ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
NGUYỄN THỊ YẾN
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
NGUYỄN THỊ YẾN
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lƣơng Thùy Liên
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG .............................................................................. 9
1.1. Khái quát chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam ............... 9
1.1.1. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam ............................ 9
1.1.2. Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam ......................... 11
1.1.3. Thành tựu và hạn chế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam ..... 18
1.2. Đạo đức truyền thống và những nội dung cơ bản của đạo đức truyền
thống Việt Nam. .................................................................................................. 22
1.2.1. Khái niệm đạo đức truyền thống ................................................................ 22
1.2.2. Những nội dung cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam.................... 26
1.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay ........................................ 39
CHƢƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC
TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ................................. 47
2.1. Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt
Nam hiện nay. ....................................................................................................... 48
2.1.1. Tác động tích cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền
thống ở Việt Nam hiện nay ................................................................................... 48
2.1.2. Tác động tiêu cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền
thống ở Việt Nam hiện nay ................................................................................... 65
2.2. Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở
Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp .................................. 76
2.2.1. Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở
Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra ............................................................ 76
2.2.2. Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở
Việt Nam hiện nay: Một số giải pháp cơ bản....................................................... 84
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 97
liệt của lịch sử, đạo đức truyền thống vừa là kết quả, vừa là động lực của quá
1
trình đấu tranh gian khổ, lâu dài và quật cƣờng của dân tộc ta chống lại thiên tai
và địch họa, làm nên cốt cách, tinh thần, và sức mạnh Việt Nam.
Do vậy, để xã hội phát triển lành mạnh, huy động sức mạnh của toàn dân
phấn đấu thực hiện mục tiêu CNH, HĐH hiện nay, một mặt chúng ta phải quan
tâm tới phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống vật chât đầy đủ cho nhân dân,
mặt khác phải chăm lo xây dựng đạo đức xã hội lành mạnh, khắc phục sự suy
đồi phẩm chất đạo đức của một bộ phận dân cƣ.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong quá trình CNH, HĐH chúng ta vừa
thực hiện thành công, đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa giữ gìn và phát huy các giá
trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đây là vấn đề cần đặt ra cho Đảng,
Nhà nƣớc và nhân dân Việt Nam, từ đó tìm ra con đƣờng đúng đắn và phù hợp
nhất cho đất nƣớc.
Chúng tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu “CNH, HĐH và tác động của nó tới
đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết, cấp bách cả về mặt
lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn tốt nghiệp có thể chia
làm 2 nhóm.
* Nhóm những nghiên cứu về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống
Việt Nam.
- Nghiên cứu về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam là một
đề tài rộng lớn. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu là
một số công trình:
- Công trình của tác giả Trần Văn Giàu “Giá trị tinh thần truyền thống
Việt Nam”, Nxb khoa học xã hội, 1998. Công trình đã nêu lên cơ sở hình thành
viết của nhiều tác giả, đề cập đến nhiều nội dung khác nhau nhƣ:
+ Phân tích điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử đã tạo lên những nét đặc
trƣng của đạo đức truyền thống Việt Nam nhƣ tinh thần yêu nước, tinh thần
đoàn kết, lòng nhân nghĩa.
3
+ Phân tích sự khác nhau giữa đạo đức truyền thống Việt Nam với đạo
đức Nho giáo, đạo đức phong kiến.
+ Phân tích những ảnh hƣởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo, đạo đức
phong kiến đến đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề
xuất những giải pháp khắc phục những hạn chế.
- Tạp chí triết học số 157 tháng 6 năm 2004 có các bài của các tác giả:
Nguyễn Văn Lý “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng
viên ở nước ta hiện nay”. Trong bài viết tác giả nêu lên sự cần thiết, những biện
pháp để nâng cao đạo đức cho cán bộ các cấp các ngành nhằm đáp ứng đƣợc
những yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
- Tạp chí triết học số 159 tháng 8 năm 2004 có bài của Minh Anh “Về
học thuyết luân lý và đạo đức Nho giáo” tác giả đã phân tích quan niệm về ngũ
luân và những yêu cầu của ngũ luân trong Nho giá
- Tạp chí triết học số 163 tháng 12 năm 2004 có bài “Quan điểm mác xít
về mối quan hệ giữa đạo đức - chính trị - pháp quyền, ba lĩnh vực này đều nhằm
giữ cho xã hội trong vòng trật tự kỷ cƣơng, nhƣng chúng có vai trò, vị trí, cách
thức khác nhau trong tác động tới việc hình thành con ngƣời theo mỗi chế độ xã
hội. Chúng ta phải kết hợp chặt chẽ cả ba lĩnh vực trên.
- Tạp chí triết học số 168 tháng 5 năm 2005 có bài “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị” của tác giả Phạm Văn Nhuận.
