TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2014
Đề tài:
NGHI THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ
HÀNH CHÍNH-LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Võ Duy Nam
Bộ môn Luật hành chính
Nguyễn Thị Dương
MSSV: B110043
Lớp : LK1163B1
Cần Thơ, 04/2014
Lời cảm ơn!
Nhờ sự tâm huyết, tận tình của quý thầy cô là giảng viên, cán bộ, nhân viên
Trường Đại học Cần Thơ, cùng với sự phấn đấu không ngừng của bản thân, đến nay em
đã hoàn thành tốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường. Qua gần ba năm, bản thân đã
được trau dồi và trưởng thành rất nhiều cả về tri thức lẫn nhân cách đủ để làm hành trang
cho cuộc sống tương lai. Qua đây, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Luật
Trường Đại Học Cần Thơ đã yêu thương, chỉ bảo tận tình, đã truyền đạt cho em những
kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Võ
2.3.1 Nghi thức lễ tân khi tiếp đãi khách đến công sở ...............................................
2.3.2 Nghi thức lễ tân trong tổ chức ngày kỷ niệm, nghi thức trao tặng, đón nhận
hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua ..........................................................................
2.4 Nghi thức lễ tân nhà nước trong đối ngoại ...................................................................
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CÁC NGHI
THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH ...................................................
3.1 Thực trạng ...................................................................................................................
3.1.1 Thuận lợi ..................................................................................................................
3.1.2 Hạn chế.....................................................................................................................
3.2 Giải pháp, đề xuất ........................................................................................................
KẾT LUẬN ......................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự sống của con người là tổng hòa các mối giao tiếp. Đó là mối giao tiếp
giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và giữa con người với
thiên nhiên. Giao tiếp là hoạt động bản chất của vạn vật nhằm sinh tồn. Trong xã
hội loài người hoạt động giao tiếp lại càng không thể thiếu nhằm trao đổi thông tin,
nhận thức, tư tưởng, tình cảm để bày tỏ mối quan hệ, cách ứng xử, thái độ giữa các
thành viên của xã hội loài người với nhau và với thế giới xung quanh. Trong hoạt
động quản lý nhà nước, một bối cảnh đặc biệt của giao tiếp xã hội, khi các chủ thể
giao tiếp có những thuộc tính giao ước xã hội khác nhau, việc áp dụng một cách hợp
lý và thuần thục những cơ cấu nghi thức tương thích là tiền đề quan trọng để đạt
được hiệu quả giao tiếp tốt nhất.
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
hàng trăm ngàn đoàn khách quốc tế vào làm việc tại Việt Nam, cũng như cử hàng
trăm ngàn lượt cán bộ, chiến sỹ đi thăm, làm việc và học tập tại các nước; tổ chức
hàng trăm hội thảo, hội nghị và các khóa tập huấn quốc tế nhằm tăng cường sự hợp
tác quốc tế và nâng cao năng lực công tác trong các lĩnh vực liên quan cho cán bộ,
công chức…Để đạt hiệu quả tối đa trong mọi hoạt động hợp tác như chia sẻ thông
tin, kinh nghiệm, đào tạo, tập huấn thống nhất kế hoạch hợp tác và chương trình
hoạt động chung, giao lưu văn hóa, thể thao… đòi hỏi các cán bộ, công chức phải
hiểu rõ công tác lễ tân nhà nước. Công tác lễ tân được thực hiện trên cơ sở tổng hợp
các quy định, tập quán quốc gia và quốc tế. Công tác lễ tân không những thể hiện
chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà còn thể hiện những nét
văn minh và bản sắc văn hóa của một dân tộc. Thực hiện tốt công tác lễ tân là góp
phần quan trọng vào sự thành công của công tác đối ngoại và ngược lại, nếu xảy ra
sai sót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của công tác đối ngoại, thậm chí có thể
gây căng thẳng cho quan hệ ngoại giao.
