Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Đức Sơn

TRANH KỸ THUẬT SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 62 21 01 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2015


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. Nguyễn Xuân Thành

Phản biện 1: PGS. Lê Anh Vân
Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Phản biện 2: PGS. TS. Lê Bá Dũng
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Phản biện 3: TS. Đinh Hồng Hải
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

và xem xét tranh KTS theo quan điểm: nghệ thuật học, mỹ thuật học,
ký hiệu học nghệ thuật, cấu trúc văn bản nghệ thuật… nhằm đúc kết
thành một công trình mang tính khoa học là rất cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn nêu trên, tác giả mạnh dạn chọn
đề tài Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay. Đề tài nghiên cứu
muốn đề cập đến thực trạng, xu hướng phát triển của tranh KTS ở
Việt Nam. Đồng thời phân tích, tổng hợp và lý giải những vấn đề
liên quan đến tranh KTS ở Việt Nam hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài
Trên thế giới, công trình nghiên cứu The digital computer as a
creative medium nghiên cứu việc sử dụng máy vi tính trong thực
hành nghệ thuật như là một phương tiện sáng tạo nghệ thuật. Frank
Dietrick trong nghiên cứu Visual Intelligence: The first Decade of
Computer Art (1965 - 1975) bàn về sự phát triển của nghệ thuật đồ
họa vi tính trong những năm thập niên 60 của thế kỷ XX. Công trình


2

nghiên cứu Media Aesthetics - Aesthetics Theory của Herber T. Zettl
đưa ra những ứng dụng thẩm mỹ trên các phương tiện truyền thông,
và những lý thuyết quan trọng nhằm phân tích tính thẩm mỹ của các
tác phẩm nghệ thuật KTS. Herbert W. Franke Leonardo trong nghiên
cứu The New Visual Age: The Influence of Computer Graphics on
Art and Society đề cập đến những ảnh hưởng của đồ họa vi tính trong
nghệ thuật và xã hội vào thời điểm những năm thập niên 80 của thế
kỷ XX, đưa ra những lập luận về sự phát triển trong lĩnh vực CNTT
đã và đang làm cho nghệ thuật KTS thâm nhập ngày càng sâu rộng
hơn vào giới nghệ sĩ chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư trong xã
hội. Công trình nghiên cứu Visual Literacy Theory của Paul Messaris

động độc lập rời rạc được tách ra từ các loại hình nghệ thuật khác.
Mà nó chính là một phương pháp tiếp cận và có thể liên quan đến tất
cả các phương thức liên kết với các dạng thực hành nghệ thuật khác.
Ở Việt Nam, tài liệu của tác giả Đỗ Trung Tuấn Giới thiệu về
Đa phương tiện (ĐPT) có bàn về Multimedia giới thiệu khái quát về
Multimedia, mô tả các dạng của Multimedia, trong đó đề cập về các
tình huống dùng Multimeida, những vấn đề liên quan đến bản quyền
trong công nghiệp Multimedia. Tài liệu dịch của tác giả Cao Thụy và
Cao Bình về Multimedia và thế giới ảo giới thiệu khái quát về nghệ
thuật truyền thông ĐPT và những kiến thức cơ bản về thế giới ảo
cũng như những ứng dụng của Multimedia trong giáo dục. Tác giả
Mai Thanh Long và Nguyễn Thanh Tùng cũng có sách Ngành mỹ
thuật ĐPT đề cập và mô tả ngành mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam ở mức
độ nêu vấn đề, liệt kê và giải thích những kiến thức phổ thông trong
lĩnh vực mỹ thuật ĐPT. Luận văn Thạc sĩ của tác giả luận án nghiên
cứu đặc trưng của mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam trong kỷ nguyên KTS.
Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện một số bài viết nghiên cứu về mỹ
thuật ĐPT và hội họa KTS ở Việt Nam: bài nghiên cứu Thiết kế đồ
họa – Giảng dạy thiết kế đồ họa trong kỷ nguyên KTS đề cập đến
thiết kế đồ họa của Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI. Các bài viết:
Giảng dạy Mỹ thuật truyền thông ĐPT ở Việt Nam trong Kỷ nguyên
KTS; Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo Thiết kế mỹ
thuật ĐPT ở Việt Nam hiện nay; Một số vấn đề về ứng dụng Công
nghệ KTS trong Công nghệ dạy và học thiết kế ở Việt Nam hiện nay
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giảng dạy nghệ thuật ĐPT ở Việt


