Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm rau sạch tại siêu thị maximark cam ranh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHOA KINH TẾ
----o0o----

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM RAU SẠCH
TẠI SIÊU THỊ MAXIMARK CAM RANH

Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Sinh viên thực hiện

: HOÀNG DUNG MI

Mã số sinh viên

: 53130934

Khánh Hòa, 7/2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
----o0o----

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


Cuối cùng em xin chúc quý thầy cô, quý công ty cùng các bạn sức khỏe, hạnh phúc và
thành công.
Nha Trang, tháng 6 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Hoàng Dung Mi


ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................... vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ....................................................................................................... viii
1.

Sự cần thiết của đề tài ............................................................................................... 1

2.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 2

3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 2

4.

Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 3


1.5. GAP của Việt Nam ............................................................................................. 33


iii
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM RAU CỦA SIÊU THỊ
MAXIMARK CAM RANH .............................................................................................. 36
Giới thiệu về siêu thị Maximark – 2067 Đại Lộ Hùng Vương – thành phố Cam

2.1.

Ranh……………………………………………………………………………………36
2.1.1

Một vài nét về siêu thị ............................................................................ 36

2.1.2.

Quá trình hình thành và phát triển .......................................................... 36

2.1.3.

Chức năng và nhiệm vụ .......................................................................... 37

2.1.4. Cơ cấu tổ chức ............................................................................................. 38
2.1.5.

Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu của siêu thị........................................ 43

2.1.6.


2.3.2.2. Thiết lập mối quan hệ với đối tác ........................................................... 64
2.3.2.3. Quy trình thu mua .................................................................................. 64
2.3.2.4. Sản xuất ..................................................................................................... 67
2.3.2.5. Chính sách phân phối ................................................................................. 67
2.3.3.

Chính sách marketing – mix đối với sản phẩm rau sạch ra thị trường thành phố

Cam Ranh ................................................................................................................. 68
2.3.3.1. Chính sách chất lượng và giá .................................................................. 68
2.3.3.2. Chính sách xúc tiến – truyền thông......................................................... 70


iv
2.4. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM RAU CỦA SIÊU THỊ
………………………………………………………………………………………73
2.4.1.

Những yếu tố thành công trong chuỗi......................................................... 73

2.4.1.1. Siêu thị trong quan hệ với nhà cung ứng ................................................. 73
2.4.1.2. Tăng cường quan hệ với nhà cung cấp .................................................... 73
2.4.1.3. Mối quan hệ với khách hàng trong chuỗi cung ứng rau xanh .................. 73
2.4.2.

Những yếu tố hạn chế trong chuỗi .............................................................. 74

2.5. Những nhận định của khách hàng về sản phẩm rau sạch tại siêu thị Maximark Cam
Ranh .............................................................................................................................. 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG

SCC – Supply Chein Council: hội đồng chuỗi cung ứng.
SCOR – Supply Chain Operations Research: mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi
cung ứng.
BVTV – Thuốc bảo vệ thực vật.
IPM – Intergrated Pests Management – Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp.
ICM – Intergrated Crop Management – Chương trình quản lý cây trồng tổng hợp.


vi

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của M.Porter .................................................... 5
Hình 1.2. Sơ đồ năm yếu tố dẫn dắt chủ yếu của một chuỗi cung ứng................................... 19
Hình 1.3. Dạng chuỗi cung ứng xuôi – ngược ...................................................................... 20
Hình 1.4. Dạng chuỗi cung ứng hội tụ - phân kỳ .................................................................. 21
Hình 1.5. Cấu trúc theo chiều ngang – chiều dọc của chuỗi cung ứng ................................... 22
Hình 1.6. Các mức độ quan hệ trong chuỗi cung ứng ........................................................... 23
Hình 1.7. Dòng chảy trong chuỗi cung ứng .......................................................................... 24
Hình 1.8. SCOR định nghĩa các quá trình mức 1 .................................................................. 26
Hình 3.1. Thẻ bạc và thẻ vàng tại siêu thị Maximark Cam Ranh ........................................... 70
Hình 3.2. Phiếu quà tặng tại siêu thị Maximark Cam Ranh ................................................... 71
Hình 3.3. Phiếu ăn tại siêu thị Maximark Cam Ranh. ........................................................... 72
Hình 3.1. Bộ dụng cụ và thuốc thử ....................................................................................... 84
Hình 3.2. Thuốc thử ............................................................................................................. 85
Hình 4.3. Ứng dụng RFID giúp nhà quản trị quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng ..................... 88


vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Nhìn vào những bước tiến đổi mới vượt bậc sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta có những bước đi lên đáng kể, đặc
biệt nền nông nghiệp có những chuyển biến rõ rệt: Nông sản được giá hơn, thị trường
xuất khẩu lớn, sản phẩm phong phú đa dạng, có chất lượng cao…Và cuộc sống con
người cũng đang tiến lên một bậc trong xu thế phát triển. Vấn đề đáng quan tâm là
cùng với sự phát triển của đời sống là hàng loạt các vấn đề như: Chỉ số giá tiêu dùng,
lạm phát và giá cả thị trường tăng nhanh một cách chóng mặt. Vậy còn nhu cầu con
người? Nhu cầu người tiêu dùng đang phát triển ở mức độ nào? Điều này có thể khẳng
định chắc chắn nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tăng lên theo thời gian, và nhu cầu
đó rất phong phú và đa dạng.
Để đáp ứng nhu cầu mang lại lợi ích tốt nhất tới người tiêu dùng, vấn đề lớn
nhất là các sản phẩm cung cấp phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã, sản phẩm
và lại càng có ý nghĩa hơn với hàng nông sản làm thế nào để tạo được lòng tin đối với
người tiêu dùng, cuộc sống con người phát triển thì nhu cầu con người cũng tăng theo,
đối với hàng nông sản thì tiêu dùng sản phẩm “nông nghiệp sạch” tất yếu sẽ trở thành
xu thế phổ biến.
Vấn đề đang được xã hội rất quan tâm là chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm,
khi xã hội phát triển, đời sống người dân được nâng cao họ luôn quan tâm đến chất
lượng sản phẩm, họ sẵn sàng trả mức giá cao gấp 1,5 -2 lần để làm sao có được sản
phẩm chất lượng tốt, nhưng trên thị trường hiện nay không ít cơ sở kinh doanh lợi
dụng thương hiệu “rau sạch” để lừa phỉnh người tiêu dùng, cửa hàng mang tên rau an
toàn lại bán rau không nguồn gốc làm cho người tiêu dùng khó có thể phân biệt được
gây cho họ khó khăn khi ra quyết định tiêu dùng một “sản phẩm sạch” nào đó.
Maximark Cam Ranh là siêu thị bán lẻ chuyên cung ứng các mặt hàng thiết yếu,
hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người tiêu dùng.
Vì thế khi nắm bắt được nhu cầu đó của khách hàng, siêu thị Maximark Cam Ranh đã
hướng đến xây dựng chuỗi cung ứng rau sạch. Vấn đề quản trị chuỗi cung ứng không

 Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi cung ứng rau sạch tại siêu thị Maximark Cam
Ranh.
 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Tập trung đi vào tìm hiểu và phân tích các nhân tố trong hoạt
động của chuỗi cung ứng sản phẩm rau sạch để từ đó tìm ra những mặt hiệu quả và
chưa được trong chuỗi của siêu thị, xây dựng mô hình và các thức quản trị chuỗi.
+ Thời gian: từ năm 2011 đến tháng 5/2015.


3
4. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu
 Thu thập số liệu qua: tài liệu của siêu thị, quan sát thực tế từ siêu thị,
tham khảo trang web của siêu thị và bài báo trên internet
 Thảo luận nhóm: phỏng vấn và thảo luận với người nông dân về những
vấn đề liên quan đến quy trình trồng rau sạch.
 Phương pháp điều tra: lấy ý kiến khách hàng, sử dụng dữ liệu thứ cấp.
5. Những đóng góp của khóa luận
 Tìm ra những mặt tích cực cần phát huy và mặt hạn chế cần khắc phục trong
hoạt động chuỗi rau sạch tại siêu thị Maximark Cam Ranh.
 Đưa ra những phải pháp thiết thực nhằm giải quyết những hạn chế trong chuỗi.
 Kết quả điều tra người tiêu dùng từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với nhu cầu
khách hàng.
 Hệ thống lý thuyết
6. Bố cục của khóa luận
Nội dung chủ yếu của báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của chuỗi cung ứng
Chương II: Thực trạng về chuỗi cung ứng rau sạch tại siêu thị Maximark Cam
Ranh
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng rau sạch tại siêu thị

cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.2. Mô hình 5 tác lực của Michael Porter (Porter's Five Forces)
Tại sao các doanh nghiệp, các quốc gia đều nhất định phải tìm ra lợi thế cạnh
tranh? Có nhiều công trình khoa học đã ra đời nhằm phân tích các nhân tố môi trường
ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của DN. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
về nâng cao năng lực cạnh tranh của M.Porter vẫn là công trình nổi tiếng và được sử
dụng rộng rãi nhất. Ở đây, xin áp dụng mô hình năm lực lượng cạnh tranh của ông để


5
phân tích các nhân tố cạnh tranh trong kinh doanh siêu thị(Hình 1.1). Qua đó cho thấy,
doanh nghiệp cần phải tăng cường lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trong môi
trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Hình 1.1: Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của M.Porter

Theo M.Porter, các nhân tố cạnh tranh thuộc môi trường ngành gồm:


Đối thủ cạnh tranh hiện tại

Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là các công ty cũng đang hoạt động trong lĩnh
vực bán lẻ. Mọi động thái, hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh đều làm thay đổi
tương quan trên thị trường, có thể làm suy yếu hoặc tăng năng lực cạnh tranh của công ty.


Các đối thủ cạnh tranh tiềm năng

Các đối thủ tiềm năng là những DN sẽ tham gia vào thị trường hoặc lĩnh vực
hoạt động của công ty. Đối với thị bán lẻ đầy tiềm năng như hiện nay, khi mà các rào

trường. Mặc dù, các chiến lược về giá, marketing, chiêu thị vẫn là những lợi thế
cạnh tranh chủ yếu của công ty. Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh cũng có thể thực
hiện được các lợi thế này. Do đó, để tìm ra một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, mang lại
hiệu quả chắc chắn mà khó có đối thủ nào có thể thực hiện được, đó chính là: xây
dựng được "chuỗi cung ứng phù hợp" có sự liên kết bền vững giữa các đối tượng
trong toàn chuỗi.
1.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng
1.2.1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng
Khi nền kinh tế ngày một khó khăn việc kinh doanh trên thị trường ngày càng
khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nỗ lực thật nhiều để có thể trụ vững và
phát triển. Để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các
doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào
công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của mình. Không chỉ
phải am hiểu thị trường, am hiểu khách hàng, am hiểu đối thủ cạnh tranh, doanh
nghiệp cần phải chủ động về mọi mặt, chu toàn trong toàn bộ các công đoạn để đảm
bảo sản phẩm của mình có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Bởi lẽ, khi doanh
nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm
sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản
phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn
thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng. Và
đó chính là một quy trình liên kết xuyên suốt bao gồm từ nhà cung cấp, nhà sản xuất
,nhà phân phối và khách hàng…mà thuật ngữ kinh tế gọi đó là “chuỗi cung ứng”.


7
Chuỗi cung ứng là một khái niệm không mới đối với thế giới, nhưng chỉ thật sự
được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm trong những năm gần đây. Trong một
chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ một hoặc nhiều nhà
cung cấp; các bộ phận, chi tiết hoặc thậm chí sản phẩm sau đó được sản xuất ở một

8
yêu cầu mà chúng ta mong đợi. Đôi khi vì những lý do nào đó chúng ta cần trả sản
phẩm hoặc các chi tiết do không đáp ứng yêu cầu hoặc đôi khi cần sửa chữa hoặc tái
chế chúng, một qui trình ngược cũng rất cần thiết. Các hoạt động hậu cần ngược này
cũng bao gồm trong chuỗi cung ứng.
Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả
các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Những chức
năng này bao hàm và không bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới,
marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.
Chuỗi cung ứng còn được định nghĩa như sau:
Chopra Sunsil và Peter Meind: “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có
liên quan trực tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ
bao gồm nhà sản xuất mà còn có nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân
người khách hàng.”( Nguyễn Thanh Liêm và các cộng sự, 2009).
“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm
thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành
phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” – “An introduction to
supply chain management” Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995.
“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp,
đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và
nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” –
“Supplychain management: strategy, planing and operation” của Chopra Sunil và Pter
Meindl, (2001, Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall c.1).
Như vậy từ các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa về chuỗi cung ứng:
“Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm
nhà sản xuất, cung cấp mà còn liên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và
khách hàng.”
Trong một chuỗi cung ứng có ba dòng chảy chính đó là: dòng chảy hàng hóa,
dòng chảy thông tin, và dòng chảy tài chính. Một chuỗi cung ứng hoạt động tốt khi ba

Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung
và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho
hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và
phân phối đến khách hàng cuối cùng.
Theo TS. Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài báo nghiên cứu
thì “quản trị chuỗi cung ứng như là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của
mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và
sau đó đến sản phẩm cuối cùng.”


