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam bắt đầu với ngọn núi
Ngọk Lum Heo, núi Mường Hoong, Ngọc Linh, Ngọc Krinh, Ngọk Tem, Ngọk Roo. Dãy
Ngọc Linh là đường phân thủy của hai hệ thống sông: một chảy sang phía Tây có sông Sê
San, góp nước cho sông Mê Kông; một hệ thống chảy sang phía Đông, đổ trực tiếp ra biển
Đông là các con sông Cái (đầu nguồn sông Vu Gia), sông Thu Bồn ở Quảng Nam,
sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, sông Ba chảy qua tỉnh Phú Yên.
5.2. Các đỉnh núi cao
- Ngok Lum Heo, cao: 2116 m;
- Mường Hoong, cao: 2400 m;
- Ngok Linh (núi Ngọc Linh), được xem là cao nhất Nam Trường Sơn (từ dãy Bạch
Mã đến hết cao nguyên Nam Trung Bộ) và nửa phía Nam Việt Nam (tức Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên và Nam Bộ, các vùng phía Nam đèo Hải Vân) với độ cao tuyệt đối là 2.598m.
- Ngọc Phan, cao: 2.251 m;
- Ngọc Krinh nằm ở trên ranh giới hai huyện Đắk Hà và Kon Plông, cao: 2.066 m;
- Ngọk Tem, thuộc xã Ngọk Tem huyện Kon Plông, cao: 1362 m;
- Ngọc Bôn Sơn, cao: 1.939 m;
- Kon Bo Ria, cao: 1.500 m;
- Ngọk Roo, nằm trên ranh giới hai huyện Kon Plông và Kbang, đầu nguồn sông Ba,
cao: 1509 m;
- Kon Krông, cao: 1.330 m.
5.3. Đặc sản
Trong dãy Ngọc Linh có loài nhân sâm nổi tiếng Việt Nam mang tên sâm Ngọc Linh,
hay sâm Việt Nam, sâm trúc, sâm Khu Năm (Panax vietnamensis thuộc họ Cam
Vậy từ đâu sinh ra những con sóng lừng cao hơn 25 mét? Lại càng khó hiểu khi sóng
lừng cao trên 30 m thường xuất hiện vào những lúc biển tốt, hoàn toàn không có gió lớn.
Ngày 27/2/2003, tàu Perm của hải quân Nga đo được chiều cao của một con sóng lừng
thuộc vào hàng kỷ lục: 34 mét - bằng chiều cao của tòa nhà 12 tầng! Các nhà khoa học còn
cho rằng có thể có những con sóng lừng cao trên 50 mét dù cho đến nay chưa ai bắt gặp.
Về lý thuyết, sóng lừng có thể xuất hiện trong lúc biển động và nếu một con sóng lừng trên
30 mét "đội" trên đầu mình một con sóng 20 mét do gió tạo ra thì chiều cao tổng cộng rõ
ràng trên 50 mét.
Xác suất xảy ra điều này là rất thấp, song không phải là bằng không. Năm 1995, trên
vùng biển Bắc của Nga, trong một cơn biển động, sóng đã quét sạch mọi thứ trên một giàn
khoan dầu của hãng Statoil mà lúc bình thường là cao 41 mét so với mặt biển. Người ta
nghi đây là loại sóng mẹ - con như đã nói ở trên.
Trong khuôn khổ chương trình lớn MaxWave của Cơ quan vũ trụ châu Âu có một dự
án mang tên WaveAtlas (Bản đồ sóng) với nhiệm vụ phát hiện hoặc dự báo về sóng lừng
nhằm cảnh báo cho tàu thuyền trên các hải trình quan trọng. Các nhà khoa học thực hiện
dự án này không thể nào lý giải nổi hiện tượng sóng lừng xuất hiện đơn lẻ nhưng cũng có
thể xuất hiện thành cặp, thậm chí thành bộ ba, bộ bốn, bộ năm song song nhau. Lại nữa,
sóng lừng có thể bất ngờ nhô lên, đứng nghễu nghện vài phút rồi đổ sụp xuống, tan biến
không để lại dấu vết, nhưng cũng có thể lừng lững tiến bước vượt hàng nghìn kilomét như
bức tường nước di động, thậm chí cả trong trường hợp xuất hiện thành bộ ba, bộ bốn. Tất
nhiên cần có một lực tác động tức thời dâng nước lên cao thành sóng lừng, nhưng lực nào
giữ cho sóng chắc chân trên đường "hành quân" nghìn dặm?