4

Nam trong kỷ nguyên KTS. Thực trạng và giải pháp để phát triển đội



5

cũng đóng góp một số lý luận mang tính ứng dụng và thực tiễn phục
vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập mỹ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tranh KTS ở Việt Nam hiện nay. Phạm
vi nghiên cứu: Nghiên cứu từ năm 2000 đến nay; tập trung nghiên
cứu ở hai trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam
là Hà Nội và TP. HCM.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở mỹ thuật học, thông qua nghiên
cứu đa ngành, liên ngành như: văn hóa, lịch sử, khoa học, nghệ thuật,
mỹ thuật… Quá trình nghiên cứu của luận án thông qua các phương
pháp chủ yếu như: nghiên cứu văn bản, tài liệu; nghiên cứu thực tế
và điền dã; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn giải; phương pháp
lịch sử; nghiên cứu khảo sát; thể nghiệm.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Ngày nay, khi họa sĩ sử dụng máy tính như là một phương tiện,
công cụ để hỗ trợ sáng tác nghệ thuật, đã làm nảy sinh vấn đề rằng
liệu tranh KTS có phải là nghệ thuật hay không? Giả thiết rằng nếu
tranh KTS cũng được coi là một dạng nghệ thuật, vậy thì đặc trưng
của nó là gì? Hơn thế nữa, CNTT hiện nay đang phát triển rất nhanh
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nó đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội trong đó có nghệ thuật. Giả thiết rằng ở Việt
Nam hiện nay có nhiều người vẽ tranh KTS, vậy tranh KTS ở Việt
Nam có những khuynh hướng sáng tác và đặc trưng nào? Những
phương thức vẽ nào có thể làm cho tranh KTS trở nên sống động

Việt Nam hiện nay (31 trang).
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM
1.1. Khái lược về tranh KTS
Các nghệ sĩ trên thế giới bắt đầu sử dụng công nghệ để tạo ra
nghệ thuật KTS vào năm 1960. Khoảng nửa sau của thế kỷ XX và
đặc biệt là trong mười năm đầu của thế kỷ XXI, nghệ thuật KTS phát
triển rất nhanh và thực sự trở thành một phương tiện được nhiều
người trên thế giới biết tới, đặc biệt là giới họa sĩ.


7

1.1.1. Khái niệm Tranh kỹ thuật số
Digital painting (tranh KTS) là hình thức nghệ thuật dùng kỹ
thuật vẽ giống như trong hội họa giá vẽ. Những kỹ thuật này được áp
dụng với các công cụ vẽ KTS nhằm tạo ra tác phẩm một cách trực
tiếp trên máy tính. Hình ảnh tác phẩm có thể được lưu trữ dưới dạng
băng từ hoặc KTS.
Về công cụ và phương tiện biểu đạt: phần mềm hỗ trợ vẽ KTS
cung cấp cho họa sĩ nhiều kiểu cọ vẽ, màu vẽ và hiệu ứng vẽ khác
nhau; về chất lượng và nội dung của tác phẩm: tương tự như hội họa
giá vẽ truyền thống, tác phẩm hoàn thiện mới thực sự quan trọng; về
bản chất: có thể nói tranh KTS là một thể loại của hội họa giá vẽ
truyền thống; về mặt cảm thụ: tác phẩm được xem thông qua màn
hình máy tính hoặc được kết xuất ra bằng phương pháp in KTS trên
một chất liệu như giấy hoặc vải... Ngày nay, phần lớn họa sĩ kết hợp
kỹ thuật và chất liệu của hội họa giá vẽ với KTS trong tác phẩm của
mình, hình thành nên một dạng tranh tổng hợp: Tradigital Art.
1.1.2. Đặc trưng của tranh KTS

