Trên cương vị nhà quản trị của doanh nghiệp nước giải khát REDBULL chuẩn bị xâm nhập vào thị trường Việt Nam, hãy nhận dạng phân tích và đề xuất phương pháp giải quyết các rủi ro. - Pdf 31

Đề tài: Trên cương vị nhà quản trị của 1 doanh nghiệp nước giải khát chuẩn bị xâm nhập
vào thị trường Việt Nam, hãy nhận dạng phân tích và đề xuất phương pháp giải quyết các
rủi ro.
LỜI MỞ ĐẦU
Rủi ro hiện diện xung quanh ta, trong cuộc sống cũng như các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Chính vì thế bất kì một doanh nghiệp nào cũng đều phải đối mặt với các rủi
ro khi tham gia vào thị trường. Đặc biệt, trong thời đại mà tất cả mọi thứ đều biến đổi
một cách chóng mặt thì các rủi ro sẽ xuất hiện nhiều hơn và khó kiểm soát hơn. Do đó,
quản trị rủi ro là hoạt động không thể thiếu của mọi doanh nghiệp. Quản trị rủi ro tốt sẽ
giúp cho doanh nghiệp có thể giảm thiểu được những tổn thất bất ngờ, phòng ngừa được
những sự cố có thể xảy ra hay giảm thiểu tai nạn lao động, giảm được chi phí xử lí rủi ro,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đó là lí do mà mọi doanh nghiệp khi quyết định xâm nhập vào một thị trường mới
thì các nhà quản trị doanh nghiệp đều phải lường trước những rủi ro. Để tìm hiểu rõ hơn
về quy trình cũng như các phương pháp quản trị rủi ro của một doanh nghiệp khi thâm
nhập vào thị trường mới thì nhóm 10 đã đi đến nghiên cứu đề tài: “Trên cương vị nhà
quản trị của một doanh nghiệp nước giải khát (doanh nghiệp nước ngoài) chuẩn bị xâm
nhập vào thị trường Việt Nam , hãy nhận dạng phân tích và đề xuất phương pháp giải
quyết các rủi ro”. Với đề tài này thì nhóm 10 đã quyết định lựa chọn thương hiệu nước
uống tăng lực Red Bull để nghiên cứu cụ thể, với bố cục bài thảo luận bao gồm hai phần
lớn như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Hoạt động nhận dạng, phân tích, đề xuất giải pháp giải quyết các rủi ro
của Red Bull khi chuẩn bị xâm nhập vào thị trường Việt Nam
Bài thảo luận là quá trình tìm kiếm thông tin cũng như chọn lọc phân tích của các
thành viên nhóm 10, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót mong thầy góp ý và
chỉnh sửa để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn!


I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm, vai trò quản trị rủi ro

ro.
+ Mối nguy hiểm: là nguyên nhân của tổn thất.


+ Nguy cơ rủi ro: là một tình huống có thể tạo nên ở bất kỳ lúc nào, có thể gây nên
những tổn thất (hay có thể là những lợi ích) mà cá nhân hay tổ chức không thể tiên đoán
được.
b, Cơ sở của nhận dạng rủi ro
+ Nguồn rủi ro (phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm) thường được tiếp cận
từ các yếu tố môi trường hoạt động của doanh nghiệp
+ Nhóm đối tượng chịu rủi ro: có thể là tài sản, là nguồn nhân lực.
c, Phương pháp nhận dạng rủi ro
 Phương pháp chung: Xây dựng bảng liệt kê
• Xây dựng bảng liệt kê là việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong các
tình huống nhất định, để từ đó nhà quản trị có những thông tin nhận dạng và xử lý các đối
tượng rủi ro.
• Thực chất của phương pháp sử dụng bảng liệt kê là phương pháp phân tích
SWOT.
 Các phương pháp nhận dạng cụ thể: 7 phương pháp.
• Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Bằng cách phân tích bản báo cáo hoạt động kinh doanh, bản dự báo về tài chính và
dự báo ngân sách, kết hợp với các tài liệu bổ trợ khác, nhà quản trị có thể xác định được
các nguy cơ rủi ro về tài sản, về trách nhiệm pháp lý, về nguồn nhân lực…Ngoài ra, bằng
cách kết hợp phân tích các số liệu trong kỳ báo cáo có so sánh với các số liệu dự báo cho
kỳ kế hoạch ta còn có thể phát hiện được các rủi ro có thể phát sinh trong tương lai.
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính không chỉ giúp thấy được các rủi ro thuần túy
mà còn giúp nhận dạng được những rủi ro suy đoán.
Đây là phương pháp thông dụng, mọi tổ chức đều thực hiện nhưng ở những mức độ
và sử dụng vào những mục đích khác nhau.
• Phương pháp lưu đồ