10
Như vậy nói một cách tổng quát quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp những
phương thức sử dụng một cách tích hợp và hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, hệ
thống kho bãi và các cửa hàng nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đến đúng địa
điểm, đúng lúc với đúng yêu cầu về chất lượng, với mục đích giảm thiểu chi phí toàn
hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu cầu về mức độ phục vụ.
1.2.2. Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng
Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty sản xuất của Mỹ áp dụng công
nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, trong khi ít chú ý đến
việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh
hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm.
Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếu vào
nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất. Chia sẻ công nghệ và chuyên môn thông
qua sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người bán là một thuật ngữ hiếm khi
nghe giai đoạn bấy giờ. Các quy trình sản xuất được đệm bởi tồn kho nhằm làm cho
máy móc vận hành thông suốt và quy trì cân đối dòng nguyên vật liệu, điều này dẫn
đến tồn kho trong sản xuất tăng cao.
Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
(MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển và tầm
quan trọng của quản trị nguyên vật liệu hiệu quả càng được nhấn mạnh khi nhà sản

thông qua sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm
chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện
được sử dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người
mua đã chứng tỏ sự thành công của mình.
Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR) (suy nghĩ một cách triệt để và tái thiết
kế quy trình kinh doanh nhằm giảm các lãng phí và gia tăng thành tích được giới thiệu
vào đầu thập niên 1990 là kết quả của những quan tâm to lớn trong suốt giai đoạn này
với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến những năng lực then chốt của doanh
nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh dài hạn. Khi xu hướng này mất dần vào giữa
cuối thập niên 1990 (thuật ngữ trở nên đồng nghĩa với việc thu hẹp quy mô), quản trị chuỗi
cung cấp trở nên phổ quát hơn như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cũng trong thời gian này, các nhà quản trị, nhà tư vấn và các học giả hàn lâm
bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn sự khác biệt giữa hậu cần và quản trị chuỗi cung ứng.
Mãi cho đến thời điểm đó thì quản trị chuỗi cung cấp mới được nhìn nhận như là hoạt
động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng các
sáng kiến của quản trị chuỗi cung cấp, họ bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp
tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung cấp,
cho phép chuỗi cung cấp vận hành và phản ứng như một thể thống nhất. Ngày nay,


12
hậu cần được xem như là một thành tố quan trọng của khái niệm quản trị chuỗi cung
cấp rộng hơn rất nhiều.
Cùng thời đó, các doanh nghiệp cũng nhận thấy lợi ích trong việc tạo ra các liên
minh hoặc sự cộng tác với khách hàng của nó. Doanh nghiệp trung tâm trở thành nhà
cung cấp giá trị cao và được sử dụng chủ yếu cho khách hàng. Phát triển mối quan hệ
mật thiết và dài hạn với khách hàng nghĩa rằng doanh nghiệp sẽ giữ ít tồn kho bảo
hiểm sản phẩm hoàn thành hơn và cho phép doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào
việc cung ứng tốt hơn các sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng. Cuối cùng khi thị
phần đối với sản phẩm của khách hàng được cải thiện thì sẽ có lợi cho hoạt động kinh

