TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ TUYẾT
HÌNH THÀNH MỘT SỐ THÓI QUEN
CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO TRẺ
LỚP 3 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON
HOA HỒNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp chăm sóc vệ sinh trẻ em
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ TUYẾT
HÌNH THÀNH MỘT SỐ THÓI QUEN
CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO TRẺ
LỚP 3 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON
HOA HỒNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp chăm sóc vệ sinh trẻ em
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Nguyễn Thị Việt Nga
HÀ NỘI - 2015
Em xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 2
5. Giả thuyết khoa học ............................................................................. 2
6. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
7. Đóng góp của khóa luận ....................................................................... 3
NỘI DUNG............................................................................................. 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU ................................................................................ 4
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................ 4
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 4
1.1.2. Ở Việt Nam .................................................................................... 5
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ................................................. 5
1.2.1. Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ mầm non nói chung và của trẻ 3
tuổi nói riêng ................................................................................... 5
1.2.2. Thói quen vệ sinh .................................................................................... 8
1.2.3. Thói quen chăm sóc bản thân ............................................................... 11
1.2.4. Thực trạng rèn luyện thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ 3tuổi tại
Trường Mầm non Hoa Hồng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc............................ 14
CHƢƠNG 2. QUY TRÌNH VÀ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÓI
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VIẾT TẮT
CSBT: Chăm sóc bản thân
ĐHSP: Đại học Sư phạm
HTTQCSBT: Hình thành thói quen chăm sóc bản thân
KTNN: Kĩ thuật nông nghiệp
LHQ: Liên hợp quốc
TQCSBT: Thói quen chăm sóc bản thân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng nâng cao
đòi hỏi mỗi người cần phải hoàn thiện hơn. Để đáp ứng những yêu cầu phát
triển, hệ thống giáo dục cần chú trọng hơn đến chất lượng giáo dục và giảng dạy
cho học sinh ngay từ khi còn nhỏ. Trong công tác chăm sóc và giáo dục vệ sinh
cho trẻ mầm non cần hình thành cho trẻ một số thói quen tốt, rèn luyện những
thói quen vệ sinh và hành vi văn minh là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Việc hình thành kĩ năng tự chăm sóc bản thân là rất cần thiết đối với sự
phát triển của trẻ mầm non, cụ thể là với trẻ lớp 3 tuổi. Trẻ sẽ tích lũy được
nhiều kinh nghiệm sống, biết tự chăm sóc cho bản thân và hình thành tính tự lập,
giúp trẻ tự tin hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong các hoạt động học tập và
lao động trong các cấp học tiếp theo.
Ngay từ khi còn nhỏ, nếu như trẻ không được trang bị những kĩ năng và
thói quen cần thiết, trong đó có thói quen tự chăm sóc bản thân thì sẽ làm ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ sau này. Bởi thiếu thói quen tự chăm sóc bản
thân sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các
- Xây dựng quy trình hình thành thói quen tự chăm sóc bản thân và thực
nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của quy trình.
- Tổ chức cho trẻ thực hiện quy trình hình thành thói quen tự chăm sóc bản
thân và thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của quy
trình.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một quy trình hình thành thói quen tự phục vụ bản thân
cho trẻ mầm non thì có thể nâng cao kĩ năng sống nói chung cho trẻ mầm non,
đặc biệt là trẻ lớp 3 tuổi.
2
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp quan sát
Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
7. Đóng góp của khóa luận
- Hệ thống hóa một số vấn đề: Thói quen, thói quen tự chăm sóc bản thân ở
mầm non.
- Làm rõ thực trạng giáo dục thói quen tự chăm sóc bản thân của trẻ và
việc hình thành thói quen tự chăm sóc bản thân cho trẻ mầm non.
- Đề xuất, xây dựng quy trình hình thành thói quen tự chăm sóc bản thân
cho trẻ mầm non.