Khi phân tích hợp đồng, cần phân tích tất cả các bộ phận của hợp đồng, từ phần
mở đầu, giới thiệu cho đến nội dung các điều kiện, điều khoản của hợp đồng và phần ký
kết hợp đồng.
• Phương pháp nghiên cứu số lượng tổn thất trong quá khứ
Bằng cách tham khảo hồ sơ được lưu trữ về các tổn thất trong quá khứ, nhà quản
trị có thể dự báo được các xu hướng tổn thất có thể xảy ra trong tương lai (tức là các tổn
thất có thể lặp lại).
1.2.2. Phân tích rủi ro
Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể đến với tổ
chức tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của
công tác quản trị rủi ro. Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định
được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp
phòng ngừa.
a, Khái niệm phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định các mối nguy
hiểm và nguy cơ rủi ro.
b, Nội dung phân tích rủi ro


 Phân tích hiểm họa
• Nhà quản trị tiến hành phân tích những điều kiện tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện
làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Nhà quản trị có thể thông qua quá trình kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát
sau để phát hiện ra mối hiểm họa
 Phân tích nguyên nhân rủi ro
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra đều
liên quan đến con người.
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra là do
các yếu tố kỹ thuật, do tính chất lý hóa hay cơ học của đối tượng rủi ro.
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Kết hợp cả 2 nguyên nhân kể

• Tuy nhiên cần lưu ý:
- Né tránh rủi ro bằng cách loại bỏ nguyên nhân rủi ro không hoàn toàn phổ biến
như chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra.
- Né tránh rủi ro có thể làm mất cơ hội. Do vậy, né tránh rủi ro không thể thực hiện
một cách tuyệt đối.
 Ngăn ngừa rủi ro (chấp nhận nhưng giảm thiểu rủi ro)
• Ngăn ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu tần suất và mức độ
rủi ro khi chúng xảy ra.
• Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro sẽ tìm cách can thiệp vào 3 mắt xích, đó là mối
hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác. Sự can thiệp đó là:
- Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm họa.
- Thay thế hoặc sửa đổi môi trường.
 Can thiệp vào quy trình tác động lẫn nhau giữa mối hiểm họa và môi trường kinh
doanh.
 Giảm thiểu tổn thất
Là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát mà rủi ro mang
lại (giảm mức độ nghiêm trọng của rủi ro).
Các biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro mang lại, bao gồm:
+ Cứu vớt những tài sản còn sử dụng được.
+ Chuyển nợ.
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro.
+ Dự phòng.
+ Phân tán rủi ro.
 Đa dạng hóa rủi ro
Là việc phân chia các rủi ro, các hoạt động thành các dạng khác nhau, tận dụng sự
khác biệt, sử dụng lợi ích từ hoạt động này bù đắp tổn thất của những hoạt động khác.
Như: đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng… để phòng
chống rủi ro.
1.2.4. Tài trợ rủi ro
a, Khái niệm