phẩm và họ có thể quay trở lại để vẽ hoàn tất tác phẩm.
1.1.2.4. Đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình các yếu tố thị giác
Một số đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình trong tranh KTS: tỷ lệ
của không gian thao tác; ánh sáng và màu sắc KTS; điểm ảnh KTS;
bố cục thường dùng dạng lưới (grid); ngoài không gian truyền thống
(dài, rộng, sâu) còn có chiều thời gian và chiều tương tác; đặc trưng
về định dạng và độ phân giải của tranh KTS; đặc trưng hình ảnh KTS
(vector và bitmap). Ngoài những đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình,
tranh KTS còn có những đặc trưng khác liên quan đến kỹ thuật và
công nghệ: chất lượng tác phẩm phụ thuộc vào thiết bị kết xuất; thiết
bị hiển thị màn hình; độ phân giải màn hình; độ phân giải hình ảnh;
độ phân giải kết xuất; định dạng hình ảnh; mô hình màu sắc để xây
dựng tác phẩm; thiết lập tùy biến trên thiết bị người sử dụng...
1.1.2.5. Đặc trưng về sự tương tác giữa họa sĩ và máy tính
Đặc trưng chủ yếu của tranh KTS chính là “sự giao tiếp” của
họa sĩ với tác phẩm của mình. Thông qua thiết bị màn hình trung
gian với một giao diện người dùng. Hình thức giao tiếp giữa họa sĩ
và máy vi tính là quá trình tương tác hai chiều trong quá trình vẽ: từ


9

máy tính tới họa sĩ và từ họa sĩ tới máy vi tính; Ngoài ra, trong lĩnh
vực nghệ thuật KTS còn có sự tương tác qua lại giữa người xem
(công chúng) với tác phẩm.
1.2. Sự hình thành nghệ thuật đa phương tiện và tranh kỹ
thuật số
1.2.1. Lược sử tranh kỹ thuật số trên thế giới
1.2.1.1. Sự xuất hiện của nghệ thuật đa phương tiện trên thế
giới

Robert Rauschenberg kêu gọi một số nghệ sĩ và kỹ sư công nghệ
thành lập một hiệp hội “hợp tác - phát triển giữa nghệ sĩ và kỹ sư”.
1.2.1.3. Một số nghệ sĩ tiên phong trong lĩnh vực nghệ thuật kỹ
thuật số
Vera Molnar; Manfred Mohr; Larry Cuba; Lillian Schwartz;
Peter Mc Lane; Herbert Franke, Frieder Nake; George Nees; Harold
Cohen, Duane Palyka, Darcy Gerbarg, Colette; Charles Bangert… đã
đóng góp nhiều cho sự phát triển cuả nghệ thuật KTS thuở ban đầu.
1.2.2. Sự xuất hiện của nghệ thuật đa phương tiện dẫn đến sự
hình thành và phát triển tranh kỹ thuật số ở Việt Nam
Sự phát triển của CNTT có ảnh hưởng đến lớn nghệ thuật. Ở
Việt Nam dần xuất hiện nghệ thuật ĐPT.
1.2.2.1. Sự xuất hiện của nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam
Trong lĩnh vực mỹ thuật hình thành một đội ngũ “hoạ sĩ số”.
Nhiều cơ sở đào tạo nghệ thuật ĐPT trong nước ra đời là kết quả tất
yếu của sự vận động và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường
nghệ thuật ĐPT: khoa thiết kế Mỹ thuật truyền thông ĐPT của
trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai (2002). Đại học Mỹ
thuật Việt Nam đã có sự kết hợp giữa đồ họa tạo hình và đồ họa ứng
dụng trong sự giao thoa và cộng hưởng của nghệ thuật tạo hình và
thiết kế. Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh cũng đã mở ra một
hướng đào tạo nghệ thuật ĐPT bằng cách kết hợp giữa đồ họa tạo
hình và đồ họa ứng dụng, đưa những học phần minh họa KTS vào
giảng dạy trong chương trình của khoa Đồ họa và Mỹ thuật ứng
dụng. Ngoài ra, cũng có một số cơ sở đào tạo mỹ thuật và mỹ thuật
công nghiệp như: Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, Đại học
Nghệ thuật Huế, Đại học Kiến trúc TP. HCM... Bên cạnh hệ thống
các cơ sở đào tạo công lập, ở Việt Nam còn xuất hiện các cơ sở đào



