TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 – 2014
ĐỀ TÀI
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT
CỬA” TẠI UBND XÃ HIỆP HƯNG, HUYỆN PHỤNG HIỆP,
TỈNH HẬU GIANG
Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Võ Duy Nam
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thi Hồng Đan
MSSV: B110107
Lớp: Hành chính 2-k37 ban đêm
Cần Thơ, tháng 5 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………………...2
3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………….................3
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………….....3
5. Cấu trúc luận văn.........................................................................................................3
CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CƠ
CHẾ “MỘT CỬA”
1.1 . Cải cách hành chính……………………………………………………………...4
1.2 . Cải cách thủ tục hành chính……………………………………………………..6
1.2.1 . Thủ tục hành chính………………………………………………………………………6
1.2.2 . Vai trò của thủ tục hành chính…………………………………………………………7
1.2.3 . Cải cách thủ tục hành chính……………………………………………………………7
1.2.4 . Mục tiêu của việc cải cách hành chính….……………………………………………8
1.3. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính......................................9
1.3.1. Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính …………………………………………..10
1.3.2. Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính............................................................10
1.4. Cơ chế “một cửa”……………………………………………………………….11
1.4.1. Sự ra đời của cơ chế “một cửa”……………………………………………….11
1.4.2. Khái niệm cơ chế “một cửa” và cơ chế “một cửa liên thông”.........................12
1.4.2.1. Cơ chế “một cửa”............................................................................................12
1.4.2.2. Cơ chế “một cửa liên thông”...........................................................................13
1.4.3. Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”...........................................................14
1.4.4. Phạm vi và quy trình thực hiện cơ chế “một cửa”...........................................15
1.4.4.1. Phạm vi thực hiện cơ chế “một cửa”...............................................................15
1.4.4.2. Quy trình thực hiện cơ chế “một cửa”.............................................................15
1.4.5. Ưu điểm của cơ chế “một cửa”..........................................................................16
CHƢƠNG 2
Hƣng………………………………………………………………………....……….40
2.4.1.Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp Ủy Đảng và lãnh đạo địa
phương...........................................................................................................................40
2.4.2. Hoàn thiện thể chế pháp lý gắn liền với đơn giản hóa các thủ tục hành chính,
xóa bỏ những thủ tục rườm rà……………………………………….........…..............41
2.4.3. Đầu tư cơ sở vật chất gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin……………....42
2.4.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát…………………………………………….43
2.4.5. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức…………………………………………….44
2.4.6. Xây dựng văn hóa công sở…………………………………………………………….46
2.4.7. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về cải cách hành chính cho cán bộ,
công chức và tổ chức, công dân……………………………………………………………..47
KẾT LUẬN .................................................................................................................48
DANH MỤC THAM KHẢO
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Văn bản quy phạm pháp luật:
1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
2. Luật Đất đai năm 2003.
3. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.
4. Luật Xây dựng năm 2003 và sửa đổi, bổ sung năm 2009.
4. Luật cư trú năm 2006.
5. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng11 năm 2011 của Chính phủ về ban hành
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011- 2020.
6. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của
Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 20112020.
7. Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ
tịch.
8. Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm
hai_niem_cai_cach_hanh_chinh [truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2014]
2. http://sxd.hagiang.gov.vn/Thu-tuc-hanh-chinh-1.html [truy cập ngày 18 tháng 4 năm
2014]
3. http://thutuchanhchinh.haugiang.gov.vn.[truy cập ngày 30/3/2014]
4. Theo Th.s Thái Xuân Sang – Gv khoa Quản lý nhà nước, Cải cách thủ tục hành
chính trong tiến trình phát triển và hội nhập, được đăng trên trang:
http://truongchinhtrina.gov.vn/AritcleDetail.aspx?_Aricle_ID=47 [truy cập ngày 17
tháng 4 năm 2014]
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Bộ máy Nhà nước nói chung và cơ quan công quyền nói riêng hoạt động chủ
yếu để phục vụ nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân, thay nhân dân
quản lý đất nước. Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào muốn hoạt động tốt đều cần có
những trình tự, thủ tục để làm những nguyên tắc cốt yếu nhằm tạo sự kỷ cương, nề
nếp, có trên có dưới. Nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại, thuận lợi đâu không thấy,
chỉ nghe người dân phàn nàn biểu hiện thái độ e ngại khi muốn đến cơ quan nhà nước
giải quyết những việc liên quan. Vì đâu người dân lại tỏ thái độ như thế? Bởi lẽ, các cơ
quan nhà nước có quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian,
công sức của người dân khi đến làm việc, từ đó tạo tâm lý ngại đến các cơ quan công
quyền. Rõ ràng những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp và thái độ phục vụ không
đúng mực của cán bộ, công chức,....đã làm mất dần lòng tin của nhân dân vào nền
hành chính của nước nhà.
