Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Danh s¸ch nhãm g9
1. Nguyễn Thị Hải Anh
2. Phan Thu Hiền
3. Lê Thu Hoà
4. Võ Hà Phương
5. Cao Thái Tân
6. Nguyễn Thị Hoài Thu
7. Trần Anh Tú
8. Phan Thị Trinh
9. Cao Thị Hải Yến
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
LỜI MỞ ĐẦU
Từ những năm đầu 90, kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong những năm đầu của quá trình đổi mới Việt Nam đã thu được
những thành công về kinh tế đáng kể đó là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và
kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Thương mại chiếm tới 51% của GDP.
Tháng 4 năm 2001 Đại hội Đảng lần thứ 9 đã thông qua Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010. Trên cơ sở chiến lược này
mục đích đưa ra đến những năm cuối của giai đoạn 2001 – 2010 sự tăng
trưởng kinh tế phải tăng lên gấp đôi điều đó có nghĩa là đến năm 2005 mức
tăng trưởng kinh tế hàng năm phải tăng 7% và từ năm 2006 – 2010 mức tăng
trưởng kinh tế hàng năm phải là 7,5%. Năm 2007Việt Nam đã đạt được mức
tăng trưởng là 8, 48% cao hơn tốc độ của các năm trước, đã khá sát với mục
tiêu Quốc hội đề ra (8,5%) và thuộc loại cao đối với các nước trong khu vực ở
hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phán ánh
mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế
thường được dùng. Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời
kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc.
Tăng trưởng kinh tế được xem dưới góc độ số lượng và chất lượng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng
trưởng, nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng như đã nói ở trên
và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng
trưởng thu nhập. Đứng trên góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập thường được
thể hiện dưới dạng giá trị: có thể là tổng giá trị thu nhập, hoặc có thể là thu
nhập bình quân trên đầu người, các chi tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo
hệ thống tài khoản quốc gia (SNA). Bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO),
tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc
dân (NI), thu nhập đựơc quyền chi (GDI)…Trong đó chi tiêu GDP thường là
chỉ tiêu quan trọng nhất.
3
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Như vậy bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền
vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh
này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ
tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người. hơn thế nữa, quá
trình ấy phải được tạo điều nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học,
công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
II. Các nhân tố ảnh hưởng:
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến
tăng trưởng kinh tế. Đứng trên góc độ vĩ mô, vốn sản xuất có liên quan trực
tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không
phải dưới dạng tiền (giá trị), nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại
của nền kinh tế và bao gồm: Vốn cố định (nhà máy, công xưởng, trụ sở cơ
quan, trang thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ
tầng) và vốn lưu động (tồn kho của tất cả các loại hàng hóa).
Mặt khác, để duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất phải có một khoản
chi phí gọi là vốn đầu tư sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn
đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động.
Ở các nước đang phát triển, sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng
trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất, đó là sự thể hiện của tính tăng
trưởng theo chiều rộng.
Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của
quá trính sản xuất. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đâu
ra của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản
xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn
là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể
vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất. Việc tăng vốn
đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao
động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất.
1.1.2- Lao động (L).
Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được
trong các hoạt động kinh tế
Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được
trong các hoạt động kinh tế.
Trước đây chúng ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào
giống như yếu tố vốn và được xác định bằng số lượng nguồn lao động cả mỗi
quốc gia (tính bằng đầu người hay thời gian lao động). Tuy nhiên các mô hình
5
phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật.
- Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm
vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất
Trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không là việc
đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không
6
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một
lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình
sản xuất hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày
nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…có
những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.
Như đã nói ở trên, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói
đến nhân tố tài nguyên, đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng
kinh tế. Yếu tố tài nguyên, đất đai có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản
xuất (K). Vì vậy, 3 yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế được
nhấn mạnh là vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP- Total Factor
Productivity). Trong đó, vốn và lao động được xem như là các yếu tố vật chất
có thể lượng hoá được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và
được coi là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng còn TFP (thể hiện hiệu
quả của yếu tố công nghệ kỹ thuật hay cách đánh giá tác động của tiến bộ
khoa học kỹ thuật đến tăng trưởng kinh tế được xác định bằng phần dư còn lại
của tăng trưởng sau khi đã loại trừ tác động của các yếu tố vốn và lao động).
TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều
sâu.
kinh tế, trong đó đầu tư khôi phục tức là đầu tư bù đắp giá trị hao mòn được
lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần tuý được lấy từ các khoản tiết kiệm của
khu vực nhà nước, các hộ gia đình và doanh nghiệp.
-Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX=X-M): Thực tế, giá trị hàng
hoá xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn
giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nươc nhưng lại
không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố yếu tố nguồn lực trong
nước. Vì vậy, chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu (NX) chính là
khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế.
Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) và GDP=C+I+G+NX. Do đó, sự thay đổi của một
trong 4 nhân tố cũng đều có thể làm cho GDP thay đổi, sự thay đổi đó thể
hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế.
Dưới tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên
biến đổi, nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây ra lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn
lực của quốc gia đã có nhưng chưa được huy động và làm hạn chế mức tăng
trưởng thu nhập. Ngược lại, nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm cho mức thu
8
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
nhập của nền kinh tế tăng nhưng giá cả các yếu tố nguồn lực trở nên đắt đỏ,
đẩy mức giá chung của nền kinh tế lên. Căn cứ vào tính chất tác động này mà
Chính phủ có các chính sách điều tiết tổng cầu sao cho bảo đảm thực hiện
các mục tiêu tăng trưởng tương ứng với yêu cầu ổn định giá.
2.Các nhân tố phi kinh tế
Các nhân tố phi kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp và không thể lượng hoá
hoá giữa các dân tộc, song điều đó không có trở ngại cho sự giao lưu kinh tế
giữa các quốc gia và thường tìm được sự hoà hợp.
Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu tư cho
sự nghiệp phát triển văn hoá phải được coi là những đầu tư cần thiết và đi
trước một bước so với đầu tư sản xuất.
2.2.Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía
cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.
Thể chế được biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng
đồng nhằm điều chỉnh các mới quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích
của cộng đồng đătj ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu
phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp,
các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện.
Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để
đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện
thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một
thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá
vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái,
khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị, xã hội. Một thể
chế phù hợp với sự phát triển hiện đại mang trong mình những đặc trưng: Có
tính năng động, nhạy cảm và mềm dẻo, luôn thích nghi được với những biến
đổi phức tạp do tình hình trong nước và quốc tế xảy ra; Bảo đảm sự ổn định
của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn và xung đột có thể xảy ra
trong quá trình phát triển; Tạo điều kiện cho nền kinh tế mở một sự hoạt động
có hiệu quả, nhằm tranh thủ vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới;
Tạo được đội ngũ đông đảo những người có năng lực quản lý, có trình độ
khoa học kỹ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng thành công các kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế; Tạo được sự kích thích mạnh mẽ mọi nguồn lực vật chất
10
niệm .Mỗi tôn giáo còn chia ra làm nhiều giáo phái.Ngoài ra còn có nhiều đạo
giáo riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ. Mỗi đạo giáo có những quan
niệm, triếy lí tư tưởng riêng, bám sâu vào cuộc sống của dân tộc. Những ý
thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội.
Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ của xã
11
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
hội tuỳ theo mức độ, song có thể là sự hoà hợp , nếu có chính sách đúng đắn
của Chính phủ.
