TRƯỜNG ĐẠI HỌC su ' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DUC TIỂU HOC
NGUYỄN THỊ TƯYÉT
HÌNH THÀNH MỘT SỐ THÓI QUEN
CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO TRẺ
LỚP 3 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON
HOA HỒNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
C huyên ngành: P h ư ơ n g pháp chăm sóc yệ sinh trẻ em
HÀ NỘI - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC su ' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIẾU HỌC
NGUYỄN THỊ TUYÉT
HÌNH THÀNH MỘT SỐ THÓI QUEN
CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO TRẺ
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “Hình thành một số thói quen chăm sóc bản thân
cho trẻ lóp 3 tuổi Trường Mầm non Hoa Hồng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc” là kết
quả mà em đã nghiên cứu qua đợt kiến tập hàng năm và đợt thực tập cuối năm.
Trong quá trình nghiên cứu em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cún,
một số tác giả khác. Tuy nhiên, đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần
tìm hiểu ở đề tài của mình. Đây là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn
không trùng với kết quả của các tác giả khác.
Em xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
2.2.3. Tiến hành trên lớp......................................................................................19
2.2.4. Tố chức luyện tập thường xuyên...............................................................19
2.3. Biện pháp hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ lớp
3 tuổi.................................................................................................................... 20
2.3.1. Biện pháp.................................................................................................... 20
2.3.2. Hoạt động hình thành các thói quen.........................................................21
CHƯƠNG 3. THỤC NGHIỆM s ư PHẠM CÁC BIỆN PHÁP RÈN
LUYỆN THÓI QUEN CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO TRẺ LỚP
3 TUỒI.........................................................................................................49
3.1. Mục đích thực nghiệm sư p h ạm ...............................................................49
3.2. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm..............................................49
3.3. Nội dung thực nghiệm.................................................................................. 49
3.4. Tiến hành thực nghiệm ..............................................................................50
3.4.1. Xác định yêu cầu cần đạt.........................................................................50
3.4.2. Chuân bị thực nghiêm............................................................................... 50
3.4.3. Tiến hành thực nghiêm.............................................................................. 50
3.4.4. Đảnh g iả .................................................................................................... 51
3.5. Ket quả thực nghiệm ..................................................................................51
3.5.1. Đánh giá lần 1: Hình thành thói quen rửa m ặt.....................................51
3.5.2. Đảnh giả lần 2: Hình thành thỏi quen rửa m ặt.....................................52
3.5.3. Đảnh giả lẩn 3: Hình thành thói quen rửa m ặt.....................................53
KẾT LUẬN.........................................................................................................55
PHỤ LỤC
TÀÍ LIẸU THAM KHĂO
DANH MỤC VIÉT TẮT
CSBT: Chăm sóc bản thân
ĐHSP: Đại học Sư phạm
huynh quan tâm chú ý.
1
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hình thành một
số thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ lớp 3 tuổi - Trường Mầm non Hoa Hồng
- Phúc Yên - Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích nghiên cứu
Rèn luyện khả năng tự chăm sóc bản thân cho trẻ nhằm nâng cao kĩ năng
sống cho trẻ mầm non nói chung, trẻ lớp 3 tuối nói riêng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cửu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Trẻ mầm non lóp 3 tuổi ở Trường Mầm non Hoa Hồng - Phúc Yên - Vĩnh
Phúc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động rèn luyện kĩ năng tự chăm sóc bản thân của trẻ mầm non lớp 3
tuổi.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở nghiên círu lý luận cho việc nghiên cún thực trạng, từ đó
đi đến việc xây dựng quy trình rèn luyện thói quen tự chăm sóc bản thân cho trẻ
mầm non, trong đó có trẻ lớp 3 tuổi.
- Nghiên cún thực trạng về việc rèn luyện thói quen tự chăm sóc bản thân
cho trẻ mầm non ở Trường Mầm non Hoa Hồng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
- Xây dựng quy trình hình thành thói quen tự chăm sóc bản thân và thực
nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của quy trình.
- Tổ chức cho trẻ thực hiện quy trình hình thành thói quen tự chăm sóc bản
thân và thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của quy
trình.
