LUẬN văn THẠC sĩ KHUYẾT tật của nền KINH tế THỊ TRƯỜNG và tác ĐỘNG của nó đến QUỐC PHÒNG AN NINH ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

4

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Đây là bước chuyển mang tính cách mạng
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Qua gần 20
năm triển khai sự chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, nền kinh tế nước
ta đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, song chưa thật ổn định
và vững chắc. Bên cạnh những thành tựu còn nảy sinh không ít những tiêu
cực, lệch lạc do những khuyết tật của kinh tế thị trường gây nên, đã ảnh
hưởng không nhỏ đến sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.
Để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững,
đạt được tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, một trong những nhiệm vụ
cần thiết đặt ra với đất nước ta là phải từng bước hạn chế và khắc phục có
hiệu quả các khuyết tật của cơ chế thị trường đối với mọi mặt của đời sống
kinh tế xã hội. Thực tiễn cho thấy những tác động của các khuyết tật này là
lực cản to lớn của công cuộc đổi mới. Nhưng việc nhận thức và xử lý các
khuyết tật đó còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau cả trong chỉ đạo thực
tiễn và lý luận. Yêu cầu của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, đòi hỏi phải
có nhận thức đúng về các khuyết tật của kinh tế thị trường và những tác
động của chúng đối với các mặt của đời sống kinh tế-xã hội và quốc phòngan ninh ở nước ta. Hiện nay, những tiêu cực, lệch lạc trong đời sống kinh tếxã hội do những khuyết tật của kinh tế thị trường mang lại là rất nghiêm
trọng, là lực cản kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội và hiệu lực lãnh đạo


5

của Đảng và quản lý của nhà nước ta, làm giảm lòng tin của quần chúng,

biên; “Tác động của những biến đổi kinh tế-xã hội đến nhận thức chính trị,
tư tưởng của cán bộ quân đội và một số vấn đề đổi mới công tác tư tưởng, tổ
chức trong quân đội ta hiện nay” do GS Trần Xuân Trường làm Chủ nhiệm
đề tài. Song đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn “khuyết tật của kinh tế thị trường và
tác động của nó đến quốc phòng-an ninh ở Việt Nam hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích :
Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan
đến các khuyết tật của kinh tế thị trường, phân tích những tác động của
khuyết tật kinh tế thị trường đối với đời sống kinh tế-xã hội nói chung cũng
như trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh nói riêng. Từ đó chỉ ra phương
hướng và các giải pháp để phòng ngừa các khuyết tật này ở nước ta.
Nhiệm vụ :
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về thị trường và các khuyết tật của
kinh tế thị trường.
- Chỉ ra những tác động của các khuyết tật kinh tế thị trường nói chung
và ở Việt Nam nói riêng.
- Phân tích tác động của các khuyết tật của kinh tế thị trường đến quốc
phòng-an ninh ở nước ta hiện nay.
- Kiến nghị những phương hướng cơ bản và các giải pháp phòng ngừa
các khuyết tật của kinh tế thị trường nhằm tiếp tục phát triển kinh tế xã hội
và củng cố quốc phòng-an ninh ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các khuyết tật của kinh tế thị trường
và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh ở Việt Nam hiện nay và những
phương hướng, giải pháp cơ bản để phòng ngừa, hạn chế các khuyết tật của


7

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Kinh tế thị trường và khuyết tật của kinh tế thị trường
1.1.1. Những vấn đề chung về kinh tế thị trường
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, loài người đã trải qua các
giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ sản xuất tự cấp, tự túc đến sản xuất
hàng hoá nhỏ và phát triển lên sản xuất hàng hoá với qui mô lớn. Mỗi bước
phát triển đó đều gắn liền với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội. Gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất
hàng hoá là sự hình thành và mở rộng dần thị trường hàng hoá và mức độ,
phạm vi tác động của cơ chế thị trường, cơ chế vận hành của nền kinh tế
hàng hoá được thể hiện thông qua thị trường bằng sự tác động của các qui
luật sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để có cơ sở phân tích nguồn gốc, đặc
điểm và sự tác động của những khuyết tật cơ chế thị trường, trước hết cần
phải xuất phát từ phạm trù thị trường và các yếu tố cấu thành thị trường.
1.1.1.1. Thị trường và các yếu tố cấu thành thị trường
Thị trường là lĩnh vực trao đổi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, là nơi
gặp gỡ giữa người bán và người mua hàng hoá, dịch vụ liên quan đến sự tồn
tại, phát triển sản xuất và đời sống.
C.Mác cho rằng : “Thị trường nghĩa là lĩnh vực trao đổi” [17, 614].
Lênin, trong tác phẩm “Bàn về cái gọi là thị trường” viết năm 1893 đã chỉ ra
rằng : “Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công
xã hội được. Sự phân công này như Mác đã nói là cơ sở của mọi nền sản
xuất hàng hoá. Hễ ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng


9

hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường. Qui mô của thị trường gắn chặt với
trình độ chuyên môn hoá của lao động xã hội” [13, 114].
Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở của mọi nền sản xuất hàng

mở rộng và trở nên phức tạp hơn. Nó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ
hơn. Trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế kỹ thuật khách quan theo một tỷ
lệ tất yếu. Do vậy, thị trường cũng vừa là “cầu nối”, vừa là giải pháp tối ưu
để kết hợp nhanh nhạy, chính xác các mối quan hệ phức tạp đó.
Để phân loại thị trường người ta dựa theo những tiêu thức khác nhau,
căn cứ vào giá trị sử dụng người ta chia thị trường thành thị trường tư liệu
sản xuất và tư liệu tiêu dùng hoặc cụ thể hơn là thị trường từng mặt hàng.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền có thể chia thị trường
thành thị trường “hoàn hảo” và thị trường không “hoàn hảo”, thị trường vừa
cạnh tranh, vừa độc quyền. Căn cứ vào các yếu tố gắn liền với sản xuất, có
thể chia thị trường thành thị trường các yếu tố “đầu vào” và thị trường các
yếu tố “đầu ra” của sản xuất. Căn cứ vào mối quan hệ giữa thành thị và
nông thôn, có thể chia thị trường trong nước thành thị trường nông thôn và
thị trường thành thị. Căn cứ vào phạm vi hoạt động trong điều kiện quốc tế
hoá, có thể chia thị trường thành thị trường trong nước, thị trường thế giới
và thị trường khu vực.
Thị trường có những chức năng chủ yếu như : Thừa nhận hoặc không
thừa nhận giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá, dịch vụ của người sản xuất;
thông tin các thông số về nhu cầu trên thị trường, kích thích hoặc hạn chế
việc sản xuất và tiêu dùng thông qua các quyết định của người sản xuất và
người tiêu dùng.
Thị trường bao gồm các yếu tố cấu thành như sau :
- Hàng hoá : Trong nền kinh tế thị trường, nhân tố đầu tiên của thị
trường phải kể đến là hàng hoá.


11

Với tư duy truyền thống, hàng hoá thường được hiểu gắn liền với các
vật thể, gắn liền với lĩnh vực sản xuất vật chất. Ngày nay, cùng với sự phát