Trong bài viết của mình tác giả đã làm rõ quan hệ giữa đạo đức và chính trị trong
tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh. Ngƣời cho rằng đạo đức phải mang bản chất một
trƣờng là làm cho con ngƣời chủ động, tích cực, ý thức trách nhiệm của mỗi cá
nhân không ngừng đƣợc nâng lên. Trong đó cũng nêu ra những tác động tiêu cực
của kinh tế thị trƣờng đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam nhƣ: lối sống chạy
theo đồng tiền, thực dụng, tệ nạn xã hội có xu hƣớng gia tăng.
- Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết: “Đôi điều suy nghĩ về giá
trị và sự biến đổi các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”.
Bài viết đã nêu ra sự biến đổi các giá trị đạo đức khi nền kinh tế đang có những
bƣớc phát triển mới.
5
- Tác giả Nguyễn Duy Quý: “Đạo đức xã hội dưới tác động và ảnh
hưởng của kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay”, “thực trạng và nguyên nhân
suy thoái đạo đức trong xã hội”, và trong cuốn sách “Đạo đức xã hội ở nước ta
hiện nay.vấn đề và giải pháp”, của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam do tác giả
Nguyễn Duy Quý và tác giả Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2006, đã nêu lên thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay.
Với những tác động của kinh tế thị trƣờng và sự mở rộng giao lƣu quốc tế, đạo
đức xã hội Việt Nam đã có nhiều tiến bộ về sự bình đẳng trong xã hội, tự do dân
chủ của con ngƣời. Bên cạnh đó công trình này đã nêu lên những hạn chế, những
điều đáng lo ngại là đạo đức gia đình và xã hội, đạo đức trong các ngành, các
lĩnh vực đang có sự xuống cấp nhƣ lối sống chạy theo đồng tiền, sự tha hóa đạo
đức của một bộ phận cán bộ công chức Nhà nƣớc, tình trạng tội phạm gia tăng
vv… Điều đó đang gây ra những bức xúc cho xã hội, những lo lắng cho ngƣời
dân. Trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay,
các tác giả đã nêu lên những giải pháp nhƣ tăng cƣờng nghiên cứu giảng dạy đạo
đức trong xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong gia đình, để khắc
phục những hạn chế thiếu sót nêu trên.
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, tác giả Phạm
đẩy mạnh hơn nữa sự tập trung nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn hiện nay
bởi đây là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc liên quan đến sự tồn tại và phát triển
của dân tộc trong quá trình thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn: Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về sự tác động của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện
nay, từ đó xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến đạo
đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay.
- Thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận chung về tác động của CNH, HĐH
đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiên nay.
7
Hai là, làm rõ thực trạng tác động của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở
Việt Nam hiện nay, xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp cơ bản
nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến
đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng các
phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử, logic, diễn dịch, quy nạp…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn: CNH, HĐH và tác động của nó tới
đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu quá
Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo
nông nghiệp đó là điện khí hóa cả nƣớc.
Có thể hiểu rằng, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản
xuất lớn hiện đại có cơ cấu kinh tế tiến bộ, trình độ khoa học công nghệ hiện đại.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là điều kiện quan trọng và quyết
định nhất đối với thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Để có đƣợc cơ sở vật
chất – kỹ thuật nhƣ vậy, đối với những nƣớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tƣ bản chủ nghĩa là phải CNH, HĐH.
Đối với Việt Nam, một nƣớc có nền kinh tế kém phát triển thì CNH, HĐH
là một con đƣờng tất yếu để tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất lớn
hiện đại, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Quá trình này đƣợc thực
hiện một cách có kế hoạch trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. CNH,
HĐH có ý nghĩa quan trọng. Đó là con đƣờng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn
so với các nƣớc trên thế giới, giữ đƣợc ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập,
chủ quyền và định hƣớng phát triển xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, CNH, HĐH có
ảnh hƣởng quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
9
Trên cơ sở phân tích trên, Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành
Trung ƣơng khóa VII đƣa ra khái niệm CNH, HĐH: “CNH, HĐH là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phƣơng tiện và phƣơng pháp
tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học –
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [24, 4].
Quan điểm này đƣợc các Đại hội sau (VIII, IX, và X) kế thừa và quán
triệt bằng các chủ trƣơng chính sách. Đại hội IX khẳng định CNH, HĐH vẫn là
nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. CNH, HĐH nhằm “Phát huy
về cơ bản; vị thế của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế đƣợc nâng cao” [29, 24].
Đại hội X nhấn mạnh: “Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri
thức, tạo nền tảng để đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng
hiện đại vào năm 2020” [28, 186].
1.1.2. Nội dung của CNH, HĐH ở Việt Nam
Những nội dung có tính định hướng chiến lược của CNH, HĐH trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất – cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng
những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại.
Đặc thù của quá trình CNH, HĐH là cải biến lao động thủ công, lạc hậu
thành những lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt năng suất lao
động xã hội cao. Đó là bƣớc chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp
sang nền kinh tế công nghiệp đi liền với cơ khí hóa và tự động hóa sản xuất từng
bƣớc và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải
xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó có ngành chế
tạo tƣ liệu sản xuất. Sở dĩ nhƣ vậy là vì, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất tƣ liệu sản xuất, đặc biệt là của
ngành sản xuất tƣ liệu sản xuất quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng (hay tốc
độ tăng trƣởng) của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của các ngành chế tạo tƣ
11
liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực
nông – lâm – ngƣ nghiệp. Do vậy đối tƣợng CNH, HĐH là tất cả các ngành kinh tế
quốc dân nhƣng trƣớc hết và quan trọng nhất là ngành sản xuất ra tƣ liệu sản xuất.
Đồng thời, mục tiêu của CNH, HĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ
ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tất cả những
điều đó chỉ có thể đƣợc thực hiện trên cơ sở một nền khoa học công nghệ phát
hiện thực về vật chất, tinh thần, cơ chế…để phát triển cơ chế trí tuệ văn hóa,
nghệ thuật, kích thích tự do sáng tạo của mọi ngƣời, của tập thể và của cả cộng
đồng. Đồng thời cần tận dụng mọi thành quả văn hóa, nghệ thuật để xây dựng
đất nƣớc. Nhanh chóng tạo ra môi trƣờng văn hóa mới để hình thành phát triển
nhân cách của con ngƣời Việt Nam hiện đại, đồng thời mở rộng giao lƣu văn hóa
với nƣớc ngoài, nhằm tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại vào phục vụ
cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân
tộc. Song cùng với nó, cũng cần phải tiến hành một cách thƣờng xuyên và kiên
quyết cuộc đấu tranh chống các loại phản văn hóa, tránh khuynh hƣớng thƣơng
mại hóa văn hóa. Vì chúng ta không chỉ xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn góp phần xây dựng con ngƣời Việt Nam
hiện đại với những phẩm chất tích cực mang tính nhân văn và nhân văn cao cả.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đó là quá trình sử dụng chính những
thành tựu của giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ để tiếp tục đổi mới triệt
để và toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Bởi
vì, sự nghiệp CNH, HĐH trƣớc hết đòi hỏi phải có con ngƣời hết mực trung
thành, giàu lòng yêu nƣớc, có trình độ văn hóa cao, kiến thức khoa học hiện đại
và kỹ năng thành thạo, có khả năng làm ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị
trƣờng trong và ngoài nƣớc.
Thứ hai, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế hợp lý là tổng thể hữu cơ các mối quan hệ về chất và lƣợng
giữa các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Nó phản ánh trình độ, trạng
thái phân công lao động xã hội trong hệ thống quan hệ sản xuất nhất định.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một trong hai nhiệm vụ quan
trọng của quá trình CNH, HĐH. Do vậy, Đại hội X đề ra định hƣớng
13
phát triển ngành, vùng và lĩnh vực trong giai đoạn 2006 – 2010. Trong
vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội đƣợc xây dƣng xong về cơ bản thì chế độ
công hữu sẽ chiếm ƣu thế tuyệt đối. Nhƣng để đạt tới trình độ đó phải trải qua
quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, trong đó quan hệ sản xuất đƣợc cải
biến dần từ thấp đến cao theo trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất.
Những nội dung cụ thể của CNH, HĐH ở nước ta trong những năm
trước mắt
Thứ nhất, đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
Xuất phát từ vai trò, vị trí của ngành nông nghiệp và đặc điểm của đất
nƣớc, cần phải coi trọng CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp (gồm cả nông,
lâm, ngƣ nghiệp) và xây dựng nông thôn, đẩy mạnh quá trình đƣa nông nghiệp
và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn hiện đại. Đây là nhiệm vụ quan trọng cả
trƣớc mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội.
Bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia trong mọi tình huống. Từng bƣớc
cải thiện cơ cấu chất lƣợng bữa ăn, tiến tới đạt tiêu chuẩn về dinh dƣỡng.
Bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và đoàn kết mọi tầng lớp dân cƣ ở
nông thôn.
Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nhằm phát
triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn hiện đại phù hợp với thị trƣờng và đáp ứng
nhu cầu cuộc sống của mọi thành viên xã hội.
Quan điểm của Đại hội X xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông
thôn và nông dân” [28, 88-90].
Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể phát triển nhanh khi chúng ta thúc đẩy
nông thôn cùng phát triển với thành thị. Đây là một mục tiêu lớn và lâu dài và
nay cũng là mục tiêu mà chúng ta dứt khoát phải thực hiện bởi chỉ có vậy chúng
ta mới tạo ra đƣợc một đời sống giàu có cho mỗi ngƣời dân.
Thứ hai, cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết
cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế
Thứ tư, phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ
16
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các
lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng
cùng nhau phát triển. Trong những năm trƣớc mắt phải tập trung thích đáng nguồn
lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đƣa lại hiệu quả cao,
đồng thời phải hỗ trợ cho những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo
đảm cho các vùng, các lãnh thổ và các thành phần dân cƣ đều có lợi và đều đƣợc
hƣởng thành quả của sự tăng trƣởng kinh tế. Kết hợp phát triển và quản lý theo
ngành với phát triển và quản lý theo lãnh thổ. Về phƣơng hƣớng phát triển vùng
lãnh thổ ở nƣớc ta trong thời gian tới, Đảng cộng sản Việt Nam xác định, phát huy
vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trƣởng cao, tích lũy lớn, đồng
thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng
vùng, liên kết với trọng điểm tạo mức tăng trƣởng khá. Quan tâm phát triển kinh
tế xã hội gắn với tăng cƣờng quốc phòng an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, trú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam. Có chính sách hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển kết
cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, đƣa các vùng
này vƣợt qua tình trạng kém phát triển.
Thứ năm, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, mở cửa nền kinh tế là cần thiết với tất cả
các nƣớc. Do đó CNH, HĐH không thể thành công nếu không mở cửa nền kinh
tế. Sau thời kỳ khá dài đóng cửa, hiện nay mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp
bách đối với nền kinh tế nƣớc ta, và là một nội dung của CNH, HĐH trong những
năm trƣớc mắt. Nhƣng mở cửa và hội nhập nhƣ thế nào cũng cần đƣợc cân nhắc kỹ
càng nhằm tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của
quá trình này với tăng trƣởng phát triển của nền kinh tế. Trong việc mở cửa, hội nhập,
Nông nghiệp cũng có sự biến đổi thần kỳ, đã chuyển từ độc canh lúa,
năng xuất thấp và thiếu hụt lớn, sang không những đủ dùng trong nƣớc còn xuất
khẩu gạo với số lƣợng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an ninh lƣơng
18
thực trong nƣớc và quốc tế, xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản
với khối lƣợng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới.
Thƣơng mại từ nhỏ bé, phân tán, ngày nay việc mua bán ở trong nƣớc đã
đƣợc tự do hóa, nhiều hệ thống siêu thị, trung tâm thƣơng mại đƣợc hình thành. Số
nƣớc và vùng lãnh thổ mà Việt Nam có quan hệ buôn bán nếu năm 1986 mới có 43
thì đến nay đã lên đến trên 200. Kim ngạch xuất khẩu năm 2012 vƣợt mốc 100 tỷ
USD, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ
170 %, đứng thứ 5 trên thế giới.
Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7 / 2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực
hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD.
Kinh tế đối ngoại, tham gia hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á, có quan hệ
ngoại giao với trên 170 nƣớc, có quan hệ buôn bán với trên 200 nƣớc và vùng
lãnh thổ, tham gia hầu hết các tổ chức và định chế quốc tế, trở thành thành viên
tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, thành viên không thƣờng trực của hội đồng
bảo an Liên hợp quốc… vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày
càng tăng.
Trên cơ sở tăng trƣởng kinh tế, đời sống xã hội có nhiều chuyển biến tích
cực, mức sống của nhân dân tăng lên rõ rệt. Tình hình an ninh chính trị ổn định,
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, và quản lý của nhà nƣớc ngày
càng đƣợc củng cố. Mặt khác, sự thay đổi cơ chế kinh tế đánh dấu sự đổi mới tƣ
duy lý luận của Đảng ta về con đƣờng xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đƣợc thực
tiễn cuộc sống và kết quả nêu trên kiểm chứng là đúng đắn, công cuộc đổi mới là
hợp lòng dân, là đúng xu thế phát triển khách quan của thời đại, và hòa nhập vào
chƣa đúng hƣớng, kết cấu hạ tầng còn thấp kém và xuống cấp; Công nghiệp hóa
chƣa đẩy nhanh và có hiệu quả trong quá trình nâng cao trình độ kỹ thuật và đổi
mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.
Trong nhận thức và chủ trƣơng Đảng và Nhà Nƣớc đã coi cách mạng kỹ
thuật là thực chất của công nghiệp hóa, cách mạng khoa học kỹ thuật là then
chốt, khoa học và công nghệ là động lực của đổi mới, nhƣng do thiếu cơ chế và
20