thương mại điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển và ứng dụng quản trị chuỗi cung
ứng. Chia sẻ thông tin với các đối tác chuỗi cung ứng thông qua EDI và Internet cho
phép doanh nghiệp tích hợp chức năng tồn kho, hậu cần, mua nguyên vật liệu, vận
chuyển và các chức năng khác nhằm tạo ra phương thức quản trị tiên phong và hiệu
quả hơn. Trong tương lai, chúng ta sẽ hy vọng rằng quản trị chuỗi cung cấp nhấn mạnh
đến việc mở rộng chuỗi cung cấp, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn
nữa vào chuỗi cung cấp “xanh” cũng như cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi.
1.2.3. Phân biệt logistic và chuỗi cung ứng
 Logistic:
Kể từ khi được phát hiện vào những năm 1980 đến nay, việc phát triển rộng rãi
các hoạt động kinh doanh logistics và việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về logistics
đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm. Ngày nay, người ta nhận thấy vai trò của
logistics rất lớn, không chỉ trong kinh tế mà còn đối với các tổ chức, trong đó có các
công ty, do vậy đòi hỏi phải có cách nhìn nhận tổng quát hơn về logistic.
Nghiên cứu về logistics là nghiên cứu về việc quản trị các dòng hàng hóa, vật
tư, thiết bị, sản phẩm, tài chính... trong điều kiện cụ thể. Để có thể nắm bắt được nhu
cầu, cũng như cách thức giành được thị phần trong thị trường cung ứng dịch vụ
logistics, xác định khả năng sinh lời, chúng ta cần xem xét những quan niệm về
logistics hiện đại ra sao.
Nếu như trước đó, khi nói đến logistic người ta chủ yếu tập trung vào việc
nghiên cứu tổ chức vận chuyển và phân phối sản phẩm (outbound) thì nay người ta
phải kết hợp đồng thời nghiên cứu luôn cả dòng vật tư, nguyên vật liệu trang biết bị...
cho đầu vào (inbound). Chính sự kết hợp này trong một chương trình quản trị đã tạo ra
logistics.
Nếu như trước 1980 người ta chưa kết hợp giữa hai phần inbound và out bound
thì khi hợp nhất vào một chương trình quản trị chúng ta có một hệ thống logistics.
Như vậy, bản chất của logistics là quản lý các dòng vật tư (đầu vào) và sản
phẩm (đầu ra) của một đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngoài hai dòng logistics trên, có



Malaysia trên cơ sở nhập rất nhiều bộ phận, thí dụ màn hình (monitor), bàn phím từ
Hongkong, phần cứng từ Đài Loan.., sau đó mới được chuyển về Mĩ để hoàn thiện và


15
cài đặt phần mềm, hoàn thành sản phẩm giao cho khách hàng. Quá trình sản xuất như
vậy đòi hỏi có sự tham gia của logistics.
Việc quản lý logistics là hết sức cần thiết đối với các nhà sản xuất, cung ứng,
thậm chí trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đã trở nên phẳng hơn, nó trở
thành vấn đề tồn tại hay không không tồn tại đối với các công ty. Các hoạt động
logistics đưa lại nhiều dịch vụ cho các nhà cung ứng dịch vụ logistics. Đây là điều mà
những người làm vận tải và các dịch vụ liên quan hết sức quan tâm.
Yêu cầu căn bản của logistics là tính toàn hệ thống, hay còn thể hiện qua quan
niệm về giá thành toàn bộ. Nghĩa là toàn bộ các hoạt động logistics phải được gắn kết
chặt chẽ thành một tổng thể, với giá thành tổng cho toàn tổng thể đó, chứ không xét
riêng rẽ, độc lập. Điều này hết sức quan trọng vì thông thường có nhiều đơn vị khác
nhau tham gia vào từng hoạt động của chuỗi logistics. Do vậy, khi xem xét riêng từng
hoạt động, chúng ta cần lưu ý tính hệ thống này. Trong thực tế, chúng ta cung ứng một
dịch vụ nào đó, thí dụ cho thuê kho bảo quản hàng hóa cụ thể của một chuỗi cung ứng
(logistics) nào đó, chúng ta sẽ phải chấp nhận những điều kiện của chuỗi (hệ thống)
đó.
Như vậy các hoạt động chính mà logistics phải quản trị bao gồm: Dịch vụ
khách hàng/Dự báo nhu cầu/Quản lý dự trữ/Liên lạc logistics/Mua sắm vật tư/Xử lý
đơn hàng/Đóng gói/Dịch vụ hậu mãi (bảo hành, cung cấp phụ tùng..)/Lựa chọn
kho/Lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa/Quản lý vận tải và theo dõi hành trình hàng hóa
vật tư...
 Chuỗi cung ứng:
Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng
cho dòng chảy của sản phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng
qua nhiều tổ chức, công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status