BÀI THU HOẠCH CHÍNH TRỊ TẠI CHỨC
KINH TẾ TRI THỨC VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ
ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH NƯỚC TA
HIỆN NAY
KINH TẾ TRI THỨC VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH NƯỚC TA HIỆN NAY
Kinh tế tri thức mới xuất hiện cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại của những thập niên gần đây. Sự ra đời và phát
triển kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ đến mội quốc gia dân tộc, mọi hoạt động
xã hội. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta gắn liền với sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân đang phải đối mặt trực tiếp với những thuận lợi và khó khăn
của sự phát triển kinh tế tri thức. Nghiên cứu kinh tế tri thức và tác động của nó
đói với quốc phòng – an ninh nước ta hiện nay có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và
thực tiễn.
Sự xuất hiện nền kinh tế tri thức đánh dấu bước nhảy vọt về chất của lực
lượng sản xuất. Bước nhẩy vọt về chất này biểu hiện ở việc tri thức khoa học
xâm nhập sâu sắc vào mọi lĩnh vực, quy trình sản xuất, cách mạng hoá lực lượng
sản xuất. Tri thức trở thành đối tượng khai thác của nền kinh tế. Với một quốc
gia, một dân tộc mà khai thác được nhiều tri thức, trí tuệ thì có lợi thế trong cạnh
tranh về kinh tế, tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế tri thức, khoa học xâm
nhập vào quy trình sản xuất, tạo ra sự hợp lý tối đa của công tác tổ chức sản
xuất. Sự hợp lý này, cho phép hạn chế thấp nhất sức lao động thừa của con
người, công suất của máy móc trong sản xuất. Điều đó không chỉ trong một chu
trình sản xuất, mà còn trong toàn xã hội, cả thế giới Sự hợp lý này là thước đo
của trình độ phân công lao động xã hội ở trình độ cao. Kinh tế tri thức còn làm
cho giá trị hàng hoá được đo chủ yếu bằng chất sám.
Trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển, Việt Nam trên con đường tiến lên
công nghệ cao
Nền kinh tế tri thức phát triển đã đem lại những kỳ diệu trong lĩnh vực
khoa học, chứng minh trình độ nhận thức, khả năng chinh phục tự nhiên của con
người là vô cùng to lớn. Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học hiện đại, kinh
tế tri thức được áp dụng trước hết vào lĩnh vực quân sự. Hàng loạt các loại vũ khí
tối tân, hiện đại ra đời khẳng định khả năng huỷ diệt đối phương vô cùng lớn.
Các thế hệ vũ khí hiện đại liên tiếp thay thế nhau một cách công khai. Các nước
lớn trên thế giới muốn khẳng định thế mạnh của mình thông qua việc chinh phục
vũ trụ. Chỉ thông qua Trung Quốc thực hiện thành công phóng tầu vũ trụ có
người lái Thần Châu V và VI đã làm cho Mỹ và Nga phải thay đổi chiến lược bố
3
phòng. Trên bầu trời gần như dầy đặc những trang bị phục vụ cho thăm dò, do
thám lẫn nhau, đe doạ nhau. Trên mặt đất, các nước cũng phải liên tục xây dựng,
bố phòng, luyện quân …thể hiện sức mạnh trong phòng thủ đất nước. Trên biển
tưởng như là tĩnh lặng, nhưng bên dưới các nước lớn cũng đang có những con
tầu ngầm thi nhau về tốc độ, trình độ lặn dài hơi và phát huy khả năng công
dụng. Toàn bộ những cái đó, chứng minh kinh tế tri thức làm cách mạng hoá vũ
khí trang bị quân sự nhanh chóng. Hậu quả của sự ra đời liên tiếp các thế hệ mới
về cũ khí trang bị ở các nước lớn đã tác đông sâu sắc đến phòng thủ, xây dựng
nền quốc phòng, an ninh ở nước ta.
Một vấn đề đặt ra là, với cơ bản vũ khí hiện có làm thế nào có thể bảo vệ
vững chắc Tổ quốc trong điều kiện có những đặc điểm mới và phải sẵn sàng đối
phó thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược vũ khí công nghệ cao của chủ nghĩa đế
quốc. Như vậy, xây dựng nền quốc phòng ở nước ta hiện nay phải hoàn thiện
khu vực phòng thủ; phát triển chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân; Phải
xây dựng quân theo mô thức là lực lượng nòng cốt, thực hiện tốt chức nằng của
đội quân công tác, tuyên truyền. Bên cạnh phải có chiến lược phát triển vũ khí
mạnh, tâm lý bền vững mà còn phải giàu chất trí tuệ, hiểu biết sâu sắc tri thức
khoa học, nghệ thuật quân sự hiện cảnh, có khả năng làm chủ vũ khí trang bị
hiện đại, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
trong điều kiện chiến trang hiện đại, kẻ thù sử dụng vũ khí công nghệ cao. V.I.