5. Giả thuyết khoa học
chuẩn ngày 2 - 9 - 1990. Các tư tưởng chỉ đạo của Công ước là “loài người
phải dành cho trẻ em nhũng gì tốt đẹp nhất mà mình có, những lợi ích của trẻ
em phải được quan tâm đầu tiên, phải chú ý và ưu tiên trẻ em trong mọi vấn đề
có liên quan”. Điều này đã cho thấy công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em,
điển hình là việc HTTQCSBT là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Với mục tiêu giáo dục trẻ em ở trường mầm non là giúp trẻ học cách sống
và hòa nhập với môi trường một cách tích cực, có hiệu quả. Thông qua các hoạt
động mà trẻ được tham gia, được tự mình chăm sóc bản thân, tự rút ra nhũng
kinh nghiệm cho bản thân. Trên thế giới đã có rất nhiều nước đưa hoạt động
CSBT vào chương trình giáo dục trẻ. Ớ các nước phát triến như Mỹ, Nhật Bản
hay một số nước khác đã đưa hoạt động CSBT vào hoạt động học để giúp trẻ
hình thành cho mình TQCSBT, đồng thời rèn luyện cho trẻ tính tự lập ngay từ
khi còn nhỏ. Ớ Nhật Bản việc thực hiện hoạt động giáo dục TỌCSBT cho trẻ
được coi như là hoạt động chủ đạo, việc trẻ tự làm mọi công việc như tự mặc
quần áo, tự đi dép, tự xúc cơm, rót nước, hay tự đánh răng, rửa mặt,... các thao
tác CSBT đối với trẻ là một công việc mà trẻ em ở Nhật Bản thực hiện rất
nhanh. Vì được thực hiên thường xuyên và vì trẻ đã được trang bị nền tảng kiến
thức về các thao tác thực hiện các thói quen CSBT nên việc tự CSBT đối với trẻ
Nhật Bản là công việc mà trẻ có vốn kinh nghiệm nhiều nhất.
4
1.1.2. Ở Việt Nam
Chăm sóc - giáo dục trẻ em ngay tù' những năm tháng đầu tiên của cuộc
sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự
nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người tương lai
của đất nước. Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ của giáo dục mầm non Việt Nam
hiện nay, với mục tiêu chủ yếu là phát triển năng lực chung cho trẻ, các hoạt
động giáo dục ở trường mầm non phải hướng tới việc dạy cho trẻ biết cách học
lượng não bộ tăng dần, mức độ tăng trưởng mạnh nhất là ở giai đoạn từ sơ sinh
đến 3 tuổi: Sơ sinh não bộ có trọng lượng là 380- 400g, 1 tuổi tăng 2 lần, 3 tuổi
tăng 3 lần, đến 6 tuổi não bộ của trẻ có trọng lượng là 1250g.
Cơ thể của trẻ 3 tuổi còn non nớt, nhạy cảm với tác động của thời tiết, dịch
bệnh, sức đề kháng của trẻ còn yếu. Do đó, trẻ hay bị mắc các bệnh thường gặp,
bệnh truyền nhiễm và một số bệnh khác. Trẻ dễ bị tai nạn và luôn cần sự giúp đỡ
của người lớn nhằm đảm bảo an toàn cho chúng. Khả năng vận động của trẻ
ngày càng khéo léo và thành thạo hơn. Trong mọi hoạt động trẻ đã biết phối họp
nhịp nhàng giữa vận động của tay với vận động của chân, trẻ đã biết quan sát và
có thao tác thích họp, chúng còn biết sử dụng sức mạnh tốt hơn và hiệu quả hơn
để đạt được mục tiêu [4].
• Hoạt động chủ đạo của trẻ 3 tuổi:
Hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non được thay đổi theo từng độ tuổi: Ở trẻ
hài nhi (2-15 tháng) hoạt động chủ đạo là giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người
lớn, đến tuổi ấu nhi (15-36 tháng) hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo,
vào tuổi mẫu giáo (3- 6 tuổi) hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo mà trung
tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Khi tham gia vào trò chơi đóng vai theo
chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyện vọng là sống và hoạt động như người lớn. Trò
chơi này mô phỏng lại hoạt động lao động của người lớn và những mối quan hệ
qua lại giũa họ trong xã hội. Qua trò chơi trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều có
nghĩa vụ và quyền lợi của mình.