3
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN
Chăm sóc – giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc
sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự
nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người tương lai
của đất nước. Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ của giáo dục mầm non Việt Nam
hiện nay, với mục tiêu chủ yếu là phát triển năng lực chung cho trẻ, các hoạt
động giáo dục ở trường mầm non phải hướng tới việc dạy cho trẻ biết cách học
như thế nào, phát huy tối đa tính chủ động tích cực của trẻ trong tất cả các hoạt
động. Giáo dục trẻ TQCSBT được ra đời là nhằm đáp ứng các yêu cầu của đổi
mới giáo dục mầm non. Tuy nhiên, tổ chức cho trẻ mầm non rèn luyện TQCSBT
vẫn còn là một vấn đề mới. Tuy đã có một số trường mầm non bước đầu vận
dụng, tổ chức một số hoạt động cho trẻ tự CSBT, song trên bình diện lý luận
chưa có tài liệu nào trình bày cụ thể, đầy đủ quá trình tổ chức cho trẻ rèn luyện
TQCSBT. Trong thực tiễn, phần lớn các giáo viên mầm non cũng chưa biết rõ
phương pháp tổ chức cho trẻ rèn luyện TQCSBT như thế nào để có thể vận dụng
một cách đồng bộ vào các trường mầm non. Vì vậy “Hình thành một số thói
quen chăm sóc bản thân cho trẻ lớp 3 tuổi ” là một đề tài mới có ý nghĩa thiết
thực trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, phù hợp với mục tiêu giáo dục
hiện nay.
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ mầm non nói chung và của trẻ 3
tuổi nói riêng
Trẻ em ở lứa tuổi mầm non có đời sống tâm- sinh lý rất đa dạng và phong
phú. Ở giai đoạn phát triển này, trẻ em có những đặc điểm, những quy luật phát
triển độc đáo, không giống bất cứ một giai đoạn nào sau này. Cụ thể, sự phát
triển hiện nay của trẻ mầm non 3 tuổi có một số đặc điểm sau:
Sự phát triển về cân nặng, chiều cao:
5
nó. Chính vì vậy mà hoạt động vui chơi ở độ tuổi mẫu giáo bé có những đặc
điểm sau:
Do vốn sống của trẻ còn quá ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội
của người lớn còn rất bị hạn chế.
Nét đặc trưng của trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ trẻ phải hoạt động
cùng nhau để mô phỏng lại những mối quan hệ của người lớn trong xã hội.
Nhưng ở tuổi mẫu giáo bé, trẻ chưa quen phối hợp hoạt động với nhau. Tuy trẻ
đã biết bắt chước một số hành động phối hợp với nhau trong sinh hoạt của người
lớn, nhưng việc vui chơi đó vẫn còn mang tính chất của việc chơi một mình.
Phải đến cuối tuổi mẫu giáo bé, nhất là vào tuổi mẫu giáo nhỡ, thì trò chơi đóng
vai theo chủ đề mới ở vào dạng chính thức, và lúc đó nó mới thực sự đóng vai
trò chủ đạo và giữ vị trí trung tâm trong hoạt động của trẻ. Sở dĩ trò chơi đóng
vai theo chủ đề giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo, đó là vì trước hết nó
giúp cho trẻ thiết lập những mối quan hệ với nhau (quan hệ thực với quan hệ
chơi) [7].
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non diễn ra với tốc độ nhanh:
Giai đoạn từ 0 - 5 tháng tuổi còn gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ của trẻ.
Khoảng 3 tháng tuổi trẻ đã biết “hóng chuyện”, trẻ đã phát ra những chuỗi âm
liên tục không rõ ràng. Đến giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi trẻ phát âm bập bẹ, bi bô
như “bà bà, bố bố, măm măm…”. Từ 12 - 18 tháng tuổi vốn từ của trẻ đã phát
triển lên đến 20-30 từ. Ở thời kì này trẻ hiểu nghĩa và sử dụng chủ động các từ
quen thuộc như đi, ăn, ngủ,…. Và biết làm theo sự hướng dẫn của người lớn.