một khối lượng lớn sản phẩm đồ uống khoảng 4,2 tỷ lít/ năm và đang là thị trường phát
triển rất mạnh nằm trong năm thị trường nước giải khát không cồn tăng trưởng nhất thế
giới. Trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ ba lít nước giải khát không cồn/năm, trong
khi mức bình quân của người Philippines là 50 lít/năm.
Thị trường nước giải khát Việt Nam- Cơ hội vẫn còn bỏ ngỏ: chủng loại sản phẩm
nước giải khát chưa đa dạng. Hầu hết các công ty giải khát trong nước vẫn quanh quẩn
với sản phẩm sữa đậu nành có đường và không đường, sữa tươi hoa quả loại hộp giấy
vuông 200ml hay 300ml. Phần lớn các sản phẩm nước trái cây hiện tại có thể tích lớn và
đắt hơn số tiền tiêu vặt của trẻ em. Ở phân khúc thị trường nước mát, giá cả và chủng loại
sản phẩm chưa tiếp cận được đối tượng khách hàng có thu nhập vừa phải. Với 58% dân


số độ tuổi dưới 30, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, thị trường Việt Nam
rất thích hợp để phát triển các sản phẩm tiêu dùng nhanh đáp ứng nhu cầu giới trẻ ở thành
phố ngày càng năng động và muốn khám phá cái mới, muốn thể hiện mình.
Xu hướng tiêu dùng nước giải khát có sự thay đổi lớn: Ngành nước giải khát Việt
Nam sẽ phát triển theo xu hướng: nước giải khát có gas tăng trưởng chậm, tốc độ tăng
trưởng sẽ dần sụt giảm 5%/ năm, nước giải khát không gas tăng trưởng 10%/năm. Cụ thể,
nước khoáng và nước tinh lọc tăng bình quân 26%/năm, nước giải khát có gas tốc độ tăng
trưởng bình quân thấp hơn, bình quân 12%/năm, nước trái cây tăng bình quân 4-7%/năm(
giai đoạn 2007-2010) và 10-12%/năm. Các công ty cũng dần chuyển hướng sản xuất và
kinh doanh các mặt hàng nước giải khát không gas.
Thị trường nước giải khát Việt Nam- Cạnh tranh khốc liệt trên cả thị trường nước
giải khát có gas và không gas: hầu hết các sản phẩm nước giải khát mới đã và sẽ xuất
hiện trên thị trường đều là các loại nước giải khát không gas. Tuy nhiên, nước giải khát
có gas vẫn là là những sản phẩm tiêu thụ mạnh trên thị trường. Do có quá nhiều doanh
nghiệp khai thác xu hướng tiêu dùng mới, nên cạnh tranh trên thị trường nước ngọt
không gas ngày càng trở nên khốc liệt. Thị trường hiện nay có quá nhiều loại nước giải
khát, và để tiêu thụ sản phẩm, các công ty phải tăng cường quảng cáo, khuyến mại trong
khi lợi