Từ lý luận và thực tiễn đều cho thấy vai trò to lớn, mang tính quyết định của
Nghi thức lễ tân nhà nước trong công sở hành chính, trong nền kinh tế-xã hội đang
hội nhập và phát triển từng giờ. Tuy vậy, ta cũng phải nhìn nhận một cách khách
quan những hạn chế các nghi thức nhà nước cho cán bộ, công chức làm công tác lễ
tân nhà nước đang hằng ngày thực thi công vụ tại các cơ quan công quyền.
Tất cả những điều nêu trên là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Nghi thức lễ
tân nhà nước trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn ” làm vấn đề nghiên
cứu cho Khóa luận kết thúc khóa học tại trường Đại học Cần Thơ.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện Nghi thức lễ tân
trong công sở hành chính; đồng thời đánh giá được những ưu và nhược điểm việc
vận dụng Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính.
Trên cơ sở đó, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những thực trạng và đưa
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và lời kết. Đề tài gồm có 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
Chương 2. Quy định của pháp luật về Nghi thức lễ tân trong công sở
hành chính
Chương 3. Thực tiễn và kiến nghị để hoàn thiện các Nghi thức lễ tân
trong công sở hành chính
GVHD: Võ Duy Nam
3
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHI THỨC LỄ TÂN
TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH
1.1 Lý luận chung về nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
1.1.1 Khái niệm chung về công sở
Theo nghĩa cổ điển, công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của
nhà nước, để tiến hành một công việc chuyên ngành của Nhà nước. Ví dụ như các
cơ quan hành chính Nhà nước, các Viện nghiên cứu, bệnh viện, trường học... Đây là
một loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, phụ trách quản lý một loại công
việc hay một loại hoạt động có tính chuyên ngành. Các tổ chức mang tính công ích,
được Nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điều chỉnh của Luật hành chính và các
Bộ luật khác đều có nghĩa là công sở. Như vậy, công sở thực chất là một loại tổ
chức và do đó có đặc trưng của một tổ chức.
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
sơ, thông tin, tổ chức thực hiện các quyết định hành chính...theo chức trách của
mình và theo một quy chế nhất định.
Công sở hành chính có những nhiệm vụ chủ yếu: quản lý công vụ theo pháp
luật; tổ chức phối hợp công việc giữa các bộ phận của cơ quan; tổ chức công tác
thông tin trong cơ quan và giữa cơ quan với các cơ quan khác; thực hiện việc kiểm
tra, theo dõi công việc của cán bộ, công chức thuộc cơ quan theo cơ chế chung và
các quy chế khác do cơ quan, đơn vị ban hành dựa trên các quy định chung của nhà
nước; tổ chức việc giao tiếp với dân, với các cơ quan trong bộ máy Nhà nước và các
tổ chức xã hội, làm đại diện cho nhà nước để thực thi công vụ; tham mưu trong hoạt
động chính sách, xây dựng pháp luật, các quy chế, quyết định cho cơ quan, tổ chức
Nhà nước có thẩm quyền... công sở là nơi phục vụ công dân thông qua việc giao
tiếp, giải quyết các công việc của dân,là hình ảnh nhìn thấy được của chính quyền,
của các cơ quan nhà nước trong quy trình hoạt động của mình.
1.1.2 Lý luận chung về Nghi thức nhà nước và Nghi thức lễ tân
Trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn tồn tại các sự vật và các hiện tượng xã
hội. Các sự vật, hiện tượng ấy nằm trong quá trình tác động của các hoạt động chính
trị, văn hóa xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo… Các hoạt động này diễn
ra hết sức đa dạng và phong phú, phản ánh quá trình nhận thức và chinh phục thế
giới tự nhiên, phản ánh quá trình nhận thức xã hội của loài người. Các hoạt động
này dù có hướng tới thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Thế giới vật chất tồn tại và vô hạn trong sự vận động và biến đổi không
ngừng, nó không phải là sự chuyển vị trí trong không gian mà theo nghĩa chung
nhất, vận động là sự biến đổi nói chung.
Ph.Ănggen viết: “vận động hiểu theo nghĩa chung nhất – tức được hiểu là
một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị
trí đơn giản cho đến tư duy” .