Đến 2 tuổi trẻ đã có vốn từ khoảng 200 - 300 từ, các từ thường dùng là danh từ
và động từ, các từ gần gũi với cuộc sống của trẻ. Giai đoạn này trẻ tiếp thu ngôn
ngữ một cách trực quan, gắn liền với các hình ảnh, đồ vật, hiện tượng mà trẻ có
thể nhìn thấy và sờ thấy, chơi cùng trong các hoạt động hàng ngày. Sang giai
đoạn 2 - 3 tuổi, đây là thời kì ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh nhất và nhanh
nhất, được gọi là “thời kì phát cảm ngôn ngữ”. Khả năng sử dụng câu của trẻ
7
8
quan hệ xã hội rất cụ thể”. Theo tác giả, nội dung của thói quen gồm: Trật tự các
thao tác hành vi hợp lý; hệ thống thái độ tương ứng với trật tự, thao tác hành vi
ổn định, bền vững của cá nhân; thói quen hành vi thường gắn với nhu cầu cá
nhân [2].
Tác giả Hoàng Thị Phương: “Thói quen thường để chỉ những hành động
của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian
và quan hệ xã hội nhất định. Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường
gắn với nhu cầu cá nhân. Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở
nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ” [4]. Tác giả còn cho rằng: “Thói quen vệ
sinh được hình thành từ các kĩ xảo”, mà dựa trên những nghiên cứu về vận động
có chủ định của Sechênôp và Paplôp “kĩ xảo được coi là kết quả tự động hóa của
các hành động trong một hoạt động nào đó”. “Trong cuộc sống có những hành
động vừa là kĩ xảo vừa là thói quen, nhưng không phải lúc nào cũng trùng hợp
như vậy”. Do vậy để cho các kĩ xảo trở thành thói quen cho trẻ cần phải luyện
tập một cách thường xuyên trong cuộc sống hành ngày và phải đảm bảo những
điều kiện nhất định.
Tác giả Nguyễn Thị Thư khi nghiên cứu về các điều kiện hình thành kĩ
năng và thói quen, cho rằng: “Thói quen cũng như kĩ năng là các hành động một
phần được tự động hóa. Nhưng khác với kĩ năng, thói quen không chỉ là khả
năng thực hiện hành động mà còn đảm bảo chính sự kiện hoàn thành hành động
đó” [ 5].
“Thói quen” – theo Đại từ điển tiếng Việt – Nguyễn Như Ý (chủ biên) là
“lối sống hay hành động do lặp đi lặp lại lâu ngày trở thành nếp rất khó thay
đổi” [8, tr. 33]. Theo định nghĩa này thì thói quen được hiểu theo nghĩa rất rộng,
bao gồm toàn bộ những hành động hay những lối sống được lặp lại từ ngày này
sang ngày khác mà trở thành thói quen mà rất khó bỏ. Như vậy thói quen có thể
được hình thành theo chủ định hoặc ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày vì
nhiều vào biện pháp tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.
Các điều kiện hình thành thói quen cho trẻ
10
Trong quá trình giáo dục vệ sinh cho trẻ mẫu giáo các thói quen cần được
củng cố nhiều lần để hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ. Nghĩa là
trở thành nhu cầu được hành động theo một cách nhất định (nhu cầu đánh răng
hàng ngày, tắm rửa, ngủ nghỉ đúng giờ,…). Để hình thành các nhu cầu chăm sóc
bản thân ở trẻ cần có các động cơ kích thích trẻ hành động. Đối với trẻ nhỏ động cơ
phải có giá trị thiết thực cụ thể, có như vậy mới tạo được hứng thú, phấn khởi ở trẻ,
để khi cần trẻ sẽ cố gắng nỗ lực để hành động có kết quả.