phát triển cuả nghệ thuật vi tính trên thế giới thuở mới hình thành.
Các nghệ sĩ Việt Nam lĩnh hội và phát triển nghệ thuật ĐPT
thành một trong những lĩnh vực sôi động nhất trong nền văn hóa


12

nghệ thuật hiện nay. Sự xuất hiện của nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam
chủ yếu được đánh dấu bằng sự ra đời của những trường cao đẳng,
đại học chuyên đào tạo nghệ thuật và các cơ sở liên kết đào tạo với
nước ngoài. Hiện nay, đã hình thành một thế hệ họa sĩ KTS trẻ năng
động. Những hoạt động nghệ thuật KTS của họ đã và đang góp phần
xây dựng nền nghệ thuật Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên KTS.
Chương 2
ĐẶC TRƯNG CỦA TRANH KTS Ở VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm tranh KTS ở Việt Nam
2.1.1. Khái quát nghệ thuật KTS ở Việt Nam và một số nước
trong khu vực
Hoạt động nghệ thuật và triển lãm ở Việt Nam gần đây đã bắt
đầu có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều thể loại tác phẩm, nhiều
khuynh hướng sáng tác và cách tân nghệ thuật. Tuy nhiên, sự phát
triển của nghệ thuật KTS ở Việt Nam hiện nay vẫn còn manh mún,
bộc phát chưa có những chiến lược phát triển dài lâu. Cần có định
hướng phát triển nguồn nhân lực nghệ thuật KTS. Bên cạnh đó,
phương pháp sáng tác tranh KTS ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có
định hướng một cách rõ nét. Đa số chỉ là những thể nghiệm theo
nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Cần có một cơ chế, hệ
thống chính sách, chiến lược cho sự phát triển của nghệ thuật KTS
nhằm tạo môi trường thuận lợi để phát triển nghệ thuật KTS trong
nước và hội nhập cùng với các nước trong khu vực.

Nam chưa được chú trọng nhiều.
2.2. Khuynh hướng sáng tác tranh KTS ở Việt Nam
Tranh KTS ở Việt Nam hiện nay chứa đựng nhiều hướng cách
tân nghệ thuật. Xuất hiện các khuynh hướng sáng tác và tìm tòi thử
nghiệm của họa sĩ KTS ở Việt Nam hiện nay: Hiện thực; Ấn tượng;
Lập thể; Siêu thực; Trừu tượng, Pop art…
2.2.1. Khuynh hướng hiện thực
Nhiều họa sĩ KTS Việt Nam lấy hiện thực xã hội và những vấn
đề có thực của cuộc sống làm đối tượng sáng tác nhằm cung cấp cho
công chúng thưởng thức những bức tranh chân thực, sống động, quen
thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh...
2.2.2. Khuynh hướng Ấn tượng