Như vậy, bất cứ sự vật hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội đều
tính lễ nghi là một bộ phận quan trọng không kém gì những quy định nêu trong
những đạo luật.
Như vậy, những nghi thức, thủ tục mang tính nghi lễ được thực hiện trong
hoạt động giao tiếp quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của các phương
thức tiến hành hoạt động đó. Nội dung của những nghi thức và thủ tục đó kiến tạo
cơ bản khái niệm nghi thức nhà nước.
Nghi thức nhà nước là phương thức giao tiếp trong hoạt động quản lý nhà
nước nói chung được quy định trong văn bản pháp luật của nhà nước và tập quán
truyền thống của dân tộc và quốc tế mà các bên quan hệ phải tham gia và thực hiện.
Nghi thức nhà nước bao gồm nhiều nội dung:
- Các vấn đề liên quan đến hình thức công sở;
- Các vấn đề liên quan đến giao tiếp của công chức trong thực hiện nhiệm vụ;
- Các vấn đề liên quan đến cách thức thể hiện và sử dụng các biểu tượng
quốc gia và thể thức văn bản nhà nước;
- Các vấn đề liên quan đến công tác lễ tân như: việc đón, tiếp khách và các
vấn đề liên quan đến tổ chức các hoạt động như hội họp, lễ hội, lễ kỷ niệm, lễ tấn
phong…
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chủ yếu quan tâm
đến mối quan hệ thứ tư, đó là các vấn đề liên quan đến công tác lễ tân.
Từ nội dung trên ta thấy khái niệm lễ tân là một nội dung của lễ nghi nhà
nước.
GVHD: Võ Duy Nam
6
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
có lễ khánh hạ của triều đình; việc đau thương thì có lễ tuất tang của nhà nước; cũng
là những lễ tiến tôn sách phong thì làm ở nơi cung phủ, những lễ tế cáo cầu đảo thì
để tiếp với bách thần. Các lễ đều có quan hệ với đạo trời lẽ vật, với điển nước phép
triều, các đời diên cách, kỹ, dối khác nhau, cần phải chia ra từng mối, từng ngành
mà không thể thiếu sót được.
Từ đời Đinh đời Lý trở về trước, nghi tiết còn đơn giản, đến đời Trần, đời Lê
về sau, lễ chế mới nhiều, hoặc trước sơ lược mà sau tường tận hơn, hoặc trước
GVHD: Võ Duy Nam
7
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
không mà sau có, đều là do lễ nghĩa mà đặt, văn mỗi thời mỗi khác, nghi thức đã
đặt, đều phải chép cả…”1[22].
Lễ vốn đã có từ trong xã hội nguyên thủy, dùng để chỉ những tập tục mang
tính quy phạm ( tục lệ) mà các thành viên trong thị tộc, bộ lạc phải tuân thủ. Cùng
với sự ra đời của nhà nước và phân hóa giai cấp, giai tầng các tục lệ được cải biên,
chỉnh sửa phù hợp với điều kiện phát triển mới cơ cấu tổ chức quyền lực, tương
quan chính trị và đời sống kinh tế - xã hội.
Lễ là yếu tố được thể hiện và thể hiện rất rõ và mạnh mẽ trong đạo Khổng.
Theo Kinh Lễ thì có đạo đức, nhân nghĩa mới thành. Chỉ có Lễ thì mọi quan hệ giữa
người với người, giữa người với đất trời mới được thông suốt. Đã là người thì phải
biết đến Lễ, học Lễ thông suốt. Cử chỉ, lời nói nhất thiết phải theo những khuôn
phép nhất định, khuôn phép ấy là hợp với đạo của trời, của đất. “Trời cao đất thấp,
muôn vật tản mát khác nhau, bởi thế phải đặt ra lễ để giữ gìn cho có trật tự. Lễ là
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
sự tôn trọng của thị tộc- thị tộc, quốc gia- quốc gia để không làm tổn hại danh dự
nước mình và uy tín quốc gia khác.