2.5. Sự tham gia của cộng đồng
Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn
nhau. Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân
chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội. Ngược lại, về phía mình sự tham gia
của cộng đồng là nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại
cho phát triển kinh tế, xã hội. Các nhóm cộng đồng dân cư tham gia trong
việc xác định các mục tiêu của chương trình, dự án phát triển quốc gia, nhất là
mục tiêu phát triển các địa phương của họ, tham gia trong quá trình tổ chức
thực hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động phát triển tại cộng đồng và tự quản
lý các thành quả của quá trình phát triển. Đó chính là yếu tố cần thiết cho một
xã hội phát triển nhằm tạo dựng sự nhất trí cao, tính hiệu quả và sự thích ứng,
ổn định trong thực hiện mục tiêu phát triển, đồng thời khích lệ được tiềm
năng của mọi cá nhân và cả cộng đồng vào trong quá trình phát triển kinh tế,
giảm thiểu hiện tượng tham nhũng trong xã hội. Tuy vậy, để sự tham gia của
cộng đồng thực sự có hiệu quảvà tránh những hệ quả không tích cực của yếu
tố này , cần thiết phải có cơ chế xác định mức độ tham gia của dân cửtong các
để nước ta vượt qua ranh giới của một nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Nhờ kinh tế tăng trưởng,lượng lao động được thu hút nhiều,thất nghiệp
giảm,tỷ lệ nghèo giảm nhanh. Đến nay,có gần 4 triệu hộ nghèo và 1,7 triệu
người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn thuộc 10 chương
trình tín dụng ưu đãi của nhà nước,góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ
18%(2006) xuống còn 14,7% năm 2007.
Thứ ba: Tăng trưởng kinh tế đạt ở cả 3 nhóm ngành: nông-lâm
nghiệp-thủy sản;công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Trong đó dịch vụ được
xem là điểm sáng nhất. Nếu như năm ngoái khu vực này tăng trưởng với mức
13
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
8,29% thì năm nay đạt 8,68%. Cơ cấu đóng góp trong GDP củng nâng từ mức
38,08% năm 2006 lên 38,14% trong năm 2007.
Tỷ trọng đóng góp của CN-XD trong GDP cũng cải thiện hơn năm
2006 chiếm 41,61%(2006:41,52%) .tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt
10,6%.
Khu vực nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai và dịch bệnh,song
không sa sút so với năm 2006. tốc đọ tăng trưởng 3,41% .tuy nhiên tỷ trọng
Mức tăng trưởng GDP và các khu vực kinh tế
đọng góp GDP giảm từ 20,4%(2006) xuống 20,25%(2007).
II. Nhân tố tác động đến sự tăng trưởng
1. Nhân tố kinh tế
1.1. Các nhân tố tác động đến tổng cung
2004 tăng 17,5%; 2005 tăng lên 38%
b)Vốn đầu tư của khu vực tư nhân
Bên cạnh sự đầu tư từ ngân sách nhà nước thì vốn đầu tư của khu vực
tư nhân cũng đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế. Việc
ban hành luật doanh nghiệp mới đầy đủ và hoàn thiện hơn cho khu vực kinh
tế tư nhân vào tháng 6/1999 có hiệu lực 1/1/2000 đã tạo ra bước đột phá
trong công cuộc cải cách kinh tế Việt Nam.Đặc biệt vào cuối năm 2005,Quốc
hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng nhằm cải thiện hơn nữa môi
trường đầu tư,kinh doanh,trong đó có luật đầu tư(chung) và luật đoanh nghiệp
(thống nhất). triển vọng tương đối lạc quan về sự phát triển kinh tế của VN
cùng với thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo nên sức hút mạnh mẽ cho đầu tư của khu
vực tư nhân.
c)vốn đầu tư thông qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng
thơi gian qua,các ngân hàng thương mại VN đã có những bước phát
triển vượt bậc về số lượng,quy mô,thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm thanh
15
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
toán và dẫn vốn trong nền kinh tế,đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới kinh
tế,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2001-2005,vốn đầu tư thông qua kênh trung gian tài
chính(hệ thống ngân hàng) vào nền kinh tế chiếm trung bình từ 20-22% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội. Bình quân tăng trưởng huy động vốn giai đoạn 20012005 đạt khá cao,từ 20-25% hàng năm.