Đặc biệt, nước ta đang từng bước chuyển mình hòa vào nhịp độ chung của thời
kỳ hội nhập quốc tế. Mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước, thúc
đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thì cải
63/2010/NĐ-CP ngày 08-6-2010 về kiểm soát thủ tục hành chính. Nghị quyết số
30c/NQ-CP ngày 08-11-2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2011-2020 và Nghị quyết 76/NQ-CP ngày 13-6-2013 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08-11-2011 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2011-2020.
Hòa chung trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính trong cả nước, tại
UBND xã Hiệp Hưng cũng được tổ chức thí điểm Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
(sau đây gọi là Bộ phận “một cửa”), để tạo thuận tiện cho nhân dân khi đến làm việc
tại UBND xã. Sau nhiều năm thực hiện cơ chế “một cửa”, bên cạnh những kết quả tích
cực như thủ tục hành chính được đơn giản, tinh gọn góp phần giảm hẳn tình trạng gây
phiền hà, sách nhiễu tổ chức, công dân; tinh thần, năng lực chuyên môn của cán bộ,
công chức được nâng lên đáng kể. Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc, biểu hiện
thủ tục hành chính còn rườm rà, thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ, công chức
vẫn còn thờ ơ, vô trách nhiệm; tình trạng nhũng nhiễu vẫn còn gây khó khăn cho công
dân trong quá trình giải quyết công việc. Những vấn đề này cần được khắc phục kịp
thời để phù hợp với những thay đổi của thực tiễn địa phương cũng như tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vì vậy, việc nghiên cứu về thủ tục hành
chính và cải cách thủ tục hành chính, rút ra tổng kết của địa phương là cần thiết. Chính
vì những lý do trên mà tác giả đã chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng” để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng tới những mục đích sau:
- Từ thực tiễn nghiên cứu tìm ra và phân tích những nguyên nhân dẫn đến những
mặt tồn tại hạn chế của việc thực hiện mô hình “một cửa” ở UBND xã Hiệp Hưng.
- Tìm hiểu thực trạng triển khai và thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ
chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng.
- Thông qua việc thâm nhập thực tế và phân tích nguyên nhân tác giả đề xuất một
GVHD: Võ Duy Nam
-3-
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CƠ
CHẾ “MỘT CỬA”
1.1. Cải cách hành chính1
Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu
hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế – xã
hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do
đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau.
- Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất
định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà
chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với
trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn,
cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành cải cách hành chính đạt
hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của một quốc gia;
- Cải cách hành chính tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử,
yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng
tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền
hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể chế pháp lý, hoặc tài
cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.”2
Trên thực tiễn của 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính
nhà nước giai đoạn 2001- 2010 vừa xong, gặt hái được nhiều kết quả tích cực nhưng
cũng có nhiều mặt hạn chế. Lấy đó làm bài học kinh nghiệm để cả nước tiếp tục triển
khai thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2011 ban hành Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020 và Nghị quyết số
76/2013/NQ-CP ngày 13-6-2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2011 ban hành Chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020. Với nội dung trọng tâm là cải
cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên
chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ
hành chính và chất lượng dịch vụ công3.