Ở độ tuổi 3 tuổi, hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo
chủ đề là hoạt động chủ đạo. Tuy nhiên vì mới được chuyến sang vị trí chủ đạo
nên hoạt động vui chơi chưa đạt tới dạng chính thức mà chỉ ở dạng sơ khai của
6
nó. Chính vì vậy mà hoạt động vui chơi ở độ tuổi mẫu giáo bé có nhũng đặc
điểm sau:
ví dụ “bà bế” thì đến lúc này trẻ đã nói được câu đầy đủ hơn, ví dụ như “bà ơi bế
con với, con ăn cơm rồi ạ. .
Trẻ hay đặt các câu hỏi “tại sao?”, trẻ thường hay
hỏi “đây là cái gì, cái này dùng để làm gì?,..”. Ở độ tuổi này trẻ nói nhiều hơn và
từ ngữ của trẻ cũng phát triển hơn, vì thế từ xưa đã có câu nói “trẻ lên ba cả nhà
học nói”. Ớ các độ tuổi tiếp theo ngôn ngữ của trẻ dần hoàn thiện hơn, trẻ có
thể diễn đạt được những điều mà trẻ mong muốn, cấu trúc câu cũng trở nên
chính xác và hoàn thiện hơn.
•
Các quá trình tâm lý cùng các phẩm chất tâm lý cá nhân phát triển và
ngày càng hoàn thiện:
Trí tuệ và khả năng nhận thức của trẻ ngày càng phát triến. Trong cuộc
sống hàng ngày trẻ đã tiếp thu được một lượng tri thức đáng kể về thế giới xung
quanh do trẻ trục tiếp nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy hoặc là người lớn kể lại
qua các câu chuyện, phim ảnh. Đen tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước
ngoặt rất cơ bản, đó là việc chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang
kiểu tư duy trực quan - hình tượng.
Bước vào tuổi mẫu giáo, ý thức bản ngã được xác định rõ ràng cho phép trẻ
thực hiện các hành động một cách chủ tâm hon, nhò' đó các quá trình tâm lý
mang tính chủ định rõ rệt. Ớ trẻ 3 tuổi, “cái tôi” xuất hiện kèm theo “khủng
hoảng của tuổi lên ba” [7].
Trẻ mẫu giáo rất ham học hỏi, tìm tòi và có năng lực sáng tạo. Vì vậy giáo
viên cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhiều để giúp trẻ phát triển, cần tạo ra môi
trường phong phú và lành mạnh, kích thích trẻ tích cực hoạt động để giáo dục trí
tuệ cho trẻ [1].
1.2.2. Thói quen vệ sinh
sang ngày khác mà trở thành thói quen mà rất khó bỏ. Như vậy thói quen có thể
được hình thành theo chủ định hoặc ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày vì
ngày qua ngày cứ lặp đi lặp lại những hành động hay một lối sống nào đó. Điều
9
đó cho thấy để hình thành nên thói quen phải có điều kiện và sự lặp lại lâu ngày
một hành động hay lối sống nào đó của một cá nhân.
Từ những quan niệm trên, ta có thể kết luận: Thói quen là nhũng hành động
của cá nhân, đã được tự động một phần trên cơ sở hình thành các định hình động
lực bền vững (thực chất là các phản xạ có điều kiện) trên vỏ não nhờ quá trình
lặp lại thường xuyên có hệ thống. Thói quen có nội dung tâm lý ổn định bao
gồm hệ thống trật tự các thao tác hành vi họp lý, hệ thống thái độ tương ứng với
trật tụ’ thao tác hành vi và gắn liền với nhu cầu của cá nhân.
Thói quen được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, trong đó có con
đường tự phát. Thói quen mang tính chất nhu cầu, nếp sống của con người và có
tính bền vững cao, nó bắt rễ vào hoạt động và hành vi của con người sâu hơn.
Cho nên thay đổi, sửa chữa thói quen rất khó khăn.
1.2.2.2. Quỵ trình hình thành thóỉ quen
Việc hình thành thói quen tiến hành qua các giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn hiểu biết cách làm: Trong giai đoạn này trẻ biết
phải làm được những thao tác nào? Các thao tác diễn ra theo thứ tự như thế nào?
Cách tiến hành mỗi thao tác ra sao?