Như vậy để các thói quen được củng cố một cách bền vững, nghĩa là hình
thành thói quen chăm sóc bản thân ở trẻ cần có các điều kiện sau:
- Trẻ phải hiểu được sự cần thiết của các thói quen chăm sóc bản thân.
- Trẻ phải được luyện tập các thói quen chăm sóc bản thân.
- Phải có sự gương mẫu của người lớn (cô giáo, cha mẹ, người thân,…).
- Phải sử dụng các biện pháp thưởng phạt phù hợp.
1.2.3. Thói quen chăm sóc bản thân
1.2.3.1. Khái niệm thói quen chăm sóc bản thân
“Thói quen chăm sóc bản thân” là những hành động hướng tới chăm sóc,
phục vụ của cá nhân, đã được tự động một phần trên cơ sở hình thành các định
hình động lực bền vững (thực chất là phản xạ có điều kiện) trên vỏ não nhờ quá
trình lặp lại thường xuyên có hệ thống các hành động vệ sinh cá nhân. Thói quen
chăm sóc bản thân có nội dung tâm lý ổn định bao gồm hệ thống trật tự các thao
tác chăm sóc bản thân hợp lý, hệ thống thái độ phù hợp với các thao tác chăm
sóc bản thân và gắn liền với nhu cầu cá nhân. Thói quen chăm sóc bản thân diễn
ra trong những điều kiện ổn định về không gian, thời gian và những mối quan hệ
nhất định.
Theo từ điển tiếng Việt, “hình thành” là “luyện tập nhiều trong thực tế để
tự rửa tay, thói quen tự đánh răng, thói quen tự chải tóc, thói quen tự cất đồ chơi
ngay ngắn sau khi chơi, thói quen tự đi dép và thói quen ngủ đúng giờ.
1.2.3.2. Vai trò của việc hình thành thói quen chăm sóc bản thân đối
với trẻ 3tuổi
12
Thói quen chăm sóc bản thân là một loại thói quen lao động tự phục vụ đơn
giản. Việc hình thành các thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ là để giữ gìn, bảo
vệ sức khỏe, giúp trẻ phòng tránh được nhiều bệnh tật.
Cũng như giáo dục lao động, thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ có ý
nghĩa quan trọng trong việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện. Trong
khi trẻ lao động thì mọi quá trình xảy ra trong cơ thể trẻ như hô hấp, tuần hoàn
máu, trao đổi chất… đều được tăng cường. Trẻ cảm thấy vui hơn khi tự mình
làm được một điều gì đó, ngay cả khi việc đó chỉ là tự phục vụ bản thân trẻ.
Trong quá trình tiến hành, dần dần ở trẻ hình thành sự hiểu biết về mục đích
công việc, rèn luyện ở trẻ tính kiên trì, cố gắng thực hiện công việc định làm,
hiểu biết lợi ích công việc đối với mình cũng như đối với người khác. Khi tiến
hành các hoạt động chăm sóc bản thân, trẻ được sử dụng trực tiếp những dụng
cụ khác nhau cùng với nhiều tri thức đã được học thông qua lao động tự phục
vụ, trẻ nắm được những hình thức sơ đẳng của hoạt động lao động, những kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen cần thiết cho mỗi công việc. Dần dần tập cho
trẻ áp dụng những tri thức đã có, đồng thời dạy cho trẻ vượt khó khăn, phát huy
sáng kiến. Trẻ trở lên thông minh khéo léo, phát triển hứng thú và năng lực nhận
thức của trẻ.
Việc hình thành thói quen chăm sóc bản thân là một trong những nhiệm vụ
quan trọng, được tiến hành trong quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ, nhằm củng
cố, bảo vệ sức khỏe của trẻ và giúp trẻ phát triển toàn diện.
Hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ mầm non có ý nghĩa quan
trọng đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Vì ở lứa tuổi này, các cơ
nhân viên đi học nâng chuẩn, 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà
trường đã đạt trình độ trên chuẩn. Các cô giáo còn tích cực tham gia
học các lớp Tiếng Anh, âm nhạc, tin học,… để phục vụ công tác giảng
dạy. Trong thời đại công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ, giáo viên,
nhân viên nhà trường đã tích cực học các lớp bồi dưỡng tin học, 100%
giáo viên, nhân viên có trình độ tin học A, B.
14
Thực trạng của việc thực hiện rèn luyện thói quen vệ sinh
cho trẻ 3 tuổi của Trường Mầm non Hoa Hồng:
Việc thực hiện rèn luyện thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ toàn trường
nói chung và trẻ 3tuổi nói riêng luôn được chú trọng và quan tâm. Ban Giám
hiệu nhà trường cùng toàn thể giáo viên trong trường ý thức được tầm quan
trọng của việc hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ trong tất cả các
hoạt động trong ngày của trẻ. Việc rèn luyện thói quen chăm sóc bản thân cho
trẻ đạt được những ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
Trước tiên, các giáo viên trong nhà trường rất yêu nghề, yêu trẻ, nhiệt
huyết với nghề, có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng. Ý thức về việc giáo dục
thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ được các giáo viên nhận thức và áp dụng
một cách khoa học.
Về cơ sở vật chất, nhà trường đã trang bị đầy đủ trang thiết bị cho lớp trong
việc chăm sóc giáo dục thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ như: xà phòng đủ
cho trẻ dùng, khăn mặt có kí hiệu riêng đủ cho mỗi trẻ một chiếc, cốc uống nước
đủ cho trẻ,…
Về nhận thức của phụ huynh và mối quan hệ giữa gia đình và trường. Do
địa bàn trường nằm trong khu vực thị xã nên hầu hết gia đình trẻ có điều kiện
chăm lo cho trẻ và quan tâm đến việc giáo dục thói quen chăm sóc bản thân cho
trẻ. Đa số phụ huynh có nhận thức đúng về mục đích, yêu cầu của công tác giáo
+ Thói quen tự đánh răng: Trẻ biết cách và có thói quen đánh răng
hàng ngày.
+ Thói quen tự chải tóc: Trẻ biết tự chải tóc và giữ đầu tóc luôn gọn gàng.
+ Thói quen tự mặc quần áo: Trẻ biết tự mặc quần áo, biết chọn quần áo
phù hợp với thời tiết.
+ Thói quen tự đi dép: Trẻ biết đi dép đúng chân, không đi dép trái.
- Thói quen ăn uống có vệ sinh, ngủ nghỉ hợp lý, bao gồm các thói
quen sau:
+ Thói quen tự xúc cơm: trẻ xúc cơm không bị rơi vãi, ăn hết suất của
mình.
+ Thói quen tự rót nước: Trẻ biết tự rót nước để uống khi khát nước, biết
rót vừa đủ, không làm đổ nước ra ngoài.
+ Thói quen ngủ đúng giờ: Trẻ ngủ đúng giờ, ngủ đủ giấc.
- Thói quen hoạt động có văn hóa: Thể hiện hành vi của trẻ khi tham gia
vào các hoạt động: học tập, vui chơi, lao động, và các hoạt động khác. Cụ thể là
17
cần hình thành cho trẻ thói quen cất đồ chơi gọn gàng đúng nơi quy định sau khi
chơi.
2.2. Quy trình hình thành thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ mầm
non lớp 3 tuổi
2.2.1. Xác định mục đích, yêu cầu cần đạt đƣợc
Về kiến thức:
- Trẻ có một số hiểu biết về bản thân mình.
- Trẻ biết được tên của các thói quen chăm sóc bản thân.
- Trẻ biết được ý nghĩa của những thói quen chăm sóc bản thân.
- Cung cấp biểu tượng mới và rèn luyện các thói quen chăm sóc bản thân.
Về kĩ năng: