LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua 20 năm đổi mới và đã phát
triển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, khẳng
định sự phát triển vượt bậc. Đặc biệt hiện nay, hệ thống ngân hàng đang phát
triển rất mạnh, nhiều ngân hàng mới ra đời và các sản phẩm và dịch vụ ngân
hàng ngày cũng rất đa dạng và phong phú, mới mẻ: dịch vụ huy động vốn,
dịch vụ tín dụng, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán, và các dịch vụ khác:
dịch vụ ngân hàng điện tử, thẻ ngân hàng, bao thanh toán...Chính sự phát
triển đa dạng nhiều loại hình dịch vụ này đã góp phần đóng góp không nhỏ
vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy ngành ngân hàng ngày càng mở rộng tăng
trưởng.
Tuy nhiên trong đó hoạt động cơ bản của ngân hàng vẫn là họat động
tín dụng. Đây là một hoạt động đặc trưng không thể thiếu của các ngân hàng,
là hoạt đông mang lại lợi nhuận cao nhất song cũng mang lại rủi ro cao nhất
cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng gây ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và sự
tồn tại phát triển của ngân hàng. Nếu rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ cao sẽ
dẫn đến khủng hoảng thanh khoản và sẽ dẫn đến sự phá sản ngân hàng. Theo
phản ứng dây chuyền sự phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng
loạn của các ngân hàng khác, gây ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ ngành kinh
tế. Tuy nhiên đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là
khách quan, là bạn đường trong kinh doanh chỉ có thể đề phòng và hạn chế
chứ không thể loại trừ. Do vậy rủi ro tín dụng dự kiến luôn được xác định
trong chiến lược họat động chung của ngân hàng.Quản lý rủi ro tín dụng
luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các ngân hàng.
1
Nhận thức được điều đó, cùng với quá trình thực tập tại NHNN & PTNT
chi nhánh Thăng Long tôi đã lựa chọn đề tài : "Giải pháp quản lý rủi ro tín
dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thăng Long" làm đề tài tốt nghiệp
của mình.
Kết cấu của chuyên đề như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản l rủi ro tín dụng trong hoạt động
Theo giáo trình Ngân hàng thương mại thì định nghĩa về Ngân hàng
được xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế ”
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế,
thông qua các hoạt động của mình các ngân hàng thực hiện các chức năng
tài chính và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.Ngân hàng thương
3
mại là cầu nối giữa người muốn tiết kiệm và người muốn đầu tư, là nguồn
tạo ra đổi mới tài chính nhanh chóng…
Theo Luật các tổ chức tín dụng thì “ Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán”
* Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
- Huy động vốn: là hoạtđộng tạo nguồn vốn cho NHTM , đóng vai trò
quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng và hoạt động của ngân hàng bao
gồm: nhận tiền gửi thanh toán,tiền gửi tiết kiệm , phát hàng giấy tờ
có giá trên thị trường vốn và thị trường nợ như : cổ phiếu, trái
phiếu…
- Cấp tín dụng: Hình thức tín dụng của ngân hàng là cho khách hàng
vay ngắn hạn và trung dài hạn, cho vay thương mại, tài trợ cho dự án
ngoài ra còn có các hình thức : chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh
hoặc tái bảo lãnh cho khách hàng, cho thuê tài chính…
- Cấp tín dụng là một hoạt động mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
nhưng cũng hàm chứa rất nhiều rủi ro, vì thế các nhà quản lý ngân
hàng cần phải cân nhắc rất kỹ trước khi ra quyết định cấp tín dụng
- Các hoạt động khác: ngoài những hoạt động cơ bản trên để tăng thêm
lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Ngân hàng thay mặt khách
hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh
toán nhanh chóng và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách
hàng nhiều hình thức thanh toán như : thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ…Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán
bù trừ với nhau thông qua ngân hàng TW hoặc thông qua các trung
tâm thanh toán.
- Người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng)
- Là đại lý thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hàng hoặc chuộc lại chứng khoán.
- Thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phần điều tiết sự
tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.1.2. Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
NHTM là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt – hàng
hóa tiền tệ.Hoạt động của NHTM gắn liền với rủi ro. Rủi ro hầu như có mặt
trong từng nghiệp vụ ngân hàng, muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận rủi
ro.Rủi ro của ngân hàng có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
nhưng đều có bản chất chung đó là : rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra
ngoài dự kiến.Và rủi ro của ngân hàng gắn liền với giảm sút thu nhập ngoài
dự kiến.
6
Rủi ro tín dụng của NHTM có thể được phân thành các loại rủi ro
chính sau:
1.1.2.1. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất ngân hàng
thay đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng (cả bên tài sản và bên nguồn
vốn) thường xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn
thất. Rủi ro lãi suất không những gắn với biến động của lãi suất ngân hàng
mà còn gắn với nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kì hạn của tài sản và
các ngân hàng phát hành chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp. Tuy nhiên
các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra các tài sản có hoặc tài sản nợ bổ
sung cho bảng cân đối nội bảng. Ví dụ như phát hành thư tín dụng dự
phòng bảo lãnh cho công ty phát hành trái phiếu. Thư bảo lãnh tín dụng chỉ
được sử dụng trong trường hợp nếu công ty phát hành trái phiếu không có
đủ khả năng thanh toán một phần hay toàn bộ số tiền gốc và lãi trái phiếu.
Còn trong trường hợp công ty phát hành trái phiếu thanh toán đủ cả gốc lẫn
lãi thì thư tín dụng bảo lãnh sẽ tự động hết hiệu lực do đó sẽ không có bất
kỳ điều gì xảy ra đối với bảng cân đối nội bảng của NHTM. Tuy nhiên
khoản chi phí phát hành thư bảo lãnh tín dụng được hạch toán vào báo cáo
thu nhập chi phí và kết quả kinh doanh của NHTM và được hạch toán vào
nội bảng.
Tuy hoạt động ngoại bảng tạo nguồn thu nhập cho khách hàng
nhưng hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ví dụ đó là khi bên được
bảo lãnh không có đủ khả năng thanh toán một phần hoặc tất cả gốc và lãi,
8
hoặc là vi phạm hợp đồng… thì ngân hàng phải dùng một phần vốn kinh
doanh của mình để trả cho bên hưởng bảo lãnh. Trong thực tế những trường
hợp thua lỗ nghiêm trọng trong các hoạt động ngoại bảng đã gây ra tổn thất
rất lớn cho ngân hàng và gây phá sản.
Ngoài bảo lãnh, hoạt động ngoại bảng còn có nhiều dịch vụ phong
phú và đa dạng: bao thầu phát hành trái phiếu, trạng thái ngoại hối có kì
hạn, tương lai, hoán đổi; cam kết tín dụng…Hiệu quả kinh doanh của hoạt
động ngoại bảng rất cao nhưng rủi ro trong kinh doanh không phải là nhỏ.
Do đó quản trị rủi ro hoạt động ngoại bảng rất được coi trọng với một mô
hình hoạt động của một ngân hàng hiện đại.
1.1.2.6. Rủi ro khác:
Các rủi ro khác xảy ra đối với ngân hàng ví dụ như rủi ro công nghệ (
xảy ra khi những khoản đầu tư cho công nghệ không tạo ra được khoản tiết
kiệm trong chi phí như đã dự tính), rủi ro hoạt động ( xảy ra khi hệ thống
a, Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý
thức trả nợ của khách hàng mà do môi trường bên ngoài tác động vào.
Những nguyên nhân này tác động thường xuyên liên tục tới người vay tạo
thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay và khách hàng cho vay. Nhóm
những nguyên nhân khách quan này bao gồm:
i. Rủi ro do biến động của môi trường thiên nhiên
Những biến động về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản
xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự
10
nhiên là yếu tố khó đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm
ngoài sự kiểm soát của con
người. Vì vậy khi có thiên tai địch hoạ xảy ra thì nguy cơ tổn thất của khách
hàng cùng ngân hàng cho vay sẽ rất lớn, phương án kinh doanh sẽ không có
nguồn thu. Ở Việt Nam thời tiết diễn biến phức tạp nên môi trường tự nhiên
được coi là một trong nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng khi đầu tư phát triển các thành phần kinh tế
ii. Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế
giới. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng,
chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công, …vốn
rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới nên dễ bị tổn
thương khi thị trường thế giới biến động xấu.
Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế.
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ
xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt khiến hầu
hết các doanh nghiệp , những ngân hàng thường xuyên của khách
hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và qui luật chọn lọc khắc
nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của
động quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất
đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt
động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh
nghiệp một cách độc lập và hiệu quả.
b, Nguyên nhân chủ quan
12
i. Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ
vay. Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các
phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử
dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản
không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề,
liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các
doanh nghiệp khác.
Khả năng quản lý kinh doanh kém. Khi các doanh nghiệp vay tiền
ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn
đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới
cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính,
kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so
với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương
án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Quy mô
tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nơ so với vốn tự có cao là đặc điểm
chung của hầu hết các doanh nghiệp VN. Ngoài ra, thói quen ghi chép
đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các
doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế
toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang
tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản
phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh
nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là
chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý
ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do
hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp
quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà
NHTM yêu cầu.
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo. Kinh doanh ngân hàng là
một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay
để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể
tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm
hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với
cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng.
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một
con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông
tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến
mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ
không chừa một ngân hàng nào. .
1.2. Quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khách quan và luôn tồn tại trong từng nghiệp vụ tín
dụng cuả NHTM. Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, chỉ
có thể hạn chế chứ không thể loại trừ. Do đó rủi ro tín dụng cần được các nhà
quản lý ngân hàng dự kiến và lường trước. Đó chính là xuất phát điểm hình
thành nên quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
15
Hơn nữa, rủi ro tín dụng chỉ là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng
và không phải bao giờ cũng xảy ra tuy nhiên do tính lặp lại của rủi ro nên
trong nhiều trường hợp người ta nhận thức được qui luật của rủi ro tín dụng.
Chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm
hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín
dụng gây ra.
vốn còn nguyên giá trị. Quá trình giải ngân bị dừng lại, do vậy sẽ có
tác động xấu tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây
nên tình trạng đình đốn trong sản xuất kinh doanh.
ii. Đối với khách hàng gửi tiền: Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm khả
năng thanh toán và giảm uy tín của ngân hàng. Khi đó người gửi tiền
sẽ đồng loạt rút tiền ở ngân hàng để tránh rủi ro cho đồng tiền của
mình. Mặc dù ngân hàng luôn ưu tiên thanh toán cho khách hàng gửi
tiền tại ngân hàng nhưng điều đó không đảm bảo rằng ngân hàng sẽ
thanh toán đầy đủ cho tất cả các khách hàng của mình. Người gửi tiền
sẽ không chắc chắn về khả năng ngân hàng sẽ thanh toán cho mình.
1.2.2.3. Đối với nền kinh tế
17
Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm, chỉ một ảnh hưởng cũng
có thể gây tác động lớn đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động nhiều doanh nghiệp, nhiều
ngành, nhiều cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế. Do đó khi một ngân hàng
gặp rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác
hoang mang lo sợ cho đồng tiền của mình, sẽ ồ ạt đi rút tiền. Hiệu ứng dây
chuyền này gây ra sự hoảng loạn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.Trường
hợp xấu nhất có thể dẫn đến sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác. Nó làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua
giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn đinh. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng
ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều
phụ thuộc vào nền kinh tế mỗi khu vực và thế giới. Cuộc khủng hoảnh tài
chinh châu Á (1997) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã
làm rung chuyển toàn cầu.
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở các mức độ khác
nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho
vay, nặng nhất là khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ
cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không
Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi
Thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn
Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
* Phương thức tài chính
Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển
dài hạn
Chấp nhấn sử dụng các nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát
triển dài hạn
Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu
Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu
Có biểu hiện giảm vốn điều lệ
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của
khách hàng:
Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc điều hành
Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản
trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.
Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện:
- Được hoạch định bởi hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành ít hay
không có kinh nghiệm
20
- Hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham
gia quá sâu vào vấn đề thường nhật
- Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ
Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người
quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên của gia đình chưa được
huần luyện đào tạo đầy đủ đảm đương vị trí then chốt
Có tranh chấp trong quá trình quản lý
Có các chi phí quản lý bất hợp lý
Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh:
Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: Doanh nghiệp bị ấn tượng bởi một
22
- Hoạt động lỗ
- Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ
- Không hạch toán đúng tài sản cố định
- Làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình
- Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng
- Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản
- Phân bố nợ không thích hợp
- Lệ thuộc vào các sản phẩm bất thường để tạo lợi nhuận
- …..
Những dấu hiệu phi tài chính khác
Trong các dấu hiệu trên thì đối với ngân hàng dấu hiệu rõ ràng và có ý
nghĩa nhất là khách hàng chậm thanh toán các khoản cho vay
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá đo lường rủi ro tín dụng
a, Các tiêu chuẩn về an toàn tín dụng của ngân hàng theo các quy đinh
quốc tế và trong nước
* Các nguyên tắc chung của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel về quản trị
rủi ro tín dụng
Basel là Ủy ban Giám sát ngân hàng do các NHTW các nước G10
thành lập năm 1975 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế. Sau
23
một thời gian hoạt động, Ủy ban đã nghiên cứu và đưa ra các yêu cầu về an
toàn vốn, được ban hành lần đầu vào năm 1988 và gọi là Basel 1. Năm 1999,
Ủy ban đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu, đây là
những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để các cơ quan thanh tra,
giám sát ngân hàng và các nhà quản lý tài chính tham khảo. Do những hạn
chế của Basel 1, một hiệp ước mới về vốn đã được thông qua vào năm 2001
và gọi là Basel 2. Hiệp ước Basel 2 gồm 3 trụ cột:
Trụ cột thứ nhất: Yêu cầu về vốn tối thiểu
Trụ cột thứ hai: Cơ quan thanh tra trực tiếp đánh giá mức độ tuân thủ yêu
Nguyên tắc 2: Thực hiện chiến lược chính sách tín dụng. Xây dựng các
chính sách tín dụng. Xây dựng các qui trình thủ tục cho các khoản vay
riêng lẻ và toàn bộ danh mục tín dụng nhằm xác đinh, đánh giá, quản
lý và kiểm soát rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 3: Xác đinh và quản lý rủi ro tín dụng trong tất cả các sản
phẩm và hoạt động.
Nguyên tắc 4: Tiêu chuẩn cấp tín dụng đầy đủ gồm có: những hiểu biết
về người vay, mục tiêu và cơ cấu tín dụng. nguồn thanh toán
25