- Giai đoạn 2: Hình thành kĩ năng: Trẻ biết vận dụng tri thức vào một hoạt
động chăm sóc bản thân nào đó. Tuy nhiên việc tiến hành mỗi loại hành động
chăm sóc bản thân đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý, phải nỗ lực ý chí và biết
vượt khó.
- Giai đoạn 3: Hình thành kĩ xảo: Biến các hành động có ý chí thành các
hành động tự động hóa, bằng cách rèn luyện hàng ngày.
- Giai đoạn 4: Hình thành thói quen:Từ kĩ xảo, để trở thành thói quen cần
nhất định.
Theo từ điển tiếng Việt, “hình thành” là “luyện tập nhiều trong thực tế để
đạt tới nhũng phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo” [9, tr. 44].
Như vậy theo định nghĩa này thì hình thành chính là sự luyện tập, sự thực
hiện lặp đi lặp lại để củng cố một phẩm chất hay một hành động, kĩ năng, kĩ xảo,
11
thói quen nào đó của cá nhân trong thực tế làm cho nó trở nên thuần thục, bền
vững và có thể thực hiện thông thạo trong những điều kiện, hoàn cảnh khác
nhau. Việc hình thành thói quen được tiến hành thường xuyên, liên tục và có hệ
thống nhất định.
Từ đó, có thế hiêu khái nệm “Hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho
trẻ 3tuổi” là quá trình luyện tập các thói quen chăm sóc bản thân của trẻ trong
thực tế để đạt tới trình độ vững vàng thông thạo.
Như vây, việc hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ chính là sự
luyện tập, sự thực hiện lặp đi lặp lại các thói quen chăm sóc bản thân của mỗi cá
nhân trẻ trong cuộc sống hàng ngày để củng cố làm cho chúng trở nên thuần
thục, bền vững và cá nhân có thể thực hiện trong những điều kiện cụ thể khác
nhau. Trên thực tế, khi cá nhân thực hiện các hành động chăm sóc bản thân bao
giờ cũng thể hiện thái độ với công việc đó. Do vậy, hình thành thói quen chăm
sóc bản thân không chỉ dừng lại ở việc luyện tập, củng cố cho trẻ về mặt kĩ năng
mà còn phải luyện tập, củng cố cho trẻ cả về mặt thái độ khi thực hiện chúng,
phải làm cho nó trở thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.
Như vậy, hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ 3tuổi là quá trình
giáo viên tổ chức cho trẻ luyện tập nhằm củng cố và phát triển ở trẻ những kĩ
năng, thái độ đúng đắn đối với việc chăm sóc bản thân luôn mạnh khỏe, sạch sẽ,
thoải mái. Đặc biệt việc hình thành thói quen chăm sóc bản thân làm cho các
thói quen chăm sóc bản thân trở nên bền vững đối với trẻ và thực sự trở thành
nhu cầu cần thiết, không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Vì thế cần
Hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ mầm non có ý nghĩa quan
trọng đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Vì ở lứa tuổi này, các cơ
quan và hệ cơ quan trong cơ thể đang phát triển mạnh mẽ nhưng chưa hoàn
thiện về cấu tạo nên trẻ rất dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền. Do đó, nếu
không được chăm sóc, giữ gìn vệ sinh cẩn thận thì tỷ lệ trẻ mắc bệnh sẽ rất cao.
Chính vì vậy hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ là vô cùng cần
thiết và quan trọng vì nó sẽ củng cố cho trẻ những kỹ năng tự chăm sóc bản
13
thân: tự mặc quần áo, tự xúc cơm, tự rót nước, tự rủa tay, rủa mặt, tự đánh răng,
tự chải tóc, tự cất đồ chơi ngay ngắn sau khi chơi, tự đi dép và thói quen đi ngủ
đúng giờ.
1.2.4.
Thực trạng rèn luyện thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ 3tuối
tại Trường Mầm non Hoa Hồng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
Qua hai kì thực tập (12 tuần) tại trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân tôi thấy được thực trạng việc rèn luyện thói quen
chăm sóc bản thân cho trẻ 3tuổi ở Trường Mầm non Hoa Hồng nói riêng và với
độ tuổi 3tuổi nói chung như sau:
Trường Mầm non Hoa Hồng được thành lập ngày 30/7/1994, tiền thân của
trường là nhà trẻ liên cơ thuộc UBND huyện Mê Linh cũ.