tiền giấy đã ra đời, tiền giấy chỉ là ký hiệu của giá trị; tiền vàng có vai trò và
tác dụng tự điều chỉnh qua 2 kênh lưu thông và cất trữ để cân đối hàng hoá
với tiền tệ (H-T). Tác dụng này biểu hiện khi (T>H), tiền tệ từ kênh lưu
thông rút về kênh cất trữ để điều chỉnh làm cho hàng hoá cân đối với tiền.
Ngược lại, khi (H>T); tiền từ kênh cất trữ, được đưa ra làm chức năng mua
hàng hoá ở kênh lưu thông, nhờ đó làm cho H và T cân đối lại với nhau. Bởi
vậy, việc xác định lượng tiền phát hành cần thiết cho lưu thông trong từng
thời kỳ là nội dung quy luật lưu thông tiền (vàng) do C.Mác đưa ra. Trong
điều kiện lưu thông tiền giấy, việc vận dụng qui luật lưu thông tiền tệ nói
trên có liên quan đến việc khống chế và kiểm soát lạm phát, ổn định sức
mua của đồng tiền và ổn định mức tỷ giá hối đoái hợp lý trong nền kinh tế
quốc dân.
- Giá cả thị trường : Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá, còn giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá có
tính đến cạnh tranh, cung-cầu và sức mua của đồng tiền trong từng thời gian
và không gian nhất định. Từ đó ta thấy, sự biến động của giá cả thị trường
phụ thuộc vào những nhân tố chủ yếu sau đây :
+ Giá trị hàng hoá hình thành trong sản xuất và lưu thông. Nhân tố này
tồn tại với tư cách là nhân tố cơ bản của giá trị thị trường, nó hoàn toàn xa lạ
với các lý thuyết về “giá trị giới hạn” và lý thuyết về ‘cung-cầu” quyết định
giá cả hàng hoá, hòng phủ nhận học thuyết giá trị của các nhà kinh tế chính
trị học Mác xít.
+ Thực tế cung-cầu hàng hoá dịch vụ trên thị trường là nhân tố cho
phép lý giải một cách rõ nhất vì sao giá cả thị trường không ăn khớp với giá
trị hàng hoá mà lại tách rời giá trị ở tiệm cận trên hoặc tiệm cận dưới của
trục giá trị. C.Mác cho rằng, sự tách rời giữa giá trị và giá cả của hàng hoá


13



1.1.1.2. Cơ chế thị trường - cơ chế vận hành của nền kinh tế thị
trường
Trong nền kinh tế thị trường, do độc lập tương đối với nhau, nên các
chủ thể kinh tế tự quyết định những vấn đề sản xuất và kinh doanh. Nhìn bề
ngoài dường như các quyết định đó rất ngẫu nhiên, nhưng trên thực tế,
những quyết định của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường về mở
rộng hay thu hẹp sản xuất-kinh doanh, về giá cả, về ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất… đều chịu sự chi phối của những lực lượng khách quan,
các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, có hệ thống các quy luật kinh tế tồn tại và
hoạt động như :
- Quy luật giá trị : Quy luật giá trị có vị trí quan trọng nhất, nó bao quát
khá đầy đủ đặc trưng và bản chất của kinh tế thị trường. Nói cách khác : quy
luật giá trị là quy luật cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Ở đâu có
sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động. quy
luật này đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí
lao động xã hội cần thiết, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ
sở ngang giá. Nghĩa là về sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợp
với hao phí lao động xã hội, về trao đổi là phải trao đổi một lượng lao động
bằng nhau cho nhau. Như vậy, những người sản xuất và trao đổi hàng hoá
phải tuân theo mệnh lệnh của thị trường, của giá cả thị trường. Chính sự lên
xuống của giá cả xoáy quanh trục giá trị hàng hoá là biểu hiện sự hoạt động
của quy luật giá trị, sự tác động của quy luật giá trị trên thị trường thông qua
cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền.
- Quy luật lưu thông tiền tệ