thủ cạnh tranh, Red Bull sẽ phải năng động và sáng tạo hơn khi quảng cáo cho nhãn hiệu.
Bản thân ông Materchitz sẽ phải dành hai ngày mỗi tuần để tạo ra những ý tưởng
moiwsddeer quảng bá cho Red Bull, đặc biệt là thị trường Mỹ để tấn công trực tiếp vào
Coca và Pepsi.
Giai đoạn 2 trong cuộc phản công của Red Bull là tiếp thu mọi lời nhận xét thông
qua việc giới thiệu ra thị trường một loại nước uống mới hoàn toàn, được gọi là Lunaqua.
Đây là một loại thức uống đóng chai tự nhiên dành cho mọi lúc, đây là những nhân tố
chính. Một điều quan trọng nữa là đội ngũ nhân viên của Red Bull vừa rẻ và vừa ít chống
đối với người xây dựng nhãn hiệu, sẽ luôn trau dồi kinh nghiệm về sản phẩm Lunaqua,
gồm có những trò biểu diễn về “ những bữa tiệc trong tháng” và tài trợ cho tất cả các sự
kiện. Red Bull đã cẩn thận xây dựng những mối quan hệ thân thiết với các vận động viên
và những khách hàng ủng hộ mình, đây sẽ là đòn bẩy giúp cho Lunaqua nhanh chóng
được nổi danh. Logo của Red Bull cũng sẽ được in trên những chai nhỏ, để khách hàng
nhận biết về nhãn hiệu nước uống này.
Hơn nữa công ty sẽ có được nhiều thuận lợi hơn khi mở rộng việc phân phối trên
toàn cầu thông qua hình thức bán lẻ, bán ở các quầy bar và các câu lạc bộ đêm để nói
rằng Lunaqua luôn là sản phẩm bạn đồng hành của quý khách.
Đến năm 2000, công ty Redbull đã ký hợp đồng xâm nhập vào thị trường Việt
Nam. Một nhãn hiệu uy tín, chất lượng trên thế giới. Với nguồn lực dồi dào cùng sức
mạnh thương hiệu, ngay lập tức sản phẩm Redbull đã thống lĩnh thị trường Việt Nam từ
Nam ra Bắc.
Vào năm 2003, điều này đã trở nên rõ ràng hơn khi Red Bull quyết định dựa trên
sức mạnh của mình và tạo ra một cuộc chạy đua về giá với Coca và Pepsi để giành vị trí
dẫn đầu thật sự. Red Bull không có được thị trường chính tại Pháp, Đan Mạch và Na Uy
trong nhiều năm, nhưng thức uống năng lượng bây giờ đã bán tại tất cả 27 nước thành
viên của Liên minh châu Âu và 164 quốc gia trên thế giới. Đến nay tổng cộng có 4,631 tỷ


lon Red Bull đã được bán ra trên toàn thế giới trong năm 2011, tăng 11,4% so với năm
2010.

Địa chỉ: Xa lộ Hà Nội - xã Bình Thắng, TX Dĩ An, Bình Dương


Đại diện: Chanachai Earsakul
Tên giao dịch: RED BULL ( VIETNAM ) CO. LTD
Ngày hoạt động: 23/11/1994
Điện thoại: 0650.749164
2.3:Nhận dạng và phân tích những rủi ro khi Redbull tham gia vào thị trường
nước giải khát Việt Nam
2.3.1. Từ đối thủ cạnh tranh
Mối hiểm họa:
+Redbull chỉ có một màu nước và một mùi vị truyền thống trong khi nhiều nhãn
hiệu khác có sản phẩm với nhiều màu sắc và mùi vị … điều này sẽ hạn chế sự lựa chọn
của người tiêu dùng.
Đối thủ cạnh tranh chính của Red Bull là Pepsi, Coca Cola. Tuy nhiên bên cạnh đó
vẫn có vô số những thức uống khác được người tiêu dùng ưa thích bởi giá cả rẻ, tác dụng
giải khát rất tốt và cũng tốt cho sức khỏe như nươc trái cây, nước ngọt có gas, hay các
loại sữa uống. Hơn hết, các loại cà phê là một loại nước thay thế rất tốt cho Red Bull với
cùng công dụng (đôi khi hiệu quả còn mạnh hơn).
+Red Bull chỉ có loại chứa trong lon khiến người tiêu dùng phải dùng hết nó trong
một lần thay vì chia nhỏ ra nhiều lần, có thể mang đi khắp nơi khi cần như những nhãn
hiệu khác.
Mối nguy hiểm:
+Các đối thủ lớn như Cocacola, Pepsi đưa ra nhiều sản phẩm đa dạng hơn. Như
Pepsi đưa ra sản phẩm Aquafina, sá xị Mirinda, đến các loại nước uống đóng chai hương
vị trái cây, nước tăng lực Sting (2002) và nước cam ép Twister (2003) vào thị trường.
+Cocacola hay Pepsi đều có các loại vỏ lon chất liệu cũng như kiểu dáng khác
nhau.
Nguy cơ rủi ro:
+Đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm mất thị trường. Năm 2003, doanh thu của Pepsi Việt

nhãn mác nhái đó vẫn được đăng ký chất lượng, cấp mã số mã vạch.
Mối hiểm họa
+ Giá đường nhập ngoại lại phải tính thêm chi phí vận chuyển, thuế,…
+ Hiện nay có không ít các cơ sở lợi dụng uy tín và chất lượng của sản phẩm nước
uống tăng lực mang nhãn hiệu ‘ redbull và hình’’ mà người tiêu dùng vẫn quen gọi là
nước uống tăng lực ‘’bò húc’’.

Loại hàng giả hàng nhái lại vỏ lon của RedBull
Nguy cơ rủi ro
-

Làm giảm hình ảnh thương hiệu, gây hoang mang cho NTD vì không thể phân biệt
được đâu là hàng thật, hàng giả. Các loại hàng kém chất lượng này đang làm lu
mờ hình ảnh, nhãn hiệu và gây mất lòng tin của NTD đối với Redbull. Sức mua
đối với mặt hàng nước tăng lực Redbull giảm rõ rệt vì người tiêu dùng có phần lo
sợ mua hải hàng giả, gây ảnh hưởng tới sức khỏe.

-

Chi phí đầu vào cao => giá thành cao => thu hẹp môi trường mục tiêu

2.3.3.Từ phía khách hàng.


-Mối hiểm họa DN có thể gặp phải:
+Sản phẩm Red bull là sản phẩm mới với thị trường Việt Nam, người tiêu dùng
Việt Nam chưa biết tới sản phẩm này.
Khoảng đầu thập niên 90, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường thì trong nước
hầu như không có một nhãn hiệu nước ngọt nào có thương hiệu ngoài thương hiệu “xá
xị” có từ trước 1975 và thương hiệu Tribeco (một hãng nước ngọt liên doanh với Ðức);

mà trước đây họ không mấy quan tâm, điều này đã tạo ra cơ hội lớn cho Redbull khi
quyết định xâm nhập vào thị trường Việt Nam .
Mối hiểm họa
- Sự thiếu kinh nghiệm của Chính Phủ Việt Nam trong những năm đầu của kinh tế
thị trường .
-Nền kinh tế còn non trẻ trong giai đoạn quá độ khó nắm bắt với nhiều biến động
khó lường.
Mối nguy hiểm :
-Khủng hoảng tài chính.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã làm chậm sự phát triển nền
kinh tế
-Sự mất cân đối của nền kinh tế vĩ mô.
Tại thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt khó khăn do
hậu quả của tình trạng mất cân đối kinh tế vĩ mô mãn tính khiến nền kinh tế lại lâm vào
một thời kỳ lạm phát suy thoái tồi tệ, đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất cho vay
ngân hàng có lúc lên đến 144%/năm khiến các doanh nghiệp lao đao và dẫn đến tình
trạng đổ bể tín dụng đồng loạt
Nguy cơ rủi ro:
- Doanh nghiệp gặp khó khăn do lạm phát đẩy giá lên cao và người dân thắt chặt
chi tiêu, 91% người dân phải thay đổi thói quen mua sắm để tiết kiệm tiền sinh hoạt do lo
ngại ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế. Mặt hàng nước tăng lực không nằm trong những
lựa chọn thiết yếu cho nhu cầu của người tiêu dùng.
-Lãi suất cho vay ngân hàng có lúc lên đến 144%/năm cản trở doanh nghiệp vay
vốn, đầu tư sản xuất và phát triển thị trường.
2.3.5.Yếu tố chính trị - pháp luật .


Là một trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất thế giới, Việt Nam đem
đến cơ hội vàng cho các doanh nghiệp khi kinh doanh tại đây, một nền chính trị hòa bình,
ổn định đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bền vững.Trong