Ngày đầu thành lập, trường chỉ có 15 cán bộ, giáo viên, trong đó có 4 giáo
viên là đảng viên; gần 100 trẻ thuộc 5 nhóm, lớp.
19 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã có đầy đủ trang thiết bị
đảm bảo cho công tác nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục trẻ. Toàn trường hiện có 37
cán bộ, giáo viên, nhân viên đều là nữ; 390 trẻ ở 11 nhóm, lóp. Chi bộ nhà
trường có 19 đảng viên, trục thuộc Đảng bộ phường Trung Trắc. Trường mầm
cho trẻ dùng, khăn mặt có kí hiệu riêng đủ cho mỗi trẻ một chiếc, cốc uống nước
đủ cho trẻ,...
v ề nhận thức của phụ huynh và mối quan hệ giữa gia đình và trường. Do
địa bàn trường nằm trong khu vực thị xã nên hầu hết gia đình trẻ có điều kiện
chăm lo cho trẻ và quan tâm đến việc giáo dục thói quen chăm sóc bản thân cho
trẻ. Đa số phụ huynh có nhận thức đúng về mục đích, yêu cầu của công tác giáo
dục thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ, tin tưởng và phối hợp tốt với giáo viên
và nhà trường rèn luyện thói quen cho trẻ. Mối quan hệ giữa gia đình và trường
luôn được quan tâm, chú trọng.
- Hạn chế:
Bên cạnh nhũng ưu điếm thì còn có nhĩmg hạn chế nhất định trong việc
thực hiện rèn luyện thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ. Ví dụ như, do công
việc và hoạt động trong ngày của trẻ là rất nhiều và không thể cố định giờ giấc
15
theo ý muốn nên đôi khi không thực hiện được tất cả các hoạt động chăm sóc
bản thân theo kế hoạch đã định. Đôi khi rửa tay trước khi ăn mà không sử dụng
xà phòng, hay rủa mặt không đủ các bước,... Tuy nhiên hầu hết các hạn chế, các
tồn tại là do điều kiện khách quan đem lại.
về cơ bản, việc thực hiện giáo dục
thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ trong nhà trường vẫn được thực hiện tốt.
16
CHƯƠNG 2
QUY TRÌNH VÀ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÓI QUEN CHĂM SÓC
2.2.
Quy trình hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ mầm
non lớp 3 tuổi
2.2.1. Xác định mục đích, yêu cầu cần đạt được
v ề kiến thức:
- Trẻ có một số hiểu biết về bản thân mình.
- Trẻ biết được tên của các thói quen chăm sóc bản thân.
- Trẻ biết được ý nghĩa của nhũng thói quen chăm sóc bản thân.
- Cung cấp biểu tượng mới và rèn luyện các thói quen chăm sóc bản thân.
v ề kĩ năng:
- Trẻ có một số kĩ năng vận động để sử dụng một số đồ dùng trong sinh
hoạt hàng ngày như đánh răng, rửa mặt, rửa tay, cầm thìa xúc cơm, chải tóc.
- Trẻ thực hiện được các thao tác của các thói quen chăm sóc bản thân.
- Rèn luyện kĩ năng quan sát, chú ý, ghi nhớ có chủ đích.
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ mở rộng vốn từ.
v ề thái độ:
- Biết coi trọng và làm theo các quy định chung của gia đình và của lớp học.
- Biết kiên trì luyện tập, thực hiện đúng nề nếp, quy định của nhà
trường, lớp học.
- Trẻ biết yêu quý bản thân và chăm sóc cho mình luôn mạnh khỏe.
2.2.2. Chuẩn bị
Giáo viên xây dựng hệ thống các bài luyện tập phù họp với trẻ:
- Đe hình thành cho trẻ các thói quen chăm sóc bản thân như: thói quen tự
mặc quần áo, tự xúc cơm, tự rót nước, tự rửa tay, rửa mặt, tự đánh răng, tự chải
tóc, biết cất đồ chơi đúng nơi quy định sau khi chơi, biết tự đi dép, và có thói
quen đi ngủ đúng giờ, thì trước tiên cô giáo phải giới thiệu về các hoạt động cho
18