Trước kia, nghi thức được áp dụng trong nghi thức đón tiếp các nước và phái
đoàn ngoại giao được gọi là nghi thức triều đình, để chủ yếu phô trương sức mạnh,
sự giàu có với nhau. Lễ tân tạo ra khoảng cách giữa vua chúa với thần dân, giữa
nước lớn với nước nhỏ. Sau này được chia thành nghi lễ nhà nước và nghi lễ ngoại
giao.
Nghi lễ nhà nước là lễ tiết rất quan trọng của nhà nước, mang nặng tính quốc
gia. Đối tượng là người trong nước, do lễ tân trong nước chuẩn bị, được tổ chức
theo nghi thức quốc gia truyền thống. Áp dụng cho quốc khánh, quốc tang, lễ đăng
quang nhậm chức hoặc tuyên dương công trạng thành tích.
Nghi lễ ngoại giao là lễ tiết liên quan đến các quốc gia khác. Đối tượng chính
là người nước ngoài, mang tính quốc gia và quốc tế. Được tổ chức theo tập quán
quốc gia và quốc tế, do Lễ tân bộ ngoại giao chịu trách nhiệm. Được áp dụng cho
đón tiếp đoàn người nước ngoài, tổ chức để trình thư uỷ nhiệm, trao huân huy
chương cho người nước ngoài.
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thức giao
tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, được quy định tại các văn bản
pháp luật của nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc, hoặc quốc tế mà các
bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thực hiện nghiêm
chỉnh.
Ngay từ những ngày đầu của nền cộng hòa(1945), Đảng và nhà nước ta đã
quan tâm đến công tác xây dựng lễ nghi nhà nước của chính quyền mới. Các văn
bản pháp luật đã kịp thời được ban hành để điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực
Nhà nước trong tổ chức mittinh, lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận Danh hiệu vinh
dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen
của Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra còn nhiều văn bản khác quy định về tổ chức việc cưới, việc tang,
hội họp, về lễ phục, trang phục công chức, quy định một số nghi lễ nhà nước và tiếp
khách nước ngoài…
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nhiều vấn đề trong lĩnh vực này vẫn còn bị
pháp luật bỏ ngỏ, mặc dầu vẫn biết đây là phạm vi điều chỉnh không thể chỉ hoàn
toàn bằng pháp luật được. Những vấn đề liên quan đến nghi lễ nhà nước đã được
pháp luật quy định cần phải được thực hiện nghiêm chỉnh.
1.3 Vai trò và ý nghĩa của nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
1.3.1 Vai trò và ý nghĩa của nghi thức lễ tân trong vấn đề đối nội
Lễ tân nhà nước là một biểu hiện quan trọng của văn hóa quản lý ( văn hóa
hay nói cách khác là văn trị = cai trị + giáo hóa). Trong tuyên bố về những chính
sách văn hóa, UNESCO Mêhicô 1982: “trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc
quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa
bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại
cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở
thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý trí, có óc phê phán và dấn thân một
cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi
những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được
bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những
thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng
tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”
GVHD: Võ Duy Nam
10
quan điểm chính trị trong từng lễ tiết, như thái độ, hình thức đón tiếp thể hiện nội
dung và mức độ quan hệ.
Bất kỳ hoạt động ngoại giao nào giữa hai hoặc nhiều quốc gia đều cần tới các
Nghi lễ tân ngoại giao: từ việc đón tiếp các phái đoàn chính thức, triệu tập các hội
nghị quốc tế, đàm phán ký kết các hiệp định, đến việc bổ nhiệm, triệu hồi người
đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, trình thư ủy nhiệm các vấn đề cụ thể như treo
cờ, cử quốc thiều, trang phục trong các lễ tiết… Mọi hoạt động Nghi Thức lễ tân
diễn ra tốt hay xấu đều có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới quan hệ của các nước.
Nghi thức lễ tân ngoại giao vừa là công cụ chính trị của hoạt động đối ngoại
của một Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hóa các nguyên tắc cơ
bản của luật pháp quốc tế.