d)vốn nước ngoài
còn quan trọng hơn, bởi vì đây mới là lượng vốn thực tế đưa vào đầu tư sản
xuất kinh doanh. Sản xuất kinh doanh của khu vưc FDI trong 2 tháng đầu
năm 2007 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Chưa kể dầu khí ,khu vực này
đạt doanh thu khoảng gần 4 ti USD , tăng 25% so vơi cùng kỳ ; xuất khẩu đạt
trên 2,7 tỉ USD ,tăng 41,1%;giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao hơn nhiều
so với tốc độ tăng của toàn ngành công nghiệp(25,5% so với 17,5%)…
+Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức-ODA
Cuối năm 2006 , các nhà tài trợ đã cam kết cho Việt Nam đạt cao nhất
tư trước đến nay (4,45 ti USD).Cơ sở hạ tầng là linhw vực thu hút viện trợ
ODA lớn nhất. Những thành tích sử dụng viện trợ cho xóa đói giảm nghèo và
phát triển bền vững của VN trong những năm qua là tín hiệu cho thấy VN
đang sử dụng có hiệu quả ODA . Các dự án phát riển nộng thôn và cơ sở hạ
tầng hàng năm đã giúp cải thiện đời sống địa phương và nâng cao tiềm lực
sản xuất của địa phương,góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế.
+Vốn đầu tư gián tiếp
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nươc ngoài những năm trước kia không
đáng kể , tử nửa cuối năm 2006 đã chảy vào VN khá mạnh (lên đến 3 tỉ USD)
góp phần làm cho thị trường chứng khoán “phi mã”. Đầu năm nay, lượng vốn
thuộc nguồn vốn này còn tăng mạng hơn,ước tính đến nay đã lên đến trên 4 tỉ
USD ,chiếm gần 1/3 tổng giá trị vốn hóa thị trường (khoảng 14 tỉ USD,bằng
23% GDP).Tới đay , khi có nhiều công ty đại gia được cổ phần hóa và niêm
yết lên sàn,số vốn này sẽ tiếp tục chảy vào.
Bên cạnh những nguồn vốn nêu trên,còn có 1 nguồn không kém
phần quan trọng đó là nguồn kiều hối. Nhiều hội thảo doanh nhân Việt
Kiều ,các buổi họp mặt của các hội người VN ở nước ngoài đã góp phần của
Việt Kiều với quê hương đất nước. Cộng đồng người Việt có cống hiến cho
đất nước đang được dành nhiều ưu đãi và được khuyến khích mở rộng kinh
17
cả nước.
Tỷ lệ lao động trẻ cao so với nhiều nước trong khu vực là một lợi thế
của lao động Việt Nam. Bên cạnh những ưu thế về thể chất, lao động trẻ
thường là đội ngũ có học thức, năng động, sáng tạo, ham hiểu biết, tiếp thu
18
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
nhanh kỹ thuật và công nghệ mới. Mặt khác nhờ chính sách quan tâm đến
tăng giáo dục của nhà nước nên lao động Việt Nam có trình độ học vấn tương
đối cao. Nhiều nghiên cứu định lượng trong thời gian từ 1995-2006 cho thấy
lao động đã đóng góp trên 29,2% vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Hạn chế cơ bản đối với Việt Nam:
− Số người được đào tạo nghề và kỹ năng chuyên môn còn quá ít .
− Ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp rất yếu, thể hiện ở
lối sống vô tổ chức, vô kỷ luật, làm việc tùy tiện, thiếu sự hợp tác giữa các
nước trong khu vực đang có khoảng cách khá xa.
− Theo số liệu ngân hàng Đông Á công bố năm 2006 năng suất lao
động bình quân ở Việt Nam bằng 37% của Philipin, 16% của Thái Lan, 2%
của Đài Loan và 1% của Singapo =>cần có những chiến lược xây dựng, nuôi
dưỡng và khai thác hợp lý, thế hệ lao động trẻ nước nhà có thể phát triển
nhanh.
1.1.3. Tài nguyên
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên
phong phú, đa dạng.
+ Tài nguyên ngư nghiệp:Hiện nay, chúng ta có khoảng 1 triệu ha mắt
nước nội địa, 1 triệu ha mặt nước lợ-mặn, trên 3200 km bờ biển với diện tích
1.1.4.Tác động của yếu tố công nghệ - kỹ thuật đến tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam:
Kết quả phân tích định lượng về đóng góp thấp của tài sản vào vốn tẳng
trưởng có thể bắt nguồn từ tính hiệu quả công nghệ thấp và đó là một nguyên
nhân của tẳng trưởng dướ mức tiềm năng trong giai đoạn vừa qua. Tình trạng
hay gặp phải là tài sản vốn được hình thành qua quá trình đầu tư chưa được sử
dụng 1 cách tối đa vào quá trình tạo giá trị gia tăng, qua đó ảnh hưởng tới
năng suất lao động.
Nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có lẽ dễ nhận thấy
nhất ở Việt Nam là:
− Đầu tư công nghệ sai đia điểm, sai mục đích làm cho tài sản đã
hình thành không được hoặc ít được sử dụng vào quá trình sản xuất.
− Đầu tư quá mức vào thiết bị, máy móc nhưng công suất sử dụng
thấp hơn nhiều so vói mực tối đa cho phép.
− Không có khả năng sử dụng công nghệ 1 cách hiệu quả do quá trình
lao động thấp, không có khả năng tiếp thu và vân hành.
20
Nhóm G9
Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Nhìn chung, nhiều trường hợp trên đây có liên quan đến đầu tư nhà
nước và chính sách sản xuất thay thế nhập khẩu và bảo hộ sản xuất trong
nước đối với 1 số ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, 1 vấn đề khác đặt ra là
trình độ lao động chưa đủ để nắm bắt bà sử dụng công nghệ hiện có hiệu quả
hơn.
Bên cạnh đó, tình trạng máy móc thiết bị nhập khẩu không được đưa
vào sử dụng đã xảy ra từ nhiều năm nay. Một số ngành công nghiệp sử dụng
g
g
g
517
60,61
661
58,13
688
61,37
Khu vực nhà nước
342
40,09
423
40,25
481
42,91
120
14,06
129
12,27
144
12,85
55
6,46
59
5,61
63
5,62
Khu vực tập thể
311
lớn, đó là:
− Sau nhiều năm đổi mới và cơ cấu lại, các tổ chức R&D của nhà
nước vẫn tập trung ở các đô thị lớn, tập trung ở 1 số ít ngành mà các doanh
nghiệp nhà nước có quy mô lớn giữ vài trò chủ đạo như dầu khí, năng lượng.
Kéo theo đó là lực lượng cán bộ khoa học có trình độ tập trung chủ yếu ở các
thành phố lớn, các trường đại học lớn và các doanh nghiệp nhà nước qui mô
lớn…
− Các tổ chức R&D của Việt Nam chưa có khả năng đáp ứng nhu cầu
của doanh nghiệp về cung ứng dịch vụ công nghệ, về nghiên cứu đổi mới
công nghệ và chuyển giao cho doanh nghiệp.
Do đó, các tổ chức R&D của Việt Nam chưa thực sự đóng góp vào phát
triển và ứng dụng công nghệ mới.
b/ Về chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ:
Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp khoa học công nghệ tăng về số
tuyệt đối, nhưng về số tương đối tỉ lệ chi trong tổng chi ngân sách không ổn
định.
Ví dụ: năm 2000, chi cho khoa hoc công nghệ chiếm 1,14% của tổng
chi ngân sách nhà nước, đến năm 2002 là 1,25%, nhưng năm 2003 chỉ còn
1,03%. So với GDP, chi cho khoa học công nghệ của Việt Nam rất thấp, ước
đạt 0,28% của GDP năm 2000, và 0,3% của GDP năm 2003. Trong khi đó
R&D của các nước đang phát triển cũng dao động từ 1 -2% của GDP và của
các nước phát triển là >2% của GDP.
Nguồn ngân sách cho khoa học công nghệ đã ít lại được phân bổ vẫn
theo cơ chế cấp phát, dàn trải và tài trợ chưa có muc tiêu, tiêu chí rõ ràng,
chưa đặt yêu cầu rõ ràng về số lượng và chất lượng của tăng sản phẩm khoa
học công nghệ cụ thể đối với tùng tổ chức sủ dụng ngân sách.
c/ Về nguồn lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhà nước:
22
Dới sự tác động của thị trờng các yếu tố của tổng cầu thờng xuyên biến
đổi, nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây lãng phí nguồn lực quốc gia nhng không
đợc huy động và làm hạn chế mức tăng trởng thu nhập.
23
Nhúm G9
Ket-noi.com din n cụng nghờ, giỏo dc
Việt Nam trong những năm qua với tốc độ tăng trởng khá nhanh so với
khu vực, đặc biệt năm 2007 tốc độ tăng trởng đạt 8.5% 1 phần do các yếu tố
của tổng cầu tác đông.Tuy nhiên các yếu tố của tổng cầu 1 mặt thúc đẩy tăng
trởng kinh tế, mặt khác nó lại kìm hãm tăng trởng kinh tế.
1.2.1. Chi cho tiêu dùng cá nhân
Theo nghị định 94/2006/NĐ-CP và nghị định 03/2006/NĐ-CP về việc
điều chỉnh mức lơng tối thiểu thì thu nhập của ngời dân cũng đợc nâng cao
.Thu nhập bình quân 1 tháng của 1 ngờI lao động trong khu vực nhà nớc đạt
2064,2 nghìn đồng; trong đó lao động do TW quản lý 2522,6 nghìn đồng; và
lao động do địa phơng quản lý 176,.0 nghìn đồng. Tuy nhiên mức thu nhập
giữa các ngành, các loại hình doanh nghiệp, các địa phơng không đồng đèu.Tỷ
lệ hộ nghèo của cả nớc đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm
2007 và vợt kế hoạch đề ra 10%.
Đi cùng với việc tăng lơng, thì vấn đề giá cả trong năm 2007 cũng là
một điều đáng bàn. Mặc dù nền kinh tế luôn phải chấp nhận 1 sự đánh đổi
giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế(ít nhất là trong ngắn hạn) thì chỉ số giá
tiêu dùng năm 2007 là 1 đIều đáng lo ngại
Theo số liệu của tổng cục thống kê(TCTK):
So với tháng 12 năm 2006, giá tiêu dùng năm 2007 tăng 13.63% trong
đó nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 18.92%; nhà ở và vật liệu xây
sách tài khoá hiệu quả thúc đẩy tăng trởng kinh tế.Và ngợc lại, một chính sách
táI khoá không hợp lý là yếu tố tác xấu tới tăng trởng kinh tế
Theo TCTK:
Tổng thu NSNN năm 2007ớc tính tăng 16,4% so với năm 2006 ,trong
đó các các khoản thu nội địa bằng 107%, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu
bằng 108,1%; thu viện trợ bằng 156,7%. riêng thu từ dàu thô ớc tính chỉ bằng
102,1% so với dự toám năm trớc do sản lợng khai thác dầu thô giảm,
Tổng chi NSNN năm 2007 ớc tính tăng 17,9% so với năm 2006 và bằng
106,5 dự toán cả năm; trong đó chi đầu t tăng19,2% và bằng 103,2%;chi thờng xuyên tăng15,1% và bằng 107,2%; chi trả nợ và NSNN ớc tính bằng
14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi dự toán năm đã đợc quốc hội thông
qua đầu năm; trong đó 76,1% đợc bù đắp bằng nguồn vốn vay trong nớc và
23,9% nguồn vay từ nớc ngoài.
Tuy nhiên có 1 số tiền không nhỏ đã bị lãng phí, thất thoát thông qua
việc đầu t công, thông qua việc làm ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nớc. Tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP hàng năm vẫn cao, chiếm trên dới 5%. Việc xử lý số thu vợt dự toán cần dành cho việc trả nợ, dành chi việc
25
Nhúm G9