Vì sao lại phải cải cách hành chính? Bởi nền hành chính công truyền thống của
chúng ta có nhiều mặt hạn chế như4: cơ cấu cồng kềnh, có nhiều cấp trung gian;
chuyên môn hóa sâu nên khó thích nghi với sự thay đổi; lạm dụng về mặt hành chính,
giấy tờ, thủ tục rườm rà; máy móc, cứng nhắc, không linh hoạt; chủ yếu quan tâm vào
các mối quan hệ chính thức mà không quan tâm đến mối quan hệ con người; quyền
hạn, trách nhiệm không được phân biệt rạch ròi. Trong khi trên thực tế, quan hệ giữa
các cá nhân không chỉ dựa vào các văn bản, thủ tục mà còn có các mối quan hệ qua lại
giữa con người với con người; mọi hoạt động trong các cơ quan nhà nước không thể
máy móc và cứng nhắc mà cần thay đổi theo sự thay đổi của môi trường; cán bộ công
chức không chỉ dựa trên chuyên môn mà còn khả năng khác nữa; hoạt động hành
chính không thể tách rời chính trị. Vì thế cải cách hành chính với mục tiêu xây dựng
một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước
2
Mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010 của Chính phủ.
cho cá nhân và tổ chức. Nó tạo một tâm lý e ngại và thiếu tin tưởng vào hoạt động của
bộ máy nhà nước, từ đó làm giảm đi hiệu quả cần đạt được khi xây dựng nhà nước là
phải hết lòng phục vụ nhân dân. Vì thế, để hướng tới một nền hành chính phục vụ cho
nhân dân, tinh gọn, hiệu quả, thống nhất, thông suốt và minh bạch thì việc cải cách
hành chính là điều tất yếu và cấp thiết.
Thủ tục hành chính được hiểu theo một cách đơn giản là trình tự, cách thức thực
hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định
để giải quyết công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức 5. Hoặc có thể hiểu theo
Từ điển thuật ngữ Hành chính, thủ tục hành chính là trình tự thực hiện hình thức hoạt
động của một cơ quan hành chính nhà nước. Các thủ tục hành chính có mục đích thiết
lập trật tự hoạt động quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực. Nó gồm toàn bộ các quy tắc
pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong
việc giải quyết nhiệm vụ của Nhà nước và công việc liên quan đến công dân tạo thành
một hệ thống các quy phạm về thủ tục. Chúng là những nguyên tắc bắt buộc các cơ
quan nhà nước cũng như các công chức nhà nước phải tuân theo. Thủ tục hành chính
là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính nhà nước, là cách thức mà
nhà nước áp dụng để làm cho các quy định của luật pháp có được sự bảo đảm thống
nhất trong quá trình thực thi và áp dụng vào đời sống. Như vậy, thủ tục hành chính là
toàn bộ quy tắc, trình tự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, theo đó cơ
quan hành chính nhà nước, các tổ chức, cá nhân phải tuân theo trong khi giải quyết
các công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với các
tổ chức xã hội, công dân 6. Từ quan niệm về thủ tục hành chính thì thấy một vấn đề có
5
Điều 3 của Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính.
6
Theo Từ điển thuật ngữ Hành chính.
chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành.
Chính vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là yêu cầu bức xúc của nhân dân, doanh
nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải
cách hành chính Nhà nước. Trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục
hành chính có vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết
những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải
hoàn tất trong một thời gian nhất định.
Cải cách hành chính có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành
chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của
7
http://sxd.hagiang.gov.vn/Thu-tuc-hanh-chinh-1.html [truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014]
8
Theo Th.s Thái Xuân Sang – Gv khoa Quản lý nhà nước, Cải cách thủ tục hành chính trong tiến trình phát
triển và hội nhập, được đăng trên trang: http://truongchinhtrina.gov.vn/AritcleDetail.aspx?_Aricle_ID=47 [truy
cập ngày 17 tháng 4 năm 2014]
GVHD: Võ Duy Nam
-7-
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
yêu cầu mới trong thời kỳ hội nhập sẽ tiếp tục đặt ra cho cải cách thủ tục hành chính
những thách thức mới cần phải vượt qua- Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, vượt qua
những thách thức đó, cải cách hành chính sẽ góp phần tích cực để đất nước phát triển
và hội nhập thành công.
1.2.4 . Mục tiêu của việc cải cách thủ tục hành chính
Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính là hướng tới một nền hành chính thống
nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và điều cốt yếu là xây
dựng một nền hành chính công hướng tới phục vụ xã hội và công dân; hoạt động quản
GVHD: Võ Duy Nam
-8-
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
lý hành chính ngày càng đa dạng, phong phú về nội dung vì thế thủ tục hành chính
phải được cải cách mạnh mẽ, uyển chuyển về hình thức, biện pháp nhanh nhẹn, các
bước, trình tự gọn, minh bạch, thông suốt và hiệu quả.9
Nhận thức được việc cải cách thủ tục hành chính là tất yếu trong thời đại ngày nay.
Đảng và Nhà nước đã có những cái nhìn chiến lược khi định hướng cho việc cải cách
hành chính thành những giai đoạn hợp lí. Gần đây nhất là chương trình tổng thể cải
cách hành chính giai đoạn 2001- 2010 vừa mới hoàn thành, gặt hái được nhiều điểm
tích cực, thành công xong cũng ấn chứa nhiều điểm hạn chế, chính vì thế mà Chính
phủ đã ban hành tiếp Nghị quyết 30c/NQ-CP kèm theo Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Bởi cải cách hành chính là việc dài ngày,
lâu năm chứ không phải một ngày một bữa mà thành, cũng như cần sự góp sức của
toàn xã hội chứ không chỉ có công chức nhà nước hay của riêng các cơ quan công
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
máy, quy chế làm việc và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Việc xây
dựng thủ tục hành chính phải được đặt trên những nguyên tắc cơ bản do Hiến pháp
quy định. Những nguyên tắc này có thể trực tiếp liên quan đến việc xây dựng các thủ
tục hành chính, nhưng cũng có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung và
đòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật khác. Qua nghiên cứu, các
nhà nghiên cứu đã thừa nhận việc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính cần phải
tuân thủ một số nguyên tắc sau:
1.3.1. Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính10
- Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả của các quy định
về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định trên cơ sở bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan,
thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý; dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào,
cơ quan đó phải có trách nhiệm hoàn chỉnh.
- Đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.
- Phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước.
- Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
- Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà
nước.
1.3.2. Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính11
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch của các thủ tục hành chính đang được thực
hiện.
- Bảo đảm tính khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính.
- Bảo đảm tính liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà trong thực hiện
được xây dựng và thực hiện theo các nguyên tắc trên.
1.4. Cơ chế “một cửa”
1.4.1. Sự ra đời của cơ chế “một cửa”
Khi cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp không còn phù hợp với bối cảnh phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta lúc bấy giờ nữa, Đảng và Nhà nước ta đã mạnh dạng
đổi mới sang cơ chế thị trường12, nhằm thu hút nhiều sự đầu tư của nước ngoài, giật
dậy nền kinh tế của nước nhà. Nhưng thực tế đổi mới lại đặt ra nhiều thách thử mà đòi
hỏi chúng ta cần có những cơ chế thích hợp và những hướng đi đúng.
Thấy được sự cần thiết đó, cơ chế “một cửa” về thực hiện thủ tục hành chính trong
việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức được đề ra đầu tiên trong lĩnh vực đầu
tư trực tiếp của nước ngoài tại Quyết định số 366/HĐBT ngày 7-11-1991 của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu
tư trực tiếp của nước ngoài. Cơ chế “một cửa” đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động
của các Ban Quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất từ đó đến nay.
Sự ra đời của Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 của Chính phủ về cải cách một
bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Tạo một
bước ngoặc quan trọng trong việc thực hiện đổi mới đất nước. Thành phố Hồ Chí
Minh là đơn vị được áp dụng thí điểm cơ chế giải quyết công việc theo mô hình “một
cửa” từ năm 1995 và tiếp theo nhân rộng mô hình “một cửa” trong cả nước.
Sau khi thực hiện mô hình “một cửa” theo tinh thần Nghị quyết số 38/CP ngày 45-1994 của Chính phủ tại một số địa phương, đã gặt hái được những thành công đáng
kể, xong cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm. Chính từ những thành công của mô
hình, Chính phủ đã rút kinh nghiệm và ban hành tiếp Quyết định số 181/2003/QĐTTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ
chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Quy định rõ phạm vi,
lĩnh vực cụ thể để thực hiện cơ chế “một cửa”.
Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-6-2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban
hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” và cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương. Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung nội dung của Quyết
định số 181/2003/QĐ- TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
12
bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn
các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp. Cùng với yêu cầu
của sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta
từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi,
cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội. Việc cải cách theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực
hiện cơ chế “một cửa”, được triển khai mạnh trong quá trình thực hiện Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010. Theo chủ trương đó,
Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về ban
hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương ra đời, tạo ra một cách thức giải quyết công việc hiệu quả cho công dân, tổ
chức, đã thể chế hóa mối quan hệ giữa chính quyền và công dân thông qua việc thực
hiện cơ chế “một cửa”. “Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức,
cá nhân bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân)
thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn,
tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối duy
GVHD: Võ Duy Nam
- 12 -
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
nhất là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước”13. Khi cơ
chế “một cửa” ra đời, thay vì việc cá nhân, tổ chức khi muốn giải quyết hồ sơ hành
chính thì phải tự mình đi liên hệ với nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau của cơ quan
13
Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về Ban
hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, có chế một cửa liên thông tại cơ quan nhà nước ở địa phương.
GVHD: Võ Duy Nam
- 13 -
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
góp phần thực hiện có hiệu quả trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức tại
các cơ quan hành chính nhà nước. Thực chất, “Cơ chế “một cửa liên thông” là cơ chế
giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ
quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp
nhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước”14. Trên thực tế,
có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan thẩm quyền giải quyền của nhiều cấp,
nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng. Cơ chế “một cửa
liên thông” đặt ra yêu cầu cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong
quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ
quan khác.
Người dân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối.
Những cải cách trên đây đã giúp cho cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng
tốt hơn những nhu cầu của người dân.
1.4.3. Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”15
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Hiệp Hưng, huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
1.4.4. Phạm vi và quy trình thực hiện cơ chế “một cửa”
1.4.4.1. Phạm vị thực hiện cơ chế “một cửa”
Cơ chế “một cửa” được áp dụng đối với các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 3
Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, ban hành kèm theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày
22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ các
quy định của pháp luật và tình hình thực tế của địa phương quyết định những loại công
việc thực hiện theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” để giải quyết một số lĩnh
vực công việc liên quan trực tiếp tới tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật cùng
thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước. Bao gồm các
cơ quan sau16:
- Văn phòng Ủy ban nhân dân, các sở và cơ quan tương đương (sau đây gọi là cơ
quan chuyên môn cấp tỉnh) thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban
nhân dân cấp huyện).
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã).
- Các cơ quan được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc đặt tại địa phương của
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
1.4.4.2. Quy trình giải quyết hồ sơ hành chính theo cơ chế một cửa 17
- Tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết công việc được quy định áp dụng cơ chế
“một cửa”, “một cửa liên thông” liên hệ, nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của một cơ quan hành chính nhà nước theo quy định.
- Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm
xem xét hồ sơ của tổ chức, cá nhân.
+ Trường hợp yêu cầu của tổ chức, cá nhân không thuộc thẩm quyền giải quyết thì
hướng dẫn để tổ chức, cá nhân đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
luật.
1.4.5. Ưu điểm của cơ chế “một cửa”
- Mô hình “một cửa” thực sự đáp ứng được yêu cầu cải cách thủ tục hành chính,
phù hợp với tình hình thực tế, hợp lòng dân được nhân dân đồng tình ủng hộ. Các thủ
tục hành chính được rà soát đơn giản, dễ hiểu, quy định giải quyết được điều chỉnh
hợp lý, khoa học, công khai. Những giấy tờ có tính chồng chéo không theo quy định
của Nhà nước được loại bỏ. Đối với lãnh đạo UBND các cấp và lãnh đạo các Sở, ban,
ngành, các phòng chức năng bớt đi những công việc sự vụ, dành nhiều thời gian cho
những nhiệm vụ quan trọng hơn, phát huy được hiệu lực quản lý nhà nước.
- Mô hình này khắc phục được tình trạng đùn đẩy công việc, không rõ trách nhiệm
như trước đây. Trước đây khi công dân có hồ sơ hành chính đến giải quyết phải tìm
gặp nhiều phòng ban khác nhau, hồ sơ có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, mất nhiều
thời gian, công sức, tiền của; thời gian giải quyết công việc không được quy định cụ
thể, thủ tục hành chính không thống nhất, không được niêm yết công khai, còn gây
phiền hà cho công dân.
- Giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” góp phần đẩy mạnh tính dân
chủ tại các cơ quan và các xã, phường; tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức đã
được nâng lên, tinh thần đoàn kết nội bộ tốt hơn, chất lượng công tác có chuyển biến
rõ nét; các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của từng cơ quan
liên quan đến các lĩnh vực giải quyết được công khai quán triệt, bàn bạc, kiểm tra và tổ
chức thực hiện; mặt khác việc tiếp dân, giải quyết đơn thư kiến nghị của công dân
được quan tâm; những vướng mắc, tranh chấp nảy sinh ở các khu dân cư đã được giải
quyết kịp thời từ cơ sở.
- Mặc dù số lượng công dân đến làm việc đông đúc nhưng với quy trình giải quyết
hồ sơ hành chính khoa học, cùng với việc từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, nâng cao nghiệp vụ, trách nhiệm với công việc và nâng cao ý thức phục
vụ nhân dân. Do nhận được sự đồng thuận, ủng hộ cao của nhân dân. Nhu cầu của
người dân được thỏa mãn, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với bộ máy chính
quyền.
GVHD: Võ Duy Nam
2.1.1 .Quá trình hình thành và phát triển
Xã Hiệp Hưng là xã vùng nông nghiệp nông thôn của huyện Phụng Hiệp, nằm
cách trung tâm huyện Phụng Hiệp 3km về phía Nam. Là đơn vị hành chính được thành
lập sau khi chia tách xã Hiệp Hưng (cũ) thành lập thị trấn Cây Dương theo tinh thần
Nghị định số 28/NĐ-CP ngày 04-8-2000 của Chính phủ.
*Vị trí địa lý:
- Phía Đông tiếp giáp xã Phụng Hiệp và thị xã Ngã Bảy.
- Phía Tây tiếp giáp xã Phương Bình, xã Hòa An và khu Bảo tồn thiên nhiên Lung
Ngọc Hoàng.
- Phía Nam tiếp giáp xã Tân Phước Hưng và xã Phương Phú.
- Phía Bắc tiếp giáp thị trấn Cây Dương và xã Hòa Mỹ.
Xã có diện tích tự nhiên 54,49 km2.
Dân số trung bình: 18.727 nhân khẩu. Trong đó có đến 85% số dân sống bằng
nghề sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lúa, mía. Những năm gần đây do giá cả một số
mặt hàng nông sản không ổn định, làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân trong
toàn xã.
Xã được chia thành 13 ấp, trung tâm của xã là giao điểm của nhiều tuyến giao
thông huyết mạch cả về đường thủy lẫn đường bộ như Tỉnh lộ 927, Tỉnh lộ 928, Kênh
Xáng Hậu Giang 3, nối xã Hiệp Hưng với các địa phương lân cận.
2.1.2 .Cơ cấu tổ chức nhân sự
Về cơ cấu cán bộ của xã: Thực hiện Công văn số 121/UBND ngày 02/02/2004 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang “về việc tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn”; Công văn số 125/UBND ngày 02-02-2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Hậu Giang “về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10-102003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn”; đồng thời, được sự
thống nhất của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp. Xã Hiệp Hưng bố trí 22 cán bộ
chuyên trách và công chức.
18
Tư liệu từ xã cung cấp.
cố An ninh quốc phòng và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn xã. UBND xã
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo,
quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.
UBND xã Hiệp Hưng giải quyết công việc theo nhiệm vụ, quyền hạn quy định ở
Điều 111 đến Điều 117 tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Gồm những vấn
đề nổi bật sau:
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân
cùng cấp thông qua để trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức thực hiện kế
hoạch đó.
- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa
phương phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa
phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội
đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Ủy ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp
trên trực tiếp.
GVHD: Võ Duy Nam
- 19 -
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đan