14

Tranh KTS được nhiều họa sĩ Việt vẽ rất nhanh nhằm ghi lại
một cách tổng quan khung cảnh hoặc nhân vật cần diễn đạt và nó
được thể hiện một góc nhìn mới. Các họa sĩ thường chọn chủ đề về
cuộc sống đương thời và luôn được vẽ với tông màu sáng dịu và tinh
khiết…
2.2.3. Khuynh hướng lập thể
Một số họa sĩ thường bóp méo và làm biến dạng các nhân vật và
các hình thức trong thế giới tự nhiên; hình thể được bố cục chồng
chéo, đan xen nhau; không gian của tác phẩm được thể hiện đồng
thời tại nhiều thời điểm khác nhau với các góc nhìn khác nhau…
2.2.4. Khuynh hướng siêu thực
Nhiều họa sĩ KTS cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách diễn đạt
các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ. Họ
thường theo đuổi những chủ thể rất bình dị đặt trong một bối cảnh bí

Hai là, bố cục tạo hình các yếu tố thị giác trong tranh KTS ở
Việt Nam chủ yếu dàn hình và mảng trên mặt tranh, ít phô diễn nhiều
ảo giác ánh sáng và bóng tối. Cách biểu hiện vừa nhẹ nhàng, vừa tạo
nên sự tập trung thị giác vào nhân vật và điểm chính của bố cục để
rồi người xem tưởng tượng thêm những gì có thể có và cần thiết của
bối cảnh xung quanh. Chính điều này sẽ khuyến thích người xem
cùng sáng tạo với họa sĩ. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ nhiều khuynh
hướng sáng tác khác nhau nhưng lối bố cục trong tranh KTS của các
họa sĩ Việt Nam thường có không gian nhỏ, hẹp và khép kín.
Ba là, tranh KTS ở Việt Nam thường kết hợp ngôn ngữ của hội
họa với đồ họa làm mờ ranh giới giữa nghệ thuật và thiết kế. Đa số
họa sĩ KTS ở Việt Nam hiện nay đều hoạt động trong lĩnh vực thiết
kế. Họ dễ dàng đưa hội họa hiện đại vào tranh thông qua việc kết
hợp ngôn ngữ của hội họa với ngôn ngữ thiết kế.
Bốn là, mức độ cách điệu, cường điệu trong tạo hình tranh KTS
ở Việt Nam còn thấp, dè dặt và lệ thuộc nhiều vào cái thực. Hình
tượng nhân vật của tranh KTS ở Việt Nam vẫn còn ở mức chung
chung và bị ảnh hưởng nhiều bởi lối tạo hình lai tạo, ghép nhặt từ
nhiều nơi.
Năm là, mức độ ứng dụng công nghệ KTS trong tạo hình tranh
KTS còn thấp và chưa chuyên nghiệp. Họa sĩ KTS ở Việt Nam
thường hay lạm dụng những lệnh vẽ đã được xây dựng sẵn trong các


16

phần mềm nên thường tạo nên những hình ảnh chuyển động múa
may với quá nhiều ảo giác của nét và màu. Màu sắc và đường nét
chưa thực sự tiết giản để tác phẩm trở nên súc tích hơn.
Tiểu kết