Sóng lừng quả là một thứ "hạt dẻ" khó nhằn đối với các nhà nghiên cứu vì chúng
không phụ thuộc bất cứ quy luật tự nhiên hay nguyên tắc vật lý nào cả. Trên quan điểm
toán học, một số người cho rằng sóng lừng là tích hợp của nhiều con sóng nhỏ, song xem
ra thuyết này không vững, vì khi có sóng lừng xuất hiện ngay trong điều kiện trời yên biển
lặng. Trên quan điểm hải dương học, số khác lại cho rằng ở những nơi mà gió đang thổi
ngược chiều cản trở dòng hải lưu bỗng yếu đi, dòng chảy đột ngột tăng tốc, phần nước
chảy nhanh ở đằng sau va chạm với khối nước chảy chậm ở phía trước gây ra hiện tượng
sóng lừng. Thuyết này tuy có vẻ có lý, song lại không thể áp dụng để lý giải sóng lừng
phát triển bình thường. Nếu kéo dài từ 2 ngày trở lên thì cây lúa sẽ không còn khả năng
quang hợp và tự bảo vệ mình dẫn đến không còn khả năng đề kháng và bị chết.
Một điều chú ý là nhiệt độ trung bình ngày dưới 15 độ C và 13 độ C phải gắn với
hiện trạng thời tiết nhiều mây, đầy mây và có thể có mưa nhỏ, khi đó mới được coi là rét
đậm, rét hại. Trong thực tế, vào những ngày trời quang mây về đêm, nhiệt độ xuống rất
thấp, nhưng ban ngày trời nắng nhiệt độ lên rất cao, nhiệt độ trung bình ngày vẫn có thể
dưới 15 độ C nhưng không được coi là rét đậm.
8. Sương muối và tác hại của nó
Sương muối là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối
ngay trên mặt đất hay bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và
lạnh. Nó thường hình thành vào những đêm đông, trời lặng gió, quang mây, khi mà bức xạ
là nguyên nhân chủ yếu của quá trình lạnh đi của không khí và các vật thể.
Nên nhớ rằng nó không mặn mà chỉ trắng như muối, gần giống với lớp tuyết ở trong
khoang lạnh của tủ lạnh.
Xem ra “màu trắng” của nó đã được thể hiện trong tên gọi sương muối ở nhiều thứ
tiếng trên thế giới, như tiếng Anh “hoar frost”, trong đó “hoar” là “trắng như tóc hoa râm”;
tiếng Trung là “bạch sương”, bạch là trắng, tiếng Pháp là “gelée blanche”, “blanche” là
trắng. Có nơi cho rằng có 2 loại sương muối: “hoar frost” và “rime”, nhưng với “rime”,
không khí ẩm ban đầu ngưng kết thành các hạt nước, sau đó mới bị lạnh đi để trở thành các
hạt băng. Sương muối là hiện tượng nguy hiểm đối với nhiều loại cây trồng và vật nuôi.
Ở nước ta sau khi không khí lạnh về, vùng núi Bắc bộ nằm sâu trong không khí lạnh,
đêm trời quang mây, lặng gió, không khí ẩm đã lạnh lại bị bức xạ mất nhiệt nên tiếp tục
11
lạnh, nhiệt độ không khí giảm nhanh dẫn đến hình thành sương muối. Sương muối thường
hình thành khi nhiệt độ không khí ≤ 40C (trong lều khí tượng ở độ cao 2m), khi ấy nhiệt độ
bề mặt các vật thể hay cây cỏ ở mặt đất đã có thể xấp xỉ 00C, nhưng phải đủ ẩm mới hình
thành được sương muối. Các vùng đồng bằng nước ta chỉ có sương giá (không phải sương
muối), song nó cũng nguy hiểm đối với một số cây trồng nếu thời gian sương giá kéo dài.
trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao thu nhập
bình quân đầu người và tạo đà cho kinh tế xã hội phát triển.
Khi phụ nữ sinh ít con, làm giảm các nguy cơ ốm đau, bệnh tật, tử vong do mang thai
và sinh nở; đồng thời nâng cao cơ hội về giáo dục đào tạo, lao động việc làm, thu nhập,
góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao vị thế người phụ nữ trong gia đình và xã hội, thực
hiện bình đẳng giới. Thành công của chương trình dân số không chỉ mang đến các cơ hội
cho phụ nữ mà còn cho nam giới, cho người già và trẻ em trong việc tiếp cận và thụ hưởng
các chính sách của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1
tuổi đã giảm từ 42,3 phần nghìn (năm 1989) còn 15,4 phần nghìn (năm 2012). Tuổi thọ
người Việt Nam tăng lên, đạt 73 tuổi năm 2012, đặc biệt là kỳ vọng sống của nhóm dân số
60 tuổi tương đương với các nước phát triển (21,5 năm). Thành công trong chương trình
12
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình sẽ tạo đà cho Việt Nam thực hiện thành công các Mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc vào năm 2015.