GVHD: Võ Duy Nam
11
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
Nghi thức lễ tân ngoại giao tạo khung cảnh và bầu không khí cho mối quan
hệ giữa các quốc gia được tiến hành thuận lợi; đề ra quy tắc cho các cuộc giao thiệp
quốc tế; vận dụng các hình thức thích hợp trong các cuộc đàm phán ký kết các văn
kiện quốc tế nhằm làm tăng giá trị và sự tôn trọng những điều đã ký kết.
Nghi thức lễ tân ngoại giao cố gắng đảm bảo quyền bình đẳng cho các quốc
gia, tạo điều kiện để mỗi quốc gia, ngay cả trong trường hợp thù địch với nhau, có
sự tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng phẩm giá và quyền độc lập giữa các dân tộc, kể dân
tộc nhỏ yếu nhất.
đề xuất, xây dựng để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành hoặc trình các cấp có thẩm
quyền ban hành các quy định về công tác lễ tân đối ngoại:
- Nghiên cứu quy định, tập quán lễ tân Việt Nam và lễ tân quốc tế;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật về công tác lễ tân đối ngoại.
- Chủ trì xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về nghi
lễ đối ngoại trong công tác đón tiếp khách nước ngoài;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, hướng dẫn và kiểm
tra việc thực hiện các quy định, chế độ ưu đãi, miễn trừ dành cho các Cơ quan đại
diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hiệp quốc, Tổ chức
quốc tế liên Chính phủ tại Việt Nam và thành viên của các Cơ quan đại diện này;
- Chủ trì xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định về thư tín
trong giao dịch đối ngoại.
GVHD: Võ Duy Nam
13
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
Thứ hai, tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lễ tân đối ngoại.
Thứ ba, đề xuất để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tham mưu cho Lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ trong công tác lễ tân đối ngoại:
- Chủ trương, kế hoạch, biện pháp nâng cao và cải tiến công tác lễ tân đối
ngoại phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước
và tập quán quốc tế;
14
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Ngoại giao thực hiện các
thủ tục lễ tân đối ngoại đối với việc bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Đại
diện, Đại diện thường trực nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
tại Liên hợp quốc và các Tổ chức quốc tế liên chính phủ;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thông báo các quyết định của
lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến
công tác lễ tân đối ngoại cho các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ
quan đại diện thuộc Liên hợp quốc và Tổ chức quốc tế liên chính phủ tại Việt Nam;
- Hướng dẫn, quản lý và phối hợp với các cơ quan chức năng bảo đảm chế
độ ưu đãi, miễn trừ các nước dành cho các Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và tại các Tổ chức quốc tế liên chính phủ phù hợp
với các quy định của luật pháp quốc tế;
- Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các sự kiện quan trọng của
Việt Nam có mời khách cấp cao quốc tế, Đoàn Ngoại giao tham dự.
Thứ năm, chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức bồi dưỡng
nghiệp vụ lễ tân cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Ngoại giao, cán bộ, nhân
viên Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và
các cơ quan, tổ chức khác khi có yêu cầu.
Thứ sáu, quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính và tài sản được giao
theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Ngoại giao.
Thứ bảy, thực hiện các nhiệm vụ khác theo ủy quyền hoặc phân công của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao.
Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, lễ tân trong nước phải nắm rõ các quy định
của nhà nước khi sử dụng các biểu tượng quốc gia. Biểu tượng quốc gia là khái
niệm dùng để chỉ các yếu tố cấu thành mang tính chất tượng trưng cho một quốc gia
bao gồm: Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc huy.
Từ xa xưa, hầu như mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới đã lựa chọn cho mình
những biểu tượng nhất định. Những biểu tượng đó là Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc Ca,
Quốc ngữ, Quốc thiều…tức là những gì phần lớn tạo nên quốc thể.