15



mục đích của họ đến thị trường là để bán hàng, vì vậy với họ thị trường là
tổng hợp những điều kiện, yếu tố và môi trường để thực hiện giá trị nhằm
thu về chi phí sản xuất và lợi nhuận dưới hình thái tiền để bảo tồn và tái mở
rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Người mua là người có tiền, họ đến
thị trường với mục đích mua sắm hàng hoá để tiêu dùng (tiêu dùng cho cá
nhân và tiêu dùng cho sản xuất). Đối với họ thị trường là tổng hợp những
điều kiện, yếu tố và môi trường giúp họ có thể tìm thấy và thoả mãn các nhu
cầu mua sắm hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng phù hợp với khả năng thanh
toán.
Như vậy, nhu cầu và lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng được
thể hiện ở quan hệ và sự tác động qua lại giữa cung, cầu về hàng hoá và dịch
vụ trên thị trường. Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng hình
thành nên quy luật cung-cầu về hàng hoá và dịch vụ trên thị trường.
Cầu bao gồm cả cầu của sản xuất và cầu của đời sống cá nhân. Thị
trường là tập hợp những nhu cầu của người tiêu dùng về các loại hàng hoá
nào đó, không có nhu cầu thì không có thị trường tồn tại trong thực tế. Sự
phát triển của cơ cấu và qui mô nhu cầu trong nền kinh tế hàng hoá quyết
định sự phát triển của thị trường về chiều rộng và chiều sâu, đến lượt nó sự
phát triển của thị trường lại kích thích nhu cầu phát triển.
Cung là điều kiện cần, để cho thị trường hình thành và phát triển. Cung
thể hiện ở khả năng cung cấp hàng hoá của người sản xuất ra thị trường
trong từng thời kỳ. Cung-cầu tác động qua lại lẫn nhau tạo nên quy luật
cung-cầu trên thị trường. Cung và cầu phải tìm gặp nhau, chúng gặp nhau
thông qua các giá cả thị trường, đồng thời quan hệ cung-cầu lại là nhân tố
quan trọng nhất tác động đến sự biến động của giá cả trên thị trường.
Như vậy có thể khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động
sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, những người cung cấp hàng



18

C.Mác coi yếu tố trung tâm quyết định nhất của cơ chế thị trường tự điều
chỉnh là giá cả thị trường, là tín hiệu của thị trường về nhu cầu xã hội.
Nhưng cái gì quyết định giá cả ? Có thể có nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến giá cả như giá trị, cạnh tranh, quan hệ cung-cầu, sức mua của đồng tiền,
yếu tố tâm lý, tập quán và cuối cùng bao trùm lên tất cả là trình độ xã hội
hoá sản xuất.
C.Mác đã coi giá trị, trình độ xã hội hoá sản xuất là nhân tố số một
quyết định giá cả, chứ không phải hoàn toàn do cung-cầu, hoặc một nhân tố
nào khác, cung-cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả thị trường. C.Mác cho rằng :
Dù giá cả hàng hoá được điều tiết như thế nào thì quy luật giá trị cũng vẫn
chi phối sự vận động của chúng. Theo ông, ai coi cung-cầu quyết định giá cả
hàng hoá thì khi cung-cầu bằng nhau, giá cả hàng hoá do cái gì quyết định ?
Chắc chắn lúc đó là do giá trị quyết định. Họ nhầm tưởng rằng, giá cả hàng
hoá sẽ đứng im một chỗ khi cung bằng cầu. Khi đó giá cả thôi không vận
động nữa, đó là nhận thức sai lầm. C.Mác còn chỉ ra rằng : Giá cả có thể lên
cao ngay cả khi cung đáp ứng cầu vì giá trị có thể thay đổi. Điều đó càng
luận giải rõ là giá cả không do cung-cầu quyết định, mà nó chỉ ảnh hưởng
đến sự lên, xuống của giá cả thị trường xoay quanh trục giá trị hàng hoá mà
thôi. Tất nhiên, giá trị hàng hoá mà giá cả thị trường xoay quanh không còn
là giá trị trừu tượng mà là giá cả sản xuất trong các làn sóng cạnh tranh và
quan hệ cung-cầu. C.Mác cho rằng, mặc dù giá cả thị trường tự điều tiết
theo cách nào đó vẫn có thể kết luận :
Một là, sự vận động của giá cả là do quy luật giá trị chi phối. Vì mỗi
khi số lao động cần cho sản xuất giảm hay tăng thì đều làm cho giá cả sản
xuất tăng hay giảm.