Nhờ mức sinh giảm trong hàng thập kỷ trước đó, từ năm 2007, Việt Nam chính thức
bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tức cứ 2 người trong độ tuổi lao động (15 - 64 tuổi)
mới có 1 hoặc ít hơn 1 người trong độ tuổi phụ thuộc (<15 tuổi và > 65 tuổi); đây là cơ hội
có một không hai trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của bất cứ quốc gia nào trên thế
giới. Lịch sử cho thấy, một số nước ở Đông Nam Á trở thành “con hổ, con rồng” kinh tế
cũng nhờ thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”. Các nhà khoa học dự báo, thời kỳ cơ cấu “dân số
vàng” của Việt Nam sẽ kéo dài khoảng 30 - 35 năm. Đây là cơ hội hiếm có, duy nhất để
Việt Nam có thể đi tắt, đón đầu và cất cánh bay lên. Việt Nam hiện có hơn 62 triệu người
(69% dân số) trong độ tuổi lao động, là nguồn nhân lực khổng lồ cho công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho sự chấn hưng và phát triển của dân tộc Việt Nam.
9.2. Tận dụng cơ cấu “dân số vàng”
Việt Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về quy
mô dân số. Với 90 triệu người, chúng ta có 90 triệu người tiêu dùng. Điều đó cho thấy,
Việt Nam là thị trường lớn, tiềm năng và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều
tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.
Một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản
như sau:
1. Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc
gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có
vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất
định.
2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và
được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu
phố xây dựng tập trung.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị,
khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
5. Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và
hạ tầng kỹ thuật).
6. Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí
đánh giá được nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu
chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định
so với các loại đô thị tương đương. Đối với một số đô thị có tính chất đặc thù, tiêu chuẩn
về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu
chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với
tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
10.2.1. Đô thị loại đặc biệt
Đô thị loại đặc biệt là các đô thị:
1. Giữ vai trò "trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du
lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự
giai đoạn 2011-2020 được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng, có 2 đô thị sẽ được nâng lên loại
I là: Biên Hòa (Đồng Nai), Thanh Hóa (Thanh Hóa) đưa tổng đô thị loại I cả nước lên 16
đô thị.
Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại I và loại II thuộc về thủ tướng
chính phủ Việt Nam.
15
10.2.4. Đô thị loại III
Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật,
dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 75% trở lên;
5. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Tại thời điểm
7/8/2010, Việt Nam có 32 đô thị loại III. Đến 1/10/2010, Việt Nam có 35 đô thị loại III.
Đến 9/2011 có 36 đô thị loại III. Đến tháng 12/2013 có 42 đô thị loại 3.
Trong số 42 Đô thị loại III trên, Theo dự thảo chương trình phát triển đô thị quốc gia
giai đoạn 2011-2020 được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng, có 13 đô thị loại III sẽ được nâng
lên thành đô thị loại II, gồm Lào Cai, Điện Biên Phủ (Điện Biên), Lạng Sơn, Vĩnh Yên
(Vĩnh Phúc), Móng Cái, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Ninh Bình, Đồng Hới (Quảng
Bình), Quảng Ngãi, Rạch Giá (Kiên Giang), Sóc Trăng, Bà Rịa (Bà Rịa-Vũng Tàu), Sa
Đéc (Đồng Tháp); đưa tổng đô thị loại II của Việt Nam lên 24 đô thị.
10.2.5. Đô thị loại IV
Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
1. Chức năng đô thị: là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học - kỹ thuật,
giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh
11. Các nhà máy lọc dầu đã và đang xây dựng ở Việt Nam
11.1. Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thuộc Khu kinh tế Dung Quất, là nhà máy lọc
dầu đầu tiên của Việt Nam xây dựng thuộc địa phận xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện
Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một trong những dự án kinh tế lớn, trọng điểm quốc gia
của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21.
Nhà máy chiếm diện tích khoảng 810 ha, trong đó 345 ha mặt đất và 471 ha mặt biển.
Công suất tối đa của nhà máy là 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương 148.000
thùng/ngày, dự kiến đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam.
Nhà máy sản xuất khí hóa lỏng LPG, propylene, polypropylene, xăng A92 và A95,
dầu hỏa, nhiên liệu phản lực, diesel và dầu nhiên liệu. Nhà máy gồm 14 phân xưởng chế
biến công nghệ, 10 phân xưởng năng lượng phụ trợ và 8 hạng mục ngoại vi. Các hạng mục
chính của nhà máy bao gồm:
- Cảng nhập dầu thô
- Khu bể chứa dầu thô
- Các phân xưởng phụ trợ
- Các phân xưởng công nghệ
- Khu bể chứa trung gian
- Đường ống dẫn và khu bể chứa sản phẩm
- Cảng xuất sản phẩm bằng đường biển và trạm xuất bằng đường bộ
- Đê chắn sóng
- Khu nhà hành chính
- Nhà máy sản xuất polypropylene
Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất được chính thức khởi công ngày 28 tháng 11 năm
2005. Chạy thử 2009.
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được xây dựng với tổng mức đầu tư là hơn 3 tỉ đô la
Mỹ (khoảng 40.000 tỉ đồng) với tên dự án là Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất của chủ đầu
tư là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PetroVietnam.
Hợp đồng chính xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam ký với Tổ hợp nhà thầu Technip gồm các Nhà thầu: Technip (Pháp), Technip
(Malaysia), JGC (Nhật Bản) và Tecnicas Reunidas (Tây Ban Nha).
tháng 12 năm 2005,. Sau 7 năm xây dựng, Thủy điện Sơn La được khánh thành vào ngày
23 tháng 12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất
Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á.
12.1. Quá trình xây dựng
Nhà máy được khởi công vào năm 2005 nhưng trước đó 30 năm những chuyến khảo
sát đầu tiên đã được thực hiện bởi các chuyên gia viện Thủy điện và công nghiệp Moscow,
Cty Electricity and Power Distribution của Nhật Bản, Cty Designing Research and
Production Shareholding của Nga và SWECO của Thụy Điển.
Năm 2001, dự án Thủy điện Sơn La được đưa ra Quốc hội khóa X thảo luận, gây ra
nhiều tranh cãi về tính an toàn do mực nước thiết kế cao lại nằm trong khu vực có thể có
động đất, lo ngại các tác động về môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng... Do đó ngày
29/6/2001, dự án Thủy điện Sơn La được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, nhưng
chưa quyết phương án xây dựng. Tháng 12/2002, Báo cáo nghiên cứu khả thi được thông
qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI. Phương án xây dựng công trình cũng được Quốc
hội thông qua với mục tiêu phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012 và hoàn thành toàn bộ
công trình vào năm 2015.
Năm 2003, EVN đã hoàn chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện phương án Sơn
La. Công tác tái định cư cũng được bắt đầu triển khai thực hiện. Tháng 12/2003, những
người thợ đầu tiên thuộc Tổng công ty Sông Đà có mặt tại công trường để triển khai xây
dựng mặt bằng công trường và đồng thời tận dụng thời gian chuẩn bị công trường trong 2
năm (2004 - 2005) để thi công các công trình dẫn dòng. Ngày 15/1/2004, Thủ tướng đã ra
quyết định số 09/QĐ-TTg phê duyệt dự án Thủy điện Sơn La.
Ngày 2/12/2005, công trình Thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng. Trong quá
trình thiết kế, thi công dự án đã được thay đổi nhiều so với phương án ban đầu như cao
trình được hạ xuống từ khoảng 295 xuống còn 215-230, thay biện pháp đổ bê tông đập
dâng bằng công nghệ dầm lăn với phụ gia khoáng là tro bay của Nhiệt điện Phả Lại, thay
phương án từ nhà máy 8 tổ máy (8 x 300 MW) sang phương án nhà máy 6 tổ máy (6 x 400
18
Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là tên gọi chung của chuỗi hai nhà máy điện hạt
nhân I và II đang trong dự án xây dựng tại tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam với tổng công suất
trên 4.000 MW. Theo quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia, nhà máy điện hạt nhân I và
II sẽ được khởi công vào tháng 12 năm 2014 và hoàn thành vào năm 2022, phát điện vào
cuối năm 2020. Dự án được tiến hành theo kiến nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dựa
trên ước tính thiếu thốn điện năng đến 2020, được Quốc hội Việt Nam thông qua chủ
trương đầu tư xây dựng. Về nguồn kinh phí, Nga đồng ý cho Việt Nam vay 10,5
tỷ USD, Nhật cũng đồng ý cho vay nguồn vốn ODA làm điện hạt nhân. Tổng mức đầu tư
dự toán khoảng 200.000 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2008.