2- Nhận hồ sơ ĐKKD:
3- Xem xét hồ sơ ĐKKD:
4- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
Mối nguy hiểm :
- Gặp các vướng mắc trong qua trình hoàn thành các thủ tục, giấy tờ phục vụ hoạt
động kinh doanh. Giấy tờ thủ tục qua nhiều, gặp sai sót trong quá trình hoàn thiện hồ sơ
đăng kí.
Theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì doanh nghiệp được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có hồ sơ hợp lệ. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa văn bản nào hướng dẫn một cách cụ thể hoặc đưa ra khái niệm như thế nào là “hồ
sơ hợp lệ”? Chính điều này đã làm cho các phòng đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký
kinh doanh và doanh nghiệp, cùng các bên có liên quan thiếu thống nhất thế nào là “hồ sơ
hợp lệ” và “hồ sơ hợp lệ” gồm những loại giấy tờ gì? Hậu quả của việc thiếu cụ thể hóa
này là người thành lập doanh nghiệp có thể bị cơ quan chức năng gây khó khăn bằng yêu
cầu bổ sung, sửa đổi hồ sơ nhiều lần hoặc nhiều nội dung theo yêu cầu của cơ quan đăng
ký kinh doanh. Chính vì vậy, đối với không ít doanh nghiệp thì đây không phải là thủ tục
“đăng ký” mà là “xin” cho được để thành lập doanh nghiệp.
- Các đối thủ cạnh tranh lợi dụng kẽ hở pháp luật để cạnh tranh không lành mạnh.
Nguy cơ rủi ro :
- Phải tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh do gặp vướng mắc trong các quá
trình xin cấp giấy phép, thông qua các thủ tục, giấy tờ.
- Mất thị phần, vị thế cạnh tranh và uy tín do sự cạnh tranh không lành mạnh từ
các đối thủ lách luật.
- Tạo điều kiện cho các đối thủ cạnh tranh phát triển
2.4 Kiểm soát rủi ro và tài trợ tổn thất
-

Cách thức mà Red Bull tạo dựng thương hiệu khi vào Việt Nam:

Red Bull là nhãn hiệu đầu tiên được đưa vào bộ nhớ của người tiêu dùng với tên

Giới kinh doanh đôi khi tỏ ra quá chặt chẽ về mặt ngôn từ khi họ cố nghĩ ra một
cái tên cho loại sản phẩm mới. Vấn đề khó khăn nhất không phải là việc miêu tả chính
xác lợi ích của chủng loại hàng này, mà là việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chủng loại
hàng đó theo cách càng đơn giản càng tốt.
Trên hết, Red Bull đã trở thành một nhãn hiệu đầy quyền lực bởi người tiêu dùng
nhìn nhận nó như một loại thức uống làm tăng sức mạnh cho họ, đặc biệt trong những lúc


căng thẳng, mệt mỏi, hay phải chịu áp lực ngày càng tăng. Thậm chí, một vài người còn
hiểu "năng lực" ở đây là khả năng tình dục ("Năng lượng" chỉ là cách diễn đạt được chấp
nhận rộng rãi nhất).
Ra đời năm 1987, Red Bull hiện nay là nhãn hiệu thành công rất nhanh chóng.
Năm 2013, số lượng Red Bull đã bán ra đạt hơn 5,387 tỷ lon.
Tên nhãn hiệu đi sau tên chủng loại
Cũng như kiểu dáng thường đi sau công dụng, tên nhãn hiệu cũng được đặt sau khi
chủng loại hàng ra đời. Một khi bạn đã tìm được một cái tên đơn giản cho loại chủng loại
hàng mới, bước tiếp theo là lựa chọn một nhãn hiệu độc đáo và duy nhất, một nhãn hiệu
thể hiện được ngay tầm quan trọng của loại chủng loại đó.
Cần ghi nhớ rằng sẽ thừa nếu bạn cố gắng kèm thêm tên của chủng loại hàng vào
nhãn hiệu. Mỗi tên gọi nên đứng riêng biệt và chỉ liên kết với nhau bằng ý niệm chứ
không phải bằng sự lặp lại của ngôn từ.
Cái tên Red Energy (năng lượng đỏ) sẽ là thừa đối với nhãn hiệu của một loại
nước tăng lực. Hơn nữa, Bull đã là sự lựa chọn tuyệt vời và ta sẽ bỏ phí một nửa cái tên
nếu dùng từ "Energy" thay cho "Bull".
Đối với tên nhãn hiệu, từng từ, từng âm tiết, từng chữ cái đều quý giá. Bạn sẽ
không muốn lãng phí bất kỳ yếu tố nào cho một cái tên chủng loại hàng. Và bạn của sẽ
không muốn dùng những từ dài một khi đã tỉm ra từ ngắn hơn.
Những cái tên nhãn hiệu hay nhất đều là những cái tên ngắn gọn mà lại đặc biệt,
độc đáo. Có thể kể ra như Rolex, Kodak, Tide, Crest, Nike, Sony, Aleve, Coors, Dell,
Google, Ford, Lexus, Hertz, Intel, Linux, Visa, Pal,, Xerox, Yahoo, Zara...