Một là, về vai trò của công nghệ và chất liệu KTS trong tranh
KTS ở Việt Nam: thông qua sáng tạo, họa sĩ không ngừng thể
nghiệm, kết hợp những ưu điểm của các phương tiện truyền thống
bằng cách bổ sung vào đó những tính năng nổi trội của KTS. Trên
thực tế, yếu tố thẩm mỹ của tranh KTS nằm ở hình ảnh cuối cùng, và
các công nghệ KTS được sử dụng để tạo ra hình ảnh chỉ đơn giản là
một công cụ, cũng giống như cọ vẽ sơn dầu trong hội họa giá vẽ.
Họa sĩ KTS sử dụng máy tính như là một công cụ biểu đạt nhằm đạt
được hiệu quả thị giác như mong muốn. Họ không sử dụng các phần
mềm như một phương thức thay thế cho phương tiện truyền thống
mà là sự bổ sung trong phương thức biểu đạt tác phẩm.
Hai là, về công chúng và cách tiếp nhận tranh KTS ở Việt Nam:
tranh KTS được giới thiệu đến công chúng theo những cách thức
mới. Người xem có thể thưởng thức tác phẩm thông qua kết nối
Internet, qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các dạng ấn
phẩm...
Ba là, về họa sĩ KTS ở Việt Nam: Ở Việt Nam hiện nay, bên
cạnh những họa sĩ KTS trẻ năng động, sáng tạo và có tay nghề vững,
cũng đang có nguy cơ hình thành một thế hệ họa sĩ bị số hoá, với
những tác phẩm khô khan, thiếu cảm xúc sáng tạo… Bên cạnh đó,
vẫn còn một số họa sĩ chưa tiếp xúc nhiều với thế giới nghệ thuật
KTS, chưa thấy sự đa dạng của các hình thức nghệ thuật và gắn liền
với nó là sự đa dạng của quan điểm và phương pháp sáng tác...
3.1.2. Về định hình phong cách sáng tác
Hiện nay, những tác phẩm KTS ở Việt Nam có nội dung và
hình thức biểu đạt đa dạng và phong phú. Những phong cách quốc tế
cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến tác phẩm sáng tác. Sự lai tạp phong
cách hiện nay cũng là điều đáng lo ngại… Hiện nay, điểm hạn chế
nhất của phần lớn họa sĩ KTS trẻ là họ thiếu một nền tảng vững chắc
về nghệ thuật. Một số “nghệ sĩ” sùng ngoại đã bị “hòa tan” khi hội

cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc sử dụng
internet như là một công cụ để học tập và sáng tạo. Về vấn đề bản
quyền tác giả KTS: những kiến thức số hóa thông tin bản quyền tác
giả cần được họa sĩ KTS hiểu biết và tôn trọng khi đưa tác phẩm của
mình vào thị trường hoặc “lưu thông” trên internet.
3.2.2. Ứng dụng phần mềm trong tạo hình tranh kỹ thuật số


19

Corel Painter và Adobe Photoshop thường được sử dụng tích
hợp với nhau, luôn có sự chuyển đổi qua lại giữa chúng trong quá
trình thể hiện tranh KTS. Việc sử dụng tích hợp nhiều phần mềm
cùng lúc sẽ cho phép họa sĩ khai thác tối đa sức mạnh của công nghệ
KTS. Hiện nay có hai khuynh hướng ứng dụng phần mềm vẽ tranh
KTS: phác thảo tìm ý và vẽ trực tiếp bằng máy tính; ứng dụng tính
năng nhân bản (stamp clone). Tuy nhiên, họa sĩ KTS cần vận dụng
những kiến thức về nguyên lý thị giác, nguyên lý sáng tạo, kiến thức
về nghệ thuật học… đồng thời kết hợp tốt giữa kỹ năng kỹ xảo bằng
tay với sự trợ giúp của máy tính, để tránh được tính khô khan, máy
móc trong tranh KTS.
3.2.3. Tạo hình nghệ thuật Tradigital bằng chất liệu tổng hợp
Xu hướng sáng tác hiện nay là Tradigital art - kết hợp cả chất
liệu KTS với chất liệu của hội họa giá vẽ trong một tác phẩm. Đối
với Tradigital art, tác phẩm không phải là một hình ảnh hoàn toàn do
máy tính tạo ra, nhưng cũng không phải là một một tác phẩm cắt dán
tổng hợp. Hiện nay, họa sĩ sử dụng hình ảnh trong tranh KTS bằng
hai cách: sử dụng hình ảnh như là một tài liệu tham khảo; tích hợp
hình ảnh vào tác phẩm. Máy tính có thể liên kết các phương tiện
thành một nhằm tăng cường khả năng hiển thị về mặt thị giác cho tác