Lênin từng chỉ rõ: Cuộc chiến tranh hiện đại đòi hỏi phải có con người có chất
lượng cao cũng như cần phải có kỹ thuật hiện đại.
Phát triển kinh tế tri thức tạo ra nguồn nhân lực bậc cao dồi dào, nghĩa là
nguồn nhân lực có tri thức cao, làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại, tư duy
năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì sự phồn vinh của đất nước. Theo đó,
quân đội có điều kiện tuyển chọn nguồn nhân lực này cho phù hợp với hoạt động
đặc thù quân sự.
Quá trình phát triển kinh tế tri thức, khoảng cách phát triển giữa nước ta
với khu vực và thế giới được thu hẹp, sản phẩm hàng hoá và nền kinh tế đất
nước ngày càng có ưu thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế, đời sống của
5
con người lao động không ngừng được cải thiện và nâng cao. Những chuyển
biến tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến
đời sống vật chất, tinh thần của quân nhân và gia đình họ. Điều đó, có sức mạnh
thuyết phục, cổ vũ to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội; làm tăng thêm
lòng tin, sự gắn bó với Đảng, với chế độ, nhiệt tình và trách nhiệm cao trong
thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ lúc thời bình cũng như thời chiến tranh;
tích cực xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt. Như vậy, phát triển kinh tế
tri thức vừa trực tiếp, vừa gián tiếp chi phối đến chất lượng và số lượng nguồn
nhân lực cung cấp cho quốc phòng- an ninh và quân đội, góp phần nâng cao sức
mạnh nền quốc phòng - an ninh , chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến
đấu và chiến đấu của quân đội.
Thứ ba, kinh tế tri thức làm cho khoa học - kỹ thuật quân sự đáp ứng
giới , tạo ra những biến đổi cơ bản trong nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa
học - công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng đời sống của bộ đội và nhân dân.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho công tác quản
lý, chỉ huy bộ đội, quản lý vũ khí, khí tài và các phương tiện kỹ thuật quân sự đạt
chất lượng và hiệu quả cao hơn. Kinh tế tri thức phát triển, cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội từng bước được xây dựng theo hướng hiện đại và đồng bộ, hệ thống bưu
chính viễn thông không ngừng phát triển, mạnh Intểnt được sử dụng rộng trong
đời sống kinh tế - xã hội. Hệ thống giao thông vận tải: đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ, đường không được mở rộng, có sự liên kết chặt chẽ các vùng miền
của đất nước cũng như các nước trong khi vực và thế giới. Cơ sở hạ tầng xã hội
như: y tế, văn hoá, các trung tâm giáo dục - đào tạo, các viện nghiên cứu khoa
học, các khu công nghệ cao cũng từng bước phát triển. Toàn bộ hệ thống cơ sở
hạ tần kinh tế - xã hội đó vùa thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế tri thức, vừa
phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và xây dựng quân đội trong thời
bình và cả trong thời chiến.
Thứ tư, kinh tế tri thức tác động đến xây dựng nền công nghiệp quốc
phòng hiện đại.
Sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và xây
dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đặt
ra nhu cầu cần phải được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật công nghệ cao.
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta sẽ tạo cơ hội thuận lợi để xây dựng một nền
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 119.
7
công nghiệp quốc phòng hiện đại, đáp ứng yêu cầu đó, đồng thời phục vụ trực
tiếp cho nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng quân đội;
Phát triển kinh tế tri thức, khoảng cách thu nhập giữa những người giàu và
người nghèo trong xã hội ta ngày càng tăng lên. Xu thế phân hoá giàu nghèo và
tính chất khá phức tạp của cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi, sẽ tác động đến nhận
thức, tư tưởng, lối sống trong nhân dân cũng như trong quân đội. Hàng năm, có
một lực lượng lớn thanh niên thuộc nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội nhập ngũ,
phục vụ trong quân đội. Về mặt tâm lý, tình cảm, nhận thức chính trị cũng như
hành động cách mạng trong lực lượng thanh niên này có sự khác biệt không nhỏ,
gây nhiều khó khăn và ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xây dựng quân đội về
chính trị. Mặt khác, sự phân hoá trên cũng ảnh hưởng xấu đến xây dựng kỷ luật
tự giác nghiêm minh, xây dựng niềm tin và ý trí sắt đá của cán bộ, chiến sĩ trong
quân đội. Thực trạng đó tác động bất lợi đến sức mạnh chiến đấu và khả năng
hoàn thành nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới.
Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học có thể làm gia tăng sự mất ổn định về an ninh của đất
nước, đặt quân đội trước nhiệm vụ phức tạp hơn.
Bởi vì, nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, các hình thức quảng
bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm, giao dịch mua - bán, kinh doanh trên
mạng diễn ra ngày càng phổ biến hơn. Đây là mặt tích cực, song cũng là điều
kiện cho kẻ xấu lợi dụng kỹ thuật cao để kiếm lợi bất chính, lừa đảo khách
hàng bằng cách bán hàng xấu, hàng giả; lập các công ty ma để ky kết hợp
đồng kiếm lợi của đối tác, bạn hàng; hoặc chúng còn vượt qua “hàng rào” bảo
vệ, hệ thống mật của máy tính cá nhân, máy chủ của các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế để lấy cắp tư liệu và tiền bạc. Từ đó đặt an ninh kinh tế đứng
trước những thách thức và khó khăn mới.
Mạng Internet trải rộng khắp toàn cầu, nó chứa đựng một khối lượng tri
thức khổng lồ và đa dạng, ngoài dung lượng lớn về thông tin hữu ích còn xuất
hiện nhiều thông tin xấu độc, nhiều trò chơi, phim ảnh bạo lực, đồi truỵ( sex
games) gây tác hại không nhỏ đến đạo đức, lối sống, tư tưởng của nhân dân và
cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.
từ đó lệ thuộc vào chính trị; lôi cuốn nước ta vào vòng xoáy của chủ nghĩa tư bản,
Thời gian qua, chúng ta đã phát hiện có trường hợp gián điệp nước ngoài lợi dụng
hình thức hợp tác khoa học- công nghệ, hợp tác kinh tế, hoặc giả danh nhà khoa học
tham gia các cuộc hội thảo khoa học nhằm khai thác thông tin, tài liệu mật của ta
10
phục vụ cho lợi ích của chúng. Do vậy, phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế tri thức với củng cố quốc phòng - an
ninh và xây dựng quân đội; kết hợp giữa lợi ích kinh tế từng doanh nghiệp, từng địa
phương với lợi ích của cả quốc gia, không chủ quan, ảo tưởng.
Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế những khó khăn, thách thức
của quá trình phát triển kinh tế tri thức đến củng cố quốc phòng – an ninh và xây
dựng quân đội trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ và có hiệu quả
các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, kịp thời bắt nhịp với mỗi bước tiến của kinh tế tri thức để có phương
hướng, biện pháp phù hợp trong xây dựng và phát triển nền quốc phòng ở nươc ta
hiện nay. thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về sự kết hợp giữa phát triển kinh
tế tri thức với củng cố quốc phòng – an ninh và xây dựng quân đội trong thời kỳ
mới. Bởi vì, kinh tế tri thức còn là vấn đề mới mẻ, không phải tất cả mọi người,
mọi tổ chức trong xã hội đều nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nó, cũng như mối
quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế tri thức với quốc phòng – an ninh và xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại. Vì vậy, phải tuyên truyền, giáo dục thường xuyên, sâu rộng, nhằm tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức tư tưởng và hành động, tạo ra sự đồng
thuận cao trong toàn xã hội.
Hai là, Chủ động xây dựng chiến lược, lộ trình phát triển kinh tế tri thức
gắn với chiến lược quốc phòng – an ninh và xây dựng quân đội, giải phóng mọi
năng lực sản xuất và sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong phát triển kinh
hoạch phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, thẩm định các dự
án đầu tư trong và ngoài nước. Đồng thời, tích cực tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất
nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức; tích cực tham gia sản xuất, kinh doanh ở
các lĩnh vực công nghệ cao nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách quốc phòng.
Kết luận. kinh tế tri thức là vấn đề mới mẻ. Việc nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc vấn đề
này có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần giải đáp những vướng mắc trong nhận thức và
hành động trước một số vấn đề về kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay. Phát triển kinh tế tri
thức tất yếu tác động đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó có quốc
phòng – an ninh và quân đội. Sự tác động của quá trình phát triển kinh tế tri thức đến củng
cố quốc phòng – an ninh và xây dựng quân đội diễn ra nhiều chiều, cả tác động tích cực và
tác động tiêu cực, cả thuận lợi và khó khăn, thách thức”
12
13