giảm giá, phái miễn phí để mọi người có thẻ dùng thử sản phẩm từ đó sẽ mở rộng lượng
khách hàng của công ty.
- Sản xuất các sản phẩm phù hợp với mức sống của người dân Việt Nam, không
quá đắt đỏ.
- Tăng cường công tác mở rộng thị trường ra khắp cả nước, tiến hành phân đoạn,
phân khúc thị trường.


- Sản xuất các sản phẩm chất lượng tạo uy tín ngay từ khi mới bước chân vào thị
trường.
- Tạo đột phá với các loại sản phẩm nhiều công dụng, tốt cho sức khoẻ, dễ sử
dụng.
2.5.4.Yếu tố kinh tế
Kiểm soát rủi ro:
-Giảm nhẹ rủi ro :
+Công ty cần dự báo những biến động của nên kinh tế Việt Nam trong những
năm tiếp theo từ đó xây dựng cho mình kế hoạch đầy đủ, chi tiết , chủ động ứng phó khi
xảy ra các vấn đề như lạm phát, khủng hoảng kinh tế…
Tài trợ rủi ro tránh rủi ro:
+Tạo lập cho doanh nghiệp quỹ dự phòng trong sản xuất , kinh doanh để khắc
phục hậu quả khi rủi ro xảy ra như lạm phát đẩy giá lên cao hay các cuộc khủng làm suy
thoái nền kinh tế.
2.5.5.Yếu tố chính trị pháp luật:
Mất thị phần, vị thế cạnh tranh và uy tín: công ty áp dụng chiến dịch Marketing
như tăng cường quảng cáo các sản phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm và các chế độ ưu
đãi với khách hàng.
Không ngừng hoàn thiện thủ tục xin cấp phép kinh doanh theo quy định của pháp
luật Việt Nam
Đề xuất giải pháp:
Công ty nên tìm hiểu rõ về pháp luật Việt Nam trước khi xâm nhập vào thị trường

Họ và tên

Lớp HC

Mã SV

Nguyễn Thị Thêu K48U4
(Nhóm trưởng)

12D210228

Phí Thị Thảo

12D210227

K48U4

Đoàn Thị Thùy

K48U4

Nguyễn Thị Thúy
Nguyễn Thị Thảo
Đỗ Thị Thúy

Thị

K48U4
K48U1



Số
buổi
họp
nhóm
3/3

K48U3

12d210164

3/3

Điểm
nhóm
trưởng
chấm

Điểm
giáo
viên
chấm


tên


Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM( Lần 1)

2.Địa điểm: Sân thư viện
II.Nội dung buổi họp
1.Thành phần:
Số thành viên tham gia: 10/10
2.Nội dung thảo luận:
-Tập hợp tài liệu đã chuẩn bị. Các thành viên tham khảo tài liệu và đóng góp ý kiến.
-Thảo luận đi đến thống nhất nội dung của bài thảo luận.
3.Kết thúc buổi họp
Đánh giá cuộc họp: cuộc họp khá tốt, các bạn tham gia tích cực, sôi nổi, tuy nhiên nội
dung các tài liệu còn chưa được chi tiết rõ ràng.
Hà Nội, ngày 14 tháng 04 năm 2015
Thư ký

Nhóm trưởng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status