13.1. Vị trí
Theo Nghị quyết của Quốc hội cuối năm 2009:
- Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam,
tỉnh Ninh Thuận.
- Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh
Ninh Thuận.
19
Theo thông tư bổ sung của Bộ Khoa học và Công nghệ, nếu trong vòng bán kính
8 km có đứt gãy hoạt động mà không có giải pháp khắc phục thì phải chuyển địa điểm xây
dựng.
Trung tâm Ninh Thuận cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 350 km.
13.2. Đối tác và công nghệ
- Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I
Tháng 5 năm 2010, Nga được lựa chọn làm đối tác cung cấp công nghệ cho nhà máy
điện hạt nhân I, với cam kết lâu dài sẽ hỗ trợ Việt Nam trong công tác quản lý và xử lý chất
thải hạt nhân, đồng thời xây dựng một chương trình quốc gia về vấn đề này. Nga đưa ra
mức giá ở nhà máy mức công suất 2.000 MWh là gần 8 tỷ USD và đồng ý cho Việt Nam
vay tín dụng xuất khẩu để triển khai dự án. Nhà máy được dự tính xây dựng với hệ số an
toàn cao trên cơ sở các lò phản ứng nước nhẹ hiện đại; sử dụng công nghệ nước áp
Cho đến thời điểm hiện nay, mỗi năm dự án sản xuất ra 85 triệu kWh điện và được hòa vào
lưới điện quốc gia.
14.2. Dự án điện gió Bạc Liêu (xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc
Liêu) là một dự án xây dựng nhà máy sản xuất được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 khởi
công ngày 09 tháng 9 năm 2010. Dự kiến, sau khi hoàn thành cả 2 giai đoạn, sẽ có
62 turbin điện gió với tổng công suất là 99MW và điện năng sản xuất mỗi năm khoảng 320
triệu kWh. Cả 62 cột tháp và turbin điện gió đều được đặt trên biển. Mỗi turbin có công
suất xấp xỉ 1,6MW do hãng General Electrics GE)cung cấp, cấu tạo thép đặc biệt không gỉ,
cao 80m, đường kính 4 m, nặng trên 200 tấn, cánh quạt được làm bằng nhựa đặc biệt, dài
42 m, có hệ thống điều khiển tự gập lại để tránh hư hỏng khi bão lớn. Loại turbine này có
chất lượng công nghệ cao, đã được GE nghiên cứu nhiệt đới hóa. Toàn bộ hệ thống được
xây dựng trên biển, vùng có điều kiện địa chất công trình phức tạp với chiều dày lớp đất
yếu lớn. Công ty nghiên cứu thiết kế móng trụ turbine là Công ty CP tư vấn thiết kế XD
Giao thông thủy (TEDI WECCO) thuộc TCT Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI),
một trong số các tư vấn giàu kinh nghiệm trong thiết kế công trình biển.
Chủ đầu tư dự án là Công ty trách nhiệm hữu hạn Xây dựng - Thương mại và Du lịch
Công Lý. Quy mô vốn đầu tư ước khoảng 5000tỷ đồng.
Tính đến tháng 10/2012, đã có 10 trụ và turbin gió được lắp đặt xong. Đây là một
trong những dự án điện gió đầu tiên tại Việt Nam.
15. Các sân bay dân dụng ở Việt Nam
Tên
STT
bay
sânMã
Tỉnh
ICAO/IATA
Số
Loại
Sân bay
VVPC/UIH
Phù Cát
Bình
Định
bê tông
3051m
1966 Không
3
Sân bay
VVCM/CAH Cà Mau 1
Cà Mau
nhựa
đường
1500m
1962 Không
4
Sân bay
quốc
Sân bayVVDN/DAD Đà Nẵng2
quốc
tế
22
Đà Nẵng
7
Sân bay
Điện BiênVVDB/DIN
Phủ
Điện
Biên
8
Sân bay
VVPK/PXU
Pleiku
9
Sân bay
quốc
tếVVCI/HPH
Cát Bi
12
Sân bay
quốc
tế
Khánh
VVCR/CXR
1
Cam
Hòa
Ranh
bê tông
3048m
13
Sân bay
Kiên
VVRG/VKG
Rạch Giá
Giang
1
nhựa
đường
Đồng
1
nhựa
đường
3250m
1961 Có
16
Sân bay
VVVH/VII
Vinh
Nghệ
An
1
nhựa
đường
2400m
Có
17
20
Sân bay
Thanh
VVTX/TXD
Thọ Xuân
Hóa
1
bê tông
1830m
Không
Gia Lai 1
nhựa
đường
1817m
Có
Hải
Phòng
bê
quốc
tếVVPB/HUI
Phú Bài
Thừa
Thiên -1
Huế
bê tông
2675m
Có
16. Các vệ tinh của Việt Nam đã được phóng thành công lên không gian
16.1. Vệ tinh Vinasat-1
a. Quá trình phóng vệ tinh
Vinasat-1 là vệ tinh viễn thông địa tĩnh đầu tiên của Việt Nam được phóng vào vũ
trụ lúc 22 giờ 16 phút ngày 18 tháng 4 năm 2008 (giờ UTC). Dự án vệ tinh Vinasat-1 đã
khởi động từ năm 1998 với tổng mức đầu tư là khoảng hơn 300 triệu USD. Việt Nam đã
tiến hành đàm phán với 27 quốc gia và vùng lãnh thổ để có được vị trí 132 độ Đông trên
quỹ đạo địa tĩnh.
Vinasat được phóng lên quỹ đạo bằng tên lửa đẩy Ariane 5 ECA tại điểm bãi
phóng Kourou, Guyane, một tỉnh hải ngoại của Pháp tại bờ bắc của Nam Mỹ. Vệ tinh
Vinasat-1 của Việt Nam cùng phóng với vệ tinh Star one C2 của Brasil trên cùng một tên
lửa. Việc lựa chọn phương án phóng kép như vậy có thể làm giảm chi phí cho các bên.
Theo kế hoạch ban đầu, việc phóng vệ tinh Vinasat-1 sẽ được tiến hành ngày
29/3/2008. Tuy nhiên sau đó nhà thầu đã 2 lần hoãn thời gian phóng (lần đầu là 12/4 và sau
đó là 19/4 theo giờ Việt Nam) do các lý do kỹ thuật để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Cuối
cùng vệ tinh đã được phóng hồi 22 giờ 16 phút ngày 18 tháng 4 năm 2008 (giờ UTC) (tức
mừng việc phóng thành công hai vệ tinh Vinasat-2 của Việt Nam và JCSAT-13 của Nhật
Bản lên quỹ đạo.
16.3. VNREDSat-1
VNREDSat-1 hay VNREDSat-1A(tênđầyđủVietnam Natural Resources Environment
and Disaster-monitoring Satellite-1A) là vệ tinh quang học quan sát Trái Đất, nặng
120kg, ở cao độ 680km, có khả năng chụp ảnh toàn bộ các khu vực trên bề mặt Trái Đất.
Hệ thống vệ tinh VNREDSat-1 là hệ thống vệ tinh quan sát Trái Đất đầu tiên của Việt
Nam. Vệ tinh VNREDSat-1 do Công ty EADS Astrium (Pháp) thiết kế, chế tạo và được
chứng nhận đủ điều kiện để đưa lên quỹ đạo. Ngày 8/3/2013, vệ tinh VNREDSat-1 đã
được vận chuyển an toàn trong một công-ten-nơ đặc biệt đến bãi phóng
ở Kourou, Guyana thuộc Pháp (ở Nam Mỹ). Đây là bãi phóng nằm trong Trung tâm
Không gian Guyana, bãi phóng vệ tinh của Châu Âu. Trung tâm Không gian này nằm
trong sự quản lý chung của Cơ quan Vũ trụ Pháp (CNES) và Cơ quan Vũ trụ Châu Âu
(ESA). Nhà thầu duy nhất được phép vận hành các đợt phóng ở đây là Công ty
ArianeSpace (Pháp).
Vệ tinh viễn thám đầu tiên của Việt nam (VNREDSat-1) dự kiến được phóng vào
lúc 09 giờ 06 phút ngày 3/5/2013 (theo giờ Hà Nội) từ bãi phóng Kourou, Guyana thuộc
Pháp. Tuy nhiên, việc phóng bị hoãn do thời tiết xấu. Vệ tinh VNREDSat-1 phóng thành
công lên quỹ đạo ngày 7/5/2013.
17. Các di sản thế giới của Việt Nam
17.1. Khái niệm di sản thế giới
17.1.1. Di sản văn hóa
Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay
các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết
hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng,
do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan
điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa
thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật