1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hoa là một sản phẩm đặc biệt, vừa mang lại giá trị tinh thần lại vừa
mang lại giá trị kinh tế cao. Hoa không chỉ làm tăng chất lượng cuộc sống, mà
còn đem lại cho con người những cảm xúc tuyệt vời mà các quà tặng khác
không có được.
Trong những năm gần đây, hoa là mặt hàng nông sản đã làm thay đổi
bộ mặt của nhiều vùng quê Việt Nam. Nhiều hộ gia đình đã giàu lên, nhờ
mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu từ cây trồng khác sang trồng hoa. Hoa không chỉ
là vẻ đẹp, là giá trị về thẩm mỹ mà còn có giá trị kinh tế cao. Hoa đã trở thành
một sản phẩm đặc biệt, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới hiện có trên 200 loài hoa đang được sản xuất thương mại,
Tùy thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu, của mỗi nước chọn trồng và phát
triển một số chủng loại hoa để mang lại nguồn thu cho ngành sản xuất,
thương mại của quốc gia. Khi chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu
tiêu dùng ngày càng lớn thì chất lượng sản phẩm càng đòi hỏi cao hơn. Từ
nhu cầu tiêu dùng liên tục được tăng cao, các nhà chọn tạo giống trên thế giới
đã không ngừng chọn tạo thành công các giống hoa có chất lượng và giá trị
nghệ thuật cao.
Hoa thược dược có nguồn gốc từ Mêxicô nhập nội vào Tây Ban Nha
năm 1789, sau đó lan ra Châu Âu, qua Pháp, rồi vào Việt Nam. Hiện nay hoa
thược dược đã được trồng phổ biến trên thế giới: Hoa Kỳ, Anh, Australia,
Mexico, Tây Ban Nha và đặc biệt được chọn làm quốc hoa của Mêxicô.
Thược dược cũng được người dân Việt Nam ưa chuộng và được trồng
khá phổ biến ở một số vùng chuyên canh. Một phần để chơi, thưởng thức,
một phần để phục vụ các vùng lễ hội, tết và dùng làm dược liệu. Tuy nhiên
các giống thược dược trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là các giống hoa cũ,
sử dụng với mục đích cắt cành là chính, hoa thược dược được trồng chậu gần
như chưa có. Nguyên nhân ở đây, một phần là do tập quán canh tác, tập quán
tài sẽ giúp cho người dân có thể lựa chọn được thời vụ trồng và xây dựng
được các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho hoa thược dược lùn trong vụ Đông
- Xuân nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về hoa thược dược
1.1.1. Nguồn gốc, phân bố
Dahlia variablis Desf là tên khoa học dùng để gọi chung cho các nhóm
hoa thược dược. Nhóm hoa này cùng họ với các loại hoa thược dược và hoa
đồng tiền. Thược dược có nguồn gốc từ Mêxicô và là quốc hoa của nước này.
Nhân dân ở đây gọi các cây này là cây Acocoti hay là Chichipati. Bắt đầu từ
năm 1979, thược dược được đưa đến trồng trong cung của các đời vua chúa
tại Tây Ban Nha. Do hoa thược dược có nhiều loại, đẹp, đa sắc màu và được
nhiều du khách biết đến nên bắt đầu từ năm 1804, hoa thược dược đã được
nhân rộng khắp các nước châu Âu, đặc biệt là Hà Lan. Từ đó đến nay hoa
thược dược đã được lai tạo ra nhiều nhóm có tên gọi, màu sắc hoa khác nhau
và được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới [9].
Thược dược nhập nội vào Việt Nam đầu thế kỷ XX và càng ngày càng
được trồng rộng rãi, nhất là các thành phố, thị xã, thị trấn. Mùa hoa thược
dược đúng vào dịp tết Nguyên đán nên có giá trị kinh tế cao.
1.1.2. Phân loại
Thược dược thuộc bộ Asterales, họ Asteraceae, chi Dahlia. Hiện nay
trên thế giới có khoảng 30 loài và trên 2000 giống Thược dược (Stafleu. F.A.
1976) [12] với 5 nhóm hoa thược dược chính:
Theo một số tài liệu, Thược dược được phân thành các loại:
+ Thược dược xương rồng (Dahlia Caetus): cánh hoa cuộn tròn, dài
hoa đã lai tạo được cây hoa kép, cây thấp.
1.1.3. Đặc điểm thực vật học
1.1.3.1. Đặc điểm thực vật
5
- Rễ: Rễ thược dược thuộc loại rễ ăn ngang nổi, một số rễ phình to và
thường gọi là củ, chứa nhiều chất dự trữ, vì vậy kỹ thuật làm đất cần chú ý lên
vồng và vun gốc để tạo điều kiện cho rễ phát triển ngang.
- Thân: Thược dược thuộc thân thảo, mọng nuớc, yếu, có nhiều đốt,
trên các mấu đốt phát sinh cành, lá. Chiều cao thân tùy vào giống: có giống
cao 1,2 - 1,5m, có giống thấp 0,2 - 0,3m. Vì thân thược dược yếu cho nên đối
với những loại cây thân cao cần vun gốc, bảo vệ chống đổ.
- Lá: Lá mọc đối, lá kép, bản lá to, hình dạng biến đổi tùy giống. Cần
chú ý đặc điểm lá to này để phát huy khả năng quang hợp cho lá, nhằm tăng
năng suất, chất lượng cho cây.
- Hoa: Hoa tự hình đầu trạng, nghĩa là nhiều hoa nhỏ không cuốn dính
trên một đế chung. Điều cần chú ý là bao phấn thường chín trước nhụy. Cho
nên bao hoa không thể tự thụ phấn được mà nhờ các tác nhân đưa phấn từ bao
này sang bao khác. Vận dụng đặc điểm này để lấy hạt gieo trồng sẽ có nhiều
giống có màu sắc, hình dáng khác nhau và lai tạo giống mới.
- Quả: Thuộc loại quả bế, khô, khi chín vỏ quả màu đen. Mỗi quả trung
bình có từ 40 - 60 hạt giống.
1.1.3.2. Điều kiện sinh thái của cây thược dược
Thược dược ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình không cao quá
30oC và không thấp dưới 10oC. Độ ẩm từ 60 - 70% là tốt nhất, từ 80% cây
mọc khỏe, lá nhiều, thân cành yếu, dễ đổ. Ở độ cao 800 - 1500m so với mặt
nước biển, thược dược phát triển tốt, màu sắc đậm đà.
Thược dược thuộc loại cây ưa sáng, ở nơi có đủ ánh sáng cây tốt, nhiều
đưa cây hoa lên thành một ngành kinh tế quan trọng như Trung Quốc, Đài
Loan, Hàn Quốc, Singapo, Israrel, Italia... (Trịnh Khắc Quang, 2010) [6].
Trong các nước châu Âu, Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu trên thế
giới về sản xuất và xuất khẩu hoa phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn
7
gồm 80 nước trên thế giới bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và cây
trang trí. Trung bình mỗi năm Hà Lan cung cấp cho thị trường 7 tỷ bó hoa
tươi và 600 triệu chậu hoa cảnh các loại và tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỷ
USD/năm (Trịnh khắc Quang, 2010) [6]. Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa có
thể xem là một phần quan trọng của nền kinh tế nước Mỹ, với kim ngạch xuất
khẩu là 10 tỷ USD, bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, hoa trồng chậu và các loại lá
để trang trí. Ở các nước châu Á thì Nhật Bản là nước dẫn đầu về áp dụng thành
tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến để tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế
cao. Thế mạnh của nước này là các loại cây bonsai, nghệ thuật cắm hoa và lối
trang trí độc đáo cho các vườn hoa công viên.
Sau 2 thập kỷ phát triển, ngành sản xuất hoa của Trung Quốc đã trở
thành một ngành có điều kiện hứa hẹn bởi vì sản xuất hoa phát triển hàng
năm. Diện tích trồng hoa của Trung Quốc là 117.000 ha vào năm 2000, số
lượng hoa cắt cành được bán là 3,22 tỷ cành và hoa chậu, hoa thảm là 810
triệu cây. Trung Quốc đang phấn đấu đẩy nhanh ngành công nghiệp hoa phát
triển và sẽ trở thành một trong những nước dẫn đầu châu Á về sản xuất, tiêu
thụ và xuất khẩu hoa.
Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên một số nước rất chú trọng
đầu tư, đặc biệt là công tác nghiên cứu ứng dụng những thành tựu tiên tiến
nhất của các ngành nghề khác có nhiều liên quan như: công nghệ sinh học, tin
học, tự động hóa, vật lý, hóa học, ngành công nghiệp làm nhà kính, nhà lưới,
ngành công nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc trừ sâu...
Năm
2005
Năm
2008
Năm
2011
6.800
11.200
12.600
16.200
950.000
1.960.000
4.410.000
6.800.000
Giá trị thu nhập TB
(Tr.đ/ha/năm)
140
4,6
7,2
(Số liệu thống kê và điều tra tổng hợp của Viện Nghiên cứu Rau quả năm 2012)
Sự tăng trưởng của ngành sản xuất hoa, cây cảnh luôn ổn định trong
suốt 11 năm qua. Theo ước tính, có được kết quả trên là do sự đóng góp của
nhân tố xã hội (do thu nhập ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng cải
thiện), chiếm 40%; sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng và cơ chế chính
sách chiếm 15%; sự nỗ lực của người dân 25% và do kết quả đóng góp của
khoa học 20% (Trịnh Khắc Quang, 2013) [7].
1.2.3. Cơ cấu chủng loại hoa, cây cảnh ở Việt Nam
Trước năm 1995, Việt Nam chủ yếu sử dụng những loại hoa, cây cảnh
truyền thống, thông dụng như quất, đào, mai, hồng, cúc, layơn, huệ, thược
dược. Những năm gần đây, một số chủng loại hoa, cây cảnh cây cảnh mới,
cao cấp đã dần dần được chú trọng và đang có xu hướng tăng dần về số lượng
và giá trị.
Bảng 1.2: Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa, cây cảnh
ở Việt Nam qua các năm
Đơn vị tính: %
Chủng loại
I. Cây cảnh
1. Đào
2. Quất
3. Mai
4. Cây cảnh khác
II. Cây hoa
1. Hồng
2. Cúc
24
23
14
4
9
7
100
22
30
22
26
100
18
21
14
2
5
9
10
7. Lily
2
5
12
8. Cẩm chướng
3
3
chậu)... Những năm gần đây, sản xuất hoa, cây cảnh cây cảnh đã được mở
rộng ra hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, một số vùng tuy mới đưa vào
trồng nhưng rất có tiềm năng phát triển như: Đan Phượng (Hà Nội); các
11
huyện thuộc Bắc Ninh; Mộc Châu (Sơn La); An Dương (Hải Phòng); Nam
Định, Thái Bình, Yên Bái, Hà Nam, Đức Trọng (Đà Lạt), Cần Thơ, Vĩnh
Long... Hầu hết ở những vùng mới này có quy mô không lớn (từ 10- 30ha ),
được đầu tư các loại hoa, cây cảnh mới và quy trình kỹ thuật tiên tiến nên
năng suất và thu nhập/đơn vị diện tích cao hơn những vùng truyền thống từ
2 - 3 lần (Trịnh Khắc Quang, 2013) [7].
Định hướng phát triển ngành hoa cây cảnh trong thời gian tới
Tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, dự kiến năm 2015 sẽ phát triển
20.000 hoa cây cảnh các loại, tăng 13,3% so với năm 2009, giá trị sản lượng
đạt 1.900 tỷ đồng/năm (trong đó xuất khẩu 640 tỷ đồng, tương đương 40 triệu
USD), thu nhập bình quân đạt 180 triệu đồng/ha/năm.
Đầu tư xây dựng một số vùng chuyên cnah của những nơi có điều kiện
như Đà Lạt (Lâm Đồng), Mộc Châu, Ngọc Châu, Ngọc Chiến (Sơn La), Đồng
bằng sông Hồng, các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh ven thành phố Hồ Chí
Minh, một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản xuất hoa theo hướng công nghệ tiên
tiến nhằm tạo ra các loại hoa có chất lượng cao tương đương hoa nhập nội, đủ
sức cạnh tranh với các sản phẩm hoa cùng loại của các nước trong khu vực
(Trịnh Khắc Quang, 2010) [6].
1.3. Tình hình nghiên cứu hoa thược dược trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu hoa thược dược trên thế giới
Từ năm 1804, hoa thược dược đã được nhân rộng khắp các nước châu
Âu đặc biệt là Hà Lan. Từ đó đến nay, hoa thược dược được nghiên cứu và lai
tích tụ của các muối hòa tan.
Thược dược yêu cầu ánh sáng từ trung bình đến cao. Ánh sáng yếu kéo
dài thì cây sinh trưởng chiều cao mạnh và thân lá yếu.
13
Củ thược dược được tăng trưởng mạnh bởi ánh sáng ngày ngắn, tuy
nhiên khi bắt đầu ánh sáng ngày dài vào mùa Xuân thì cây thược dược bắt đầu
tăng trưởng mạnh mẽ [13].
Thược dược thường thích hợp ở nhiệt độ 17 - 18,5 oC ban đêm. Dựa
trên các nghiên cứu sản xuất giâm, chiều cao cây thược dược giảm nếu nhiệt
độ ban đêm tăng tương đối so với nhiệt độ ban ngày. Nhiệt độ mát mẻ hơn
(khoảng 24 giờ nhiệt độ trung bình) giảm tỷ lệ tăng trưởng và kéo dài thời
gian sinh trưởng của cây. Độ dài của chồi và kích thước của hoa lớn hơn ở
nhiệt độ thấp.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu hoa thược dược ở Việt Nam
Việt Nam là nước có ngành trồng hoa phát triển từ rất lâu đời và là
nước có điều kiện khí hậu thuận lợi để trồng một số loại rau, hoa. Với khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm là điều kiện tốt để ngành trồng hoa phát triển mạnh. Sản
xuất hoa ở Việt Nam đang ngày càng được hình thành và phát triển một cách
mạnh mẽ, khi ta biết tận dụng ưu thế, nâng cao năng suất chất lượng thì mặt
hàng hoa trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn trong tương lai không xa.
Trong các thập niên 1950, 1960, 1970, các giống hoa thược dược chủ
yếu là màu đỏ thắm hay đỏ nhung, hoa to. Sau này được du nhập từ châu Âu
và từ Nhật Bản nhiều giống khác nhau như màu vàng, hoa trắng, chào mào…
Hiện nay có rất nhiều giống hoa thược dược trồng ở Việt Nam với rất
nhiều màu sắc đa dạng và phong phú. Sau đây là một số giống phổ biến.
- Thược dược vàng: vàng đậm, vàng nhạt (vàng lụa), vàng cánh uốn.
Thược dược vàng đậm, vàng nhạt cây cao, hoa to, đường kính 7 - 10cm, cánh
giống hoa thược dược phù hợp cho việc trồng chậu. Các giống này có chiều
cao thấp, khả năng sinh trưởng tốt, trong đó hai giống TDL-03 và TDL-05
15
phát triển tốt nhất và phù hợp với điều kiện trồng ở các tỉnh Đồng bằng sông
Hồng. Thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 9-10 hàng năm, cho thu hoạch vào dịp
Tết Nguyên đán [18].
Hiện nay với kết quả thành công trong việc chọn tạo các giống hoa
bằng phương pháp đánh giá tính thích ứng của giống từ nguồn gen các giống
nhập nội, việc chọn hướng đi nhập nội các giống hoa thược dược tốt từ nước
ngoài để khảo nghiệm tính thích ứng và thuần hóa cho phù hợp với điều kiện
Việt Nam, cũng như nhập nội một số nguồn vật liệu mới phục vụ công tác lai
tạo giống là một hướng đi rất đúng.
1.4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa thược dược
1.4.1. Thời vụ trồng
Trồng vào vụ Đông Xuân: Trồng tháng 10 hoa thược dược đạt năng
suất và chất lượng hoa tốt nhất, thu hoa chậu vào đúng dịp tết Nguyên đán,
nâng cao giá trị kinh tế.
1.4.2. Giá thể trồng
Yêu cầu giá thể: tơi xốp, khả năng giữ nước và thoát nước tốt, sạch
nấm bệnh và vi khuẩn.
Giá thể là hỗn hợp gồm ½ mùn cưa + ¼ phân chuồng hoai mục + 1/4
xỉ than (hoặc đất thịt nhẹ) cho năng suất và chất lượng hoa thược dược trồng
chậu là lớn nhất, mỗi chậu cần 1 kg giá thể.
Phun đều Ridomil (nồng độ 3g/lít) để xử lý nấm bệnh trong giá thể
trước khi trồng.
1.4.3. Chậu ( túi bầu nilon)
Chuẩn bị chậu nhựa cao kích thước 22 x 20 cm, hoặc túi bầu nilon
cây sinh trưởng phát triển tốt.
1.4.6. Thu hoạch, bảo quản và sử dụng hoa chậu
17
Khi nụ hoa bắt đầu chuyển màu và hé nở thì có thể đem đi sử dụng.
Nếu vận chuyển đi xa dùng dây buộc tán hoa vào để tránh ảnh hưởng đến chất
lượng hoa. Xếp các chậu khít nhau để giảm va đập khi vận chuyển.
1.4.7. Phòng trừ sâu bệnh
1.4.7.1. Sâu hại
* Rệp: Làm cho cây còi cọc, ngọn quăn queo, nụ bị thui, hoa không nở
được hoặc dị dạng, gây hại nặng ở vụ Xuân Hè và Đông Xuân. Sử dụng
Karate 2.5 EC liều lượng10 - 15 ml/bình 10lít, Ofatox 400WP hoặc Supracide
40ND liều lượng10 - 15 ml/bình 10 lít…
* Nhện đỏ: Gây hại làm cho lá bị cháy vàng, héo đi và biến dạng, cuối
cùng làm cho lá vàng khô và rụng. Sử dụng Pegesus 500EC liều lượng 8 -10
ml/bình 8 lít, phun 3 bình/sào Bắc Bộ, ngoài ra có thể sử dụng một số loại
thuốc khác để luân phiên, tránh để nhện quen thuốc; Ortus 5 SC liều lượng 10
ml/bình 8 lít, Vimite 10 ND liều lượng 10 -15 ml/ bình 8 lít, Mitac 20 ND liều
lượng 30 - 40 ml/bình 8 lít
1.4.7.2. Bệnh hại
* Bệnh đốm lá: Vết bệnh thường có dạng hình tròn hoặc bất định màu
nâu nhạt hoặc nâu đen, nằm rải rác ở mép lá hoặc gân lá. Bệnh phát triển
mạnh khi độ ẩm cao. Sử dụng Score 250ND liều lượng 10ml/bình 10 lít, 10
ngày phun 1 lần.
* Bệnh gỉ sắt: Vết bệnh dạng ổ nổi, màu gỉ sắt hoặc da cam, thường
xuất hiện ở cả 2 mặt lá, bệnh nặng làm cháy lá, lá vàng, rụng sớm. Sử dụng
Zineb 80 WP liều lượng 20 - 50g/10 lít, Anvil 5 SC liều lượng 5-10ml/bình
10 lít, thuốc có chứa gốc lưu huỳnh ...
- Thí nghiệm gồm 9 công thức, mỗi công thức giâm 30 cành, với 3 lần
nhắc lại, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn. Tổng số cành giâm thí nghiệm
là 450 cành giâm. Thí nghiệm được bố trí trên khay.
- Các chế phẩm và ký hiệu:
+ Chế phẩm giâm chiết cành của Công ty cổ phần sinh hoá Minh Đức.
Thành phần: B 2500ppm. Có tác dụng kích thích ra rễ nhanh, tăng tỷ lệ sống,
nảy mầm cho cành chiết; tăng sức đề kháng cho cây non với một số bệnh
thông thường. (Ký hiệu: CP1).
+ Chế phẩm siêu ra rễ cực mạnh của Công ty hỗ trợ phát triển kỹ thuật
và chuyển giao công nghệ. Thành phần: Cu 0,07%; Fe 0,02%, B 0,02%. (Ký
hiệu: CP2)
+ Không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng: CP0
- Thời gian giâm cành
+ TV1: Giâm ngày 15/9
+ TV2: Giâm ngày 30/9
+ TV3: Giâm ngày 15/10
- Các công thức thí nghiệm:
20
+ CT1: Giâm ngày 15/9 + Không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
(TV1+CP0).
+ CT2: Giâm ngày 15/9 + Sử dụng chế phẩm giâm chiết cành của Công
ty cổ phần sinh hoá Minh Đức (TV1+CP1).
+ CT3: Giâm ngày 15/9 + Sử dụng chế phẩm siêu ra rễ cực mạnh của
Công ty hỗ trợ phát triển kỹ thuật và chuyển giao công nghệ (TV1+CP2).
+ CT4: Giâm ngày 30/9 Không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
(TV2+CP0).
+ CT5: Giâm ngày 30/9 + Sử dụng chế phẩm giâm chiết cành của Công
Nhắc lại 2
CT2
CT3
CT8
CT5
CT9
CT4
CT1
CT6
CT7
Nhắc lại 3
CT9
CT4
CT5
CT7
CT2
CT3
CT 2
CT 3
CT1
CT 3
CT 1
CT 2
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu giá thể trồng hoa thược dược
- Thí nghiệm có 3 công thức, mỗi công thức trồng 15 chậu (mỗi chậu 3
cây) trong túi bầu nilon (Kích thước bầu: 18 x 32 cm), với 3 lần nhắc lại.
Tổng số cây thí nghiệm là 405 cây. Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu
nhiên hoàn toàn. Thí nghiệm chậu vại. Trong nhà có mái che tại Thành phố
Thái Nguyên
+ Công thức 1: Sử dụng đất màu - Đối chứng.
+ Công thức 2: Sử dụng bã nấm (50%) + đất màu (50%).
+ Công thức 3: Sử dụng bã nấm.
- Sơ đồ thí nghiệm:
Nhắc lại 1
CT1(Đ/C)
CT 2
CT3
Nhắc lại 2
Tỷ lệ sống =
X 100
Tổng số cây trồng
- Các giai đoạn sinh trưởng phát triển
- Thời gian hồi xanh: tính từ khi trồng đến khi hồi xanh (ngày)
- Thời gian ra nhánh: từ khi trồng đến ra nhánh (ngày)
- Thời gian ra nụ: từ khi trồng đến ra nụ (ngày)
- Thời gian nở hoa: từ trồng đến nở hoa (ngày)
Các giai đoạn được xác định khi có 50% số cây đạt các chỉ tiêu
trên.
- Chỉ tiêu về sinh trưởng
+ Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): được đo từ mặt đất (miệng
chậu) đến đỉnh sinh trưởng của cây.
+ Đường kính tán (cm): Đo đường kính mặt tán của cây. Lấy trung bình
cộng của 2 đường kính vuông góc.
+ Động thái đẻ nhánh: đếm trực tiếp số nhánh sinh ra trên cây mẹ
2.3.2.3. Các chỉ tiêu năng suất, chất lượng hoa
- Số nụ và số hoa trên cây: Tổng số hoa và số nụ trên các cây theo dõi
23
- Độ bền hoa chậu (ngày): Tính từ khi 50% hoa nở đến khi 50% hoa
héo.
- Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa nở hoàn toàn.
- Tỷ lệ chậu nở hoa (%): Tỷ lệ % giữa chậu nở trên tổng số chậu theo
dõi
- Tỷ lệ chậu nở hoa dị dạng (%): Số chậu nở hoa dị dạng trên tổng số
Ký hiệu: **
24
+ Mức độ hại phổ biến (MĐSH > 10 con/m2).
Ký hiệu: ***
2.4.2.5. Chỉ tiêu về kinh tế
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
+ Tổng thu (đ): Tổng số tiền thu được từ bán hoa
+ Tổng chi (Đ): Tổng số tiền chi phí cho việc trồng hoa
+ Phần lãi thuần (đ): Là tổng số tiền thu được - Tổng chi phí
+ Hiệu quả đồng vốn (%) =
Tổng số tiền thu được x 100
Tổng số chi phí
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình phần mềm IRRISTAT trên máy
vi tính.
25
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng và thời vụ
CT2
30
28
93,33
CT3
30
30
100
CT4
30
25
83,33
CT5
30
30
30
100
Công thức