Việc tiếp thu có chọn lọc và phát triển những lý thuyết và kỹ thuật
trong nghệ thuật là cần thiết và là động lực để những họa sĩ trẻ Việt
Nam tự tin trên con đường nghệ thuật kỹ thuật số của mình, góp
phần vào nền văn hóa nghệ thuật của Việt Nam nói riêng và của nhân
loại nói chung.
KẾT LUẬN
Thông qua nghiên cứu chuyên sâu về tranh KTS ở Việt Nam
hiện nay, có thể đúc rút lại một số những luận điểm cơ bản như sau:
Một là, đề tài nghiên cứu đưa ra cách nhìn nhận có hệ thống từ
lý luận cho đến hoạt động thực tiễn nghệ thuật về đặc trưng ngôn
ngữ tạo hình cũng như những phương tiện biểu đạt tranh KTS ở Việt
Nam hiện nay. Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về lĩnh
vực nghệ thuật ĐPT trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng trên
thực tế vẫn chưa có những công trình nghiên cứu mang tính hệ
thống, chuyên sâu, tiếp cận liên ngành để đưa ra vấn đề về lý luận và


21

thực tiễn của tranh KTS ở Việt Nam hiện nay. Điểm mới của đề tài
chính là đã phân tích và lý giải những vấn đề thực tiễn dựa trên cơ sở
mỹ thuật học, thông qua nghiên cứu đa ngành, liên ngành như: văn
hóa, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, mỹ thuật… nêu lên được những
đặc trưng ngôn ngữ tạo hình trong tranh KTS ở Việt Nam; làm rõ cấu
trúc nền tảng mỹ thuật và cơ sở tạo hình, cũng như bố cục và thủ
pháp tạo hình tranh KTS ở Việt Nam; làm rõ bản chất cũng như vai
trò của họa sĩ trong quá trình sáng tác và vẽ tranh KTS trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Đề
tài nghiên cứu cũng đã đề xuất những giải pháp tích cực từ việc phân
tích, tổng hợp trong thực tiễn nghệ thuật ở Việt Nam. Qua đó góp

ở Việt Nam được vẽ với lối tạo hình cách điệu nhẹ nhàng; bố cục chủ
yếu dàn hình và mảng trên mặt tranh, thường có không gian nhỏ, hẹp
và khép kín, phần hậu cảnh cũng thường được giản lược hóa. Tranh
KTS ở Việt Nam ảnh hưởng từ nhiều khuynh hướng sáng tác khác
nhau và thường kết hợp ngôn ngữ của hội họa với đồ họa; mức độ
cách điệu, cường điệu còn thấp, lệ thuộc nhiều vào cái thực; khả
năng ứng dụng công nghệ KTS trong tạo hình tranh KTS chưa cao và
chưa chuyên nghiệp.
Đặc trưng về thể loại và phương thức thể hiện tranh KTS: một
số những dạng thức mà họa sĩ KTS ở Việt Nam thường khai thác để
sáng tác hiện nay là: nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật minh họa, nghệ
thuật màn hình, hoạt hình, thiết kế không gian ảo 3 chiều, mỹ thuật ứng
dụng…
Đặc trưng về nội dung và đề tài sáng tác tranh TKS: nội dung đa
dạng và phong phú nhưng chưa thực sự đặc sắc. Chủ yếu bị ảnh
hưởng của những phong cách quốc tế. Một số ít họa sĩ KTS đã bắt
đầu tìm ra con đường riêng của mình trong những mảng đề tài mang
tính thời sự, sinh hoạt, triết lý nhân sinh, truyền thuyết lịch sử, văn
học…
Đặc trưng về đội ngũ họa sĩ KTS: đa số họa sĩ làm việc trong
lĩnh vực nghệ thuật ĐPT đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau: mỹ thuật
tạo hình, mỹ thuật ứng dụng,… Thành phần tham gia cũng rất đa
dạng: họa sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, sinh viên… hoặc những
người đam mê nghệ thuật KTS.
Đặc trưng trong hoạt động nghệ thuật KTS: số lượng triển lãm


23

nghệ thuật KTS hàng năm rất ít. Điều này có thể thấy được thông




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status