+ Quy định về việc sử dụng Quốc hiệu
Quốc hiệu là tên gọi của đất nước. Trong lịch sử, đất nước ta đã có nhiều tên
gọi khác nhau như : Văn Lang, Âu Lạc, Giao Chỉ, Cửu Chân, Vạn Xuân, Đại Cồ
Việt, Đại Việt, An Nam…
Ngày 02/09/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Theo Sắc lệnh
của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 49/SL ngày
12/10/1945, tiêu đề các văn bản nhà nước được ghi là : “ Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa”.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, tên nước là : “ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”. Quốc hiệu cùng với tiêu ngữ: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” cùng tạo
thành tiêu đề văn bản, được in trên đầu trang nhất.
+ Quy định về việc sử dụng Quốc huy
Quốc huy là huy hiệu của một nước hoặc hình tượng đặc trưng cho một
nước. “Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở
giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe
răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” 3[1]. Quốc huy của bất cứ
một quốc gia nào đều mang một thông điệp, một ý nghĩa nhất định, Quốc huy Việt
Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho Đảng
Cộng Sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ xán lạn của
3
[1] Khoản 2 điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
- Bằng huân chương, bằng khen của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, Thủ Tướng Chính Phủ,
- Các văn bản ngoại giao như quốc thư, uỷ nhiệm thư, thư giới thiệu của Chủ
tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao,
- Hộ chiếu,
- Các công hàm, thiếp mời, phong bì của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao,
- Các thư từ, thiếp mời, phong bì của Trưởng ban Thường trực Quốc Hội
trong việc giao thiệp với các cơ quan nước ngoài,
- Công văn, thiếp mời, phong bì của các Đại sứ quán và Lãnh sự quán ở nước
ngoài.” 4[17]
Điều 12 Mục 1 Chương III Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành
chính nhà nước - Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02
4
[17] Điều lệ số 973/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/07/1956
GVHD: Võ Duy Nam
17
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định treo Quốc huy: “Quốc huy
được treo trang trọng tại phía trên cổng chính hoặc toà nhà chính. Kích cỡ Quốc huy
- Khi treo quốc kỳ thì phải chú ý đừng để ngược ngôi sao;
5
[1] Khoản 1 điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
GVHD: Võ Duy Nam
18
SVTH : Nguyễn Thị Dương
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
-Treo quốc kỳ ta với quốc kỳ một nước khác: người đứng đằng trước nhìn
vào thì cờ của ta ở bên tay phải, cờ nước ngoài ở bên tay trái.
-Khi cần treo quốc kỳ của ta và quốc kỳ nhiều nước khác thì sẽ có chỉ thị
riêng của Chính Phủ định rõ thứ tự xếp đặt các cờ.
-Khi treo cờ của ta và cờ các nước khác, thì các cờ phải làm đúng biểu mẫu,
làm bằng nhau và treo đều nhau, không treo lá to lá nhỏ, lá cao lá thấp.
-Treo cờ và ảnh: Treo ảnh Chủ Tịch Nước cùng với quốc kỳ thì để ảnh thấp
hơn quốc kỳ, hoặc để ảnh trên nền quốc kỳ dưới ngôi sao. Ở các cơ quan, chỉ treo
thường xuyên ảnh Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.”
Quốc kỳ là cờ tượng trưng cho một quốc gia , việc treo cờ cũng phải được
quy định rõ ràng: “Thời gian treo:
- Quốc kỳ được treo trong các phòng họp, hội trường của các cấp chính
quyền, cơ quan nhà nước và các đoàn thể khi họp những buổi họp long trọng.
- Quốc kỳ được treo ngoài trời vào dịp các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, tết
cổ truyền của dân tộc và theo thông báo của trung ương và chính quyền địa phương.
Đề tài: Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn
“Khi có quốc tang thì đính vào phía trên Quốc kỳ một dải vải đen, dài bằng
chiều dài Quốc kỳ, rộng bằng 1 phần 10 chiều rộng Quốc kỳ”. 7[16] Theo hướng
dẫn của Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 2010, cờ tang được treo cao trên đỉnh cột
cờ. Tuy nhiên, theo Nghị định 105/NĐ-CP/2012 thì “treo cờ rủ, có dải băng tang (có
kích thước bằng 1/10 chiều rộng lá cờ, chiều dài theo chiều dài của lá cờ và chỉ treo
cờ đến 2/3 chiều cao của cột cờ, dùng băng vải đen buộc không để cờ bay)”
+ Quy định về việc sử dụng Quốc ca
Quốc ca là bài hát được thừa nhận là chính thức của một quốc gia. “Quốc ca
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca.” 8[1]
Việc sử dụng Quốc ca theo các quy định tại Điều lệ số 975/TTg của Thủ
tướng Chính phủ ngày 21/07/1956 và theo thông báo của Chính phủ số 31/TB-CP
ngày 15/02/1993 với nội dung chính sau:
1) Quốc ca có thể hát bằng lời hoặc cử bằng nhạc:
- Khi làm lễ chào cờ;
- Khi khai mạc và bế mạc những cuộc mít tinh, những buổi họp long trọng do
chính quyền hoặc đoàn thể tổ chức;
- Hàng ngày khi bắt đầu buổi phát thanh thứ nhất và khi kết thúc buổi phát
thanh cuối cùng của Đài tiếng nói Việt Nam.
Nếu hát thì khi khai mạc hát đoạn 1, khi bế mục hát đoạn 2.
Trong những cuộc duyệt binh hoặc mít tinh lớn có cử quốc ca bằng nhạc,
đồng thời có bắn đại bác thì có thể cử quốc ca một lần hay nhiều lần.
2) Khi cử quốc ca, mọi người phải bỏ mũ, đừng nghiêm (ở trong phòng họp,
có treo quốc kỳ sau Chủ tịch Đoàn, thì khi chào cờ, Chủ tịch Đoàn đứng nhìn về
phía trước mình, không phải quay mặt vào quốc kỳ. Còn những người khác thì đứng
nhìn về phía quốc kỳ),
3) Cử quốc ca của ta và quốc ca một nước bạn: Trong những buổi lễ (ví dụ
như lễ kỷ niệm ngày Quốc Khánh một nước bạn hoặc đặc biệt trong những buổi
cầu của việc tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen
thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài:
+ Việc tổ chức ngày kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng,
danh hiệu thi đua phải bảo đảm an toàn, trang trọng, tiết kiệm, hiệu quả, không phô
trương hình thức; có ý nghĩa tôn vinh sự kiện, tôn vinh tập thể và cá nhân.
+ Việc tổ chức ngày kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng,
danh hiệu thi đua phải mang ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách
mạng; gắn với các phong trào thi đua yêu nước và thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương và đất nước.
+ Thực hiện nếp sống văn minh, bảo tồn giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc
trong lễ kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua.
+ Việc tổ chức thực hiện nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài
phải chú trọng yêu cầu chính trị, đối ngoại, phù hợp với các quy định của pháp luật
Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế nhằm góp phần tăng cường và mở rộng
quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế.
+ Mức độ và nghi lễ đón, tiếp các đoàn khách nước ngoài thực hiện trên cơ
sở yêu cầu của chuyến thăm và nguyên tắc đối đẳng do cơ quan chủ trì tổ chức đón,
tiếp kiến nghị.
2.3 Nghi thức lễ tân trong đối nội
2.3.1 Nghi thức lễ tân khi tiếp đãi khách đến công sở
Tổ chức tiếp khách là một trong những hoạt động quan trọng, một công tác
cơ bản của các cơ quan công quyền, các đoàn thể, các tổ chức khác nhau. Công tác
này được thực hiện không chỉ nhằm để giao tiếp xã hội thuần túy, đảm bảo hoạt
động thông suốt đối với các hệ quả của quá trình quản lý, mà còn tạo điều kiện cho
các nhà quản lý đánh giá hiệu quả công việc từ phía bên ngoài. Người thực hiện
công tác lễ tân là người đại diện đầu tiên cho cơ quan, đơn vị tiếp xúc với khách, tạo
ấn tượng đầu tiên với khách. Và nếu ấn tượng tốt thì công việc có thể nói là “đầu
GVHD: Võ Duy Nam