19


- Kinh tế thị trường thúc đẩy việc ứng dụng những thành tựu khoa học
-công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh nhằm phát triển nền kinh tế cả bề
rộng và chiều sâu.
- Kinh tế thị trường tạo nên sự mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn và có khả
năng thích nghi cao hơn trước những thay đổi của điều kiện kinh tế. Do đó
nó giải quyết kịp thời và có hiệu quả những vấn đề cơ bản của nền kinh tế :
sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào ? và sản xuất cho ai ?
- Kinh tế thị trường góp phần thoả mãn nhu cầu về nhiều mặt, nhiều vẻ
khác nhau cho tiêu dùng và cho sản xuất.
Bên cạnh những tác động tích cực như đã nêu ở trên, kinh tế thị trường
chứa đựng trong lòng nó những khuyết tật.
Như đã phân tích, thị trường được cấu thành từ những yếu tố như :
hàng hoá, tiền tệ, cung-cầu và giá cả, người tiêu dùng và các nhà sản xuất…
Trong sự vận hành của nền kinh tế, các yếu tố của thị trường vận động và
tác động lẫn nhau, tạo nên những quy luật khách quan, trở thành lực lượng
chủ yếu điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá, sự vận động đó chính là cơ
chế thị trường mà A.SMít gọi là “bàn tay vô hình”. Kết quả của cơ chế điều
tiết đó là: một mặt tạo nên những động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế, mặt khác chính từ cơ chế đó làm xuất hiện những mặt hạn
chế, những khuyết tật trong nền kinh tế thị trường.
Biểu hiện rõ rệt của sự tác động giữa người tiêu dùng và các nhà sản
xuất trên thị trường chính là quan hệ cung-cầu, trong đó cung là khả năng sẽ
đưa ra thị trường một khối lượng hàng hoá của các nhà sản xuất, cầu là sự
thể hiện nhu cầu của xã hội, sức mua có khả năng thanh toán của dân cư. Sự
tác động của cung và cầu bao giờ cũng hình thành nên một mức giá nhất
định, là giá cả thị trường cho một loại hàng hoá nào đó. Xét trên bề mặt xã


21


Do đó đây cũng chính là cơ chế lọc bỏ, đào thải những yếu kém, kích
thích tiến bộ và phát triển; đồng thời cũng mang theo cả những nhân tố tự
phát, vô chính phủ của các nhà sản xuất và những người hoạt động trên lĩnh
vực lưu thông vì mục đích chạy theo lợi ích cá nhân, cục bộ của mình. Điều
này đã dẫn tới tình hình cung vượt quá cầu ở ngành này, cung không đáp
ứng đủ cầu ở ngành khác và nơi này thì thừa hàng hoá, nơi kia hàng hoá lại
khan hiếm. Nói cách khác, cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng không tương
quan với nhau, cơ cấu giữa các ngành, các vùng rơi vào tình trạng mất cân
đối, có ngành, vùng thì phát triển, có ngành, vùng thì ở trong tình trạng trì
trệ hoặc giảm sút, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân và nguồn lực phát
triển cho nền kinh tế.
Thực tế ở Hàn Quốc và Đài Loan trong những năm của thập kỷ 60, 70
đã cho thấy, do tập trung quá mức vào các ngành công nghiệp xuất khẩu để
có ngoại tệ, tạo nguồn tích luỹ đã làm cho nông nghiệp ở các nước này sa
sút nghiêm trọng. Ở Hàn Quốc trong những năm 60 tốc độ tăng trưởng của
nông nghiệp đạt trên 1%/năm. Trong những năm 70 chỉ còn 0,82%/năm và
đến những năm 80 chỉ còn 0,03%/năm. Ở Đài Loan tình trạng sản xuất nông
nghiệp cũng tương tự. Tốc độ tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp thập kỷ
60 đạt 4%/năm, thập niên 70 chỉ còn 1,01%/năm và thập niên 80 còn
1,08%/năm, cả hai nước từ chỗ xuất khẩu nông sản trở thành nước nhập
khẩu lớn [ 23, 119 - 120 ].
Như trên đã chỉ rõ, giá cả thị trường là tín hiệu cho biết lợi ích của các
chủ thể tham gia trên thị trường thì cạnh tranh là con đường để thực hiện lợi
ích của họ. Cạnh tranh chính là hình thức các nhà sản xuất và lưu thông đấu
tranh với nhau để dành lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Xét theo
khía cạnh tích cực, thì đây là động cơ để các doanh nghiệp tìm kiếm các
biện pháp kinh tế mới, hiệu quả hơn nhằm giữ vững được vị trí trên thị




24

Điều đó có nghĩa là Đài Loan đã sử dụng 1% lượng thuốc trừ sâu của toàn
thế giới. Vào đầu thập kỷ 80 phân hoá học được sử dụng ở Hàn Quốc là
380kg cho mỗi ha đất canh tác trong một năm, gấp 6 lần so với Mỹ và gấp 3
lần mức sử dụng trung bình của thế giới. Việc lạm dụng quá mức thuốc trừ
sâu và phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp ở Đài Loan và Hàn Quốc
làm cho đất canh tác bị axít hoá, độ phì của đất bị suy giảm đã góp phần làm
cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng, các loại nông sản bị nhiễm độc và đe doạ
trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Môi trường đô thị ở những nước này
ngày càng bị suy thoái là nguyên nhân gây ra những căn bệnh nghề nghiệp
nguy hiểm. Ở Hàn Quốc trung bình cứ 11 người công nhân thì có 2,66
người bị mắc bệnh nghề nghiệp. Tỷ lệ này quá cao so với 0,61 người ở Nhật
Bản hoặc 0,93 người ở Singapore [ 23, 148-149 ].
Trong mối quan hệ giữa cạnh tranh với giá cả, cạnh tranh góp phần làm
cho giá cả thị trường sát với giá trị hàng hoá. Thông qua cạnh tranh, giá cả
không chỉ là công cụ để hạch toán, là cơ sở để mỗi chủ doanh nghiệp đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình, mà còn là đòn bẩy quan trọng để
phân phối tài nguyên, nguồn vốn, phân phối lại thu nhập, kích thích và điều
tiết các hoạt động kinh tế, từ đó tác động trở lại đối với quá trình sản xuất.
Song sự dắt dẫn tự phát của giá cả nhiều khi làm chuyển dịch tài nguyên,
nguồn vốn của đất nước, lại không hướng vào các mục tiêu phát triển, các
vấn đề chung của toàn xã hội như các mục tiêu phát triển về giáo dục, đào
tạo, y tế, văn hoá, xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng… Đây là những điều
kiện không thể thiếu cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
cũng như cho sự tồn tại và phát triển của bản thân các đơn vị kinh tế trong
các lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Sự xuống cấp và bất cập của các mặt văn
hoá-xã hội, giáo dục, đào tạo khoa học-công nghệ trước yêu cầu của cách
mạng khoa học công nghệ hiện nay ở những nước công nghiệp mới trong

thiết yếu không có khả năng thanh toán, hàng hoá thừa ế, sản xuất lâm vào


26

khủng hoảng, nhà máy, xí nghiệp đóng cửa, người lao động mất việc làm và
trở nên thất nghiệp. Có thể nói, lạm phát đi đôi với khủng hoảng là những
hiện tượng có quan hệ nhân quả và hậu quả của những hiện tượng đó là thất
nghiệp và bần cùng cho người lao động. Ví dụ : gần đây dã chứng minh rõ
điều đó là cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Đông Nam Á.
Cuộc khủng hoảng này đã làm thất nghiệp gia tăng, lương thực tế của
người lao động ở thành thị giảm đáng kể. Lạm phát gia tăng làm cho việc
phân phối thu nhập trở nên khó khăn, tồi tệ hơn và làm giảm hơn nữa tiền
lương thực tế của nhóm người có thu nhập thấp. Hậu quả tiếp theo của cuộc
khủng hoảng là tỷ lệ nghèo đói tăng lên. Vào những năm 1996, tỷ lệ người
nghèo của Inđônêxia chiếm 11,3% dân số cả nước (tức bằng 22,5 triệu
người). Cho tới cuối năm 1998, tỷ lệ người nghèo ở đây đã tăng lên tới
48,2% (tức là khoảng 94 triệu người) và vào cuối năm 1999 tỷ lệ này là
66,3% (tức là khoảng 130 triệu người).
Ở Thái Lan tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ năm 1998 là 11%
vào năm 2000 tăng lên 17%. Ở Malaixia tình hình nghèo khổ diễn ra ít
nghiêm trọng hơn nhưng cũng vẫn tăng lên từ 6,8% năm 1997 lên 8% năm
1998, trong đó khu vực nông nghiệp chiếm 7,1% [ 1, 111-113 ].
Quá trình vận động và phát triển của kinh tế thị trường còn làm sống lại
và làm trầm trọng thêm các khuyết tật đã có từ thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa,
như những khuyết tật : nạn đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi và tình trạng
gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu làm rối loạn thị trường, bóp nghẹt
các ngành sản xuất trong nước và làm cho nền kinh tế đất nước ngày càng
phụ thuộc sâu vào thị trường bên ngoài.
Như vậy sự vận động của kinh tế thị trường, sự tác động lẫn nhau giữa

của dân tộc, bòn rút và làm cạn kiệt các nguồn lực phát triển của đất nước,
làm suy thoái môi trường.


28

- Cơ chế thị trường cũng làm xuất hiện những hiệu ứng ngoài thị
trường như các chủ thể sản xuất kinh doanh không muốn đầu tư vào những
ngành rất cần cho xã hội như cơ sở hạ tầng, an ninh-quốc phòng, cứu hộ,
cứu nạn… hoặc lợi ích của chủ thể này làm tổn hại không thể bù đắp đối với
chủ thể khác : ô nhiễm môi sinh, cạn kiệt tài nguyên, đe doạ công ăn việc
làm, thu nhập của các chủ thể khác…
- Với mục tiêu kinh tế là trên hết và xem nhẹ mục tiêu xã hội, văn hoá,
y tế… nên sự tác động của kinh tế thị trường đã dẫn đến tình trạng phát triển
không đều giữa các ngành, các vùng, các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã
hội, đất nước rơi vào tình trạng : cơ cấu kinh tế-xã hội què quặt, lệ thuộc,
không tạo ra được những tiền đề và điều kiện cho đất nước phát triển toàn
diện.
- Kinh tế thị trường còn là miếng đất làm phục hồi và phát triển các tệ
nạn xã hội xuất hiện từ các giai đoạn trước đó trong sự phát triển kinh tế-xã
hội như : đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, tham nhũng, hối lộ, trốn thuế,
buôn lậu, gian lận thương mại…
- Sự điều tiết của kinh tế thị trường trong nhiều trường hợp có thể làm
tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát và khủng hoảng kinh tế.
1.2. Tác động của những khuyết tật kinh tế thị trường đến quốc
phòng-an ninh ở Việt Nam
1.2.1. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường với củng cố
quốc phòng-an ninh ở Việt Nam
Phát triển kinh tế và quốc phòng-an ninh là những lĩnh vực hoạt động
khác nhau. Song phát triển kinh tế và quốc phòng-an ninh lại có mối quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status