ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BỘ MÔN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

ĐỀ TÀI MÔN LOGISTICS
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC
TOÀN CẦU
GLOBAL STRATEGIC
POSITIONING

NHÓM 10
K044020263 TRẦN TUẤN HÙNG K064020275 NGUYỄN MỸ KHÁNH
K064020239 LÊ ĐINH NGỌC BI K064020280 NGUYỄN TRƯỜNG LINH
K064020252 LÊ THÀNH ĐƯỢC K064020301 NGUYỄN THỊ MỸ NGỌC
K064020256 NGUYỄN TRUNG HẬU K064020312 NGUYỄN VINH QUANG
K064020262 NGUYỄN TRUNG HIẾU K064020313 TRỊNH ĐỖ MINH QUÂN
K064020266 LÊ QUANG HỢP K064020331 TRẦN NGỌC THẮNG
K064020274 NGUYỄN TUẤN KHA K064020366 TRẦN THỊ KIM UYÊN
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

1
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU |

GLOBAL STRATEGIC POSITIONING
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................................................................................ 1
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU ................................................................................................. 2

xuất thay thế với sự biến đổi các lợi thế tuyệt đối cũng như tương đối của nguồn nhân lực và
nguyên vật liệu. Một vài khu vực trên thế giới có thể cung cấp tính kinh tế nhờ quy mô đáng kể do
mức lương cạnh tranh, trong khi các khu vực khác cung cấp đáng kể tính linh hoạt nhờ trình độ
chuyên môn của mình. Các thách thức có liên quan đến việc tận dụng các lợi ích này bao gồm môi
trường khắt khe hơn của hoạt động logistic, cân nhắc về sự an toàn, và sự phức tạp hơn trong phân
tích tổng chi phí. Chương này bàn về các giai đoạn của tiến trình hợp nhất chuỗi cung ứng toàn cầu,
sự cần thiết và thách thức của an ninh toàn cầu, và kết thúc bằng các đường lối, nguyên tắc để thực
thi các quyết định tìm nguồn cung ứng trên phạm vi toàn cầu.
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
Trong khi một hệ thống logistics hiệu quả là quan trọng đối với việc hợp nhất chuỗi cung ứng nội
địa, nó cũng hoàn toàn cần thiết cho thành công của sản xuất và marketing toàn cầu. Logistics nội
địa tập trung vào thực hiện các hoạt động vận chuyển và lưu trữ để hỗ trợ việc sát nhập chuỗi cung
ứng trong một môi trường được kiểm soát một cách tương đối. Logistics toàn cầu phải hỗ trợ các
hoạt động trong các môi trường mang tính đa dạng về dân tộc, chính trị và kinh tế trong khi vẫn
phải đối mặt với tình trạng không chắc chắn gia tăng liên quan đến khoảng cách, nhu cầu, tính đa
dạng và các loại tài liệu trong thương mại quốc tế.
Thách thức đối với hoạt động của hệ thống logistics toàn cầu biến đổi một cách đáng ghi nhận ở
từng khu vực chủ yếu. Những thách thức đối với logistics ở Bắc Mỹ đó là một khu vực địa lý mở với
các lựa chọn vận tải rộng rãi, linh hoạt và hạn chế sự cần thiết của chứng từ xuyên biên giới. Các
chuyên gia logistics châu Âu, ngược lại, phải đương đầu với đặc tính tương đối phức tạp của vùng
liên quan đến nhiều tình huống về chính trị, văn hoá, luật lệ và ngôn ngữ. Cơ sở hạ tầng của châu
Âu cũng gần như quá tải do mật độ dân số và sự thật là nhiều tuyến đường đã lỗi thời hàng thế kỉ.
Những thách thức đặt ra cho logistics ở khu vực vành đai Thái Binh Dương đó là logistics dựa trên
nền tảng của các đảo, vốn có các yêu cầu mở rộng về chuyên chở bằng đường biển và đường hàng
không để vượt qua những khoảng cách bao la. Các đặc thù khác nhau này yêu cầu các công ty phải
có sự phát triển hoạt động trên phạm vi toàn cầu và duy trì các khả năng cũng như chuyên môn
phong phú của mình.
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

3

giữa quan niệm và khía cạnh quản lý của phát triển chiến lược. Bảng 12.2 liệt kê các đa75c điểm về
sản phẩm, chiến lược marketing, chuỗi cung ứng, cách thức quản lý, công nghệ thông tin, và chiến
lược nhân sự qua từng giai đoạn của tiến trình toàn cầu hóa. ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

4
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU | Khu vực Quốc gia GDP
(U.S$ billion)
Logistics
(U.S$ billion)
Logistics
(%GDP)
Bắc Mỹ
Canada 925 110 11.9%
Mexico 905 136 15%
Mỹ 10.308 957 9,3%
Cả vùng 12.131 1.230 9,9%
Châu Âu Bỉ 285 35 12,1%
Đan Mạch 166 23 13,6%
Pháp 1.601 186 11,6%
16,7%
%
Đức 2.236 374 16,7%
Hy Lạp 199 26 13%
Ai Len 143 21 14,9%

Xuất nhập khẩu
Hoạt động quốc tế : hiện
diện tại địa phương
Toàn cầu hóa
Trọng tâm mà
sản phẩm hướng
vào

Sản xuất và phân phối nội
địa
Tùy chỉnh thị trường địa
phương dựa vào sự trì hoãn
hay sản xuất tại địa phưong
Thương hiệu toàn cầu
Chiến lược
marketing
Khách hàng chuyên biệt
Tập trung vào các thị trường
đặc trưng, điều này có thể
vượt qua ranh giới quốc gia
Tất cả các khu vực kinh tế
Chiến lược chuỗi
cung ứng
Các đại lý và nhà cung cấp
dich vụ logistics thứ 3
Các chi nhánh và nhà phân
phối địa phương với các đặc
quyền kinh doanh chuyên biệt
và đã có mặt lâu năm
Dòng chảy rộng khắp thế giới

Quản lý tập trung vào
“nước chủ nhà “, hạn chế về
kinh nghiệm quốc tế
Hạn chế về quản lý cấp cao có
kinh nghiệm quốc tế và tập
trung vào những quyết định
mang nặng tính chất của
“nước mẹ”
Đào tạo quốc tế và kinh
nghiệm quốc tế được yêu cầu
đối với tất cả các quản lý cấp
cao và một số đòi hỏi cho
quản lý bậc trung
2.1 Xuất nhập khẩu : Triển vọng quốc gia
Giai đoạn đầu của thương mại quốc tế được đặc trưng bởi xuất nhập khẩu . Một tổ chức điển hình
thuộc dạng này thường tập trung vào hoạt động nội địa của nó và xem các giao dịch quốc tế theo
quan điểm hỗ trợ cho kinh doanh nội địa. Đặc biệt, một công ty sử dụng chiến lược xuất nhập khẩu
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

6
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU |

kết hợp với hoạt động nội địa để tăng doanh thu và giảm chi phí. Như bảng 12.2 đã chỉ ra, một
chiến lược xuất nhập khẩu tiêu biểu gồm sản phẩm đã chuẩn hoá được sản xuất tại nước chủ nhà,
tập trung vào một nhóm khách hàng hữu hạn, với các dịch vụ logictics chỉ được yêu cầu cho xuất
nhập khẩu và được cung cấp bởi các nhà cung ứng dịch vụ phức hợp chuyên biệt (ISPs). Cách thức
kinh doanh là thực hiện theo giao dịch, với báo cáo tài chính thông thường chỉ cung cấp một mức
độ hợp nhất duy nhất.
Định hướng kinh doanh xuất nhập khẩu của một quốc gia ảnh hưởng tới các quyết định thuộc
logictics theo ba cách. Thứ nhất, tìm nguồn cung ứng và sự lựa chọn nguồn tài nguyên bị ảnh

7
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU |

thiết lập sự hiện diện tại địa phương. Chiến lược hiện diện tại địa phương sử dụng kênh phân phối
và sản xuất tại địa phương được hỗ trợ bởi chiến lược trì hoãn để tuỳ chỉnh sản phẩm. Các công ty
có chi nhánh tại địa phương thường hạn chế hoạt động của mình ở một số khu vực địa lý giới hạn.
Khi bắt đầu một chiến lược hiện diện tại địa phương, những hoạt động ở nước ngoài thường sẽ bị
phụ thuộc vào việc quản lý của công ty mẹ, nhân sự, các giá trị, các thủ tục và các quá trình hoạt
động. Tuy nhiên, theo thời gian, các đơn vị kinh doanh hoạt động trong một thị trường ngoại sẽ
phải tuân theo các thực tiễn kinh doanh tại địa phương đó.
Việc tuân theo này điển hình nghĩa là phát triển độc nhất cách quản lý, marketing, những đơn vị bán
hàng và có thể bao gồm cả việc sử dụng các hệ thống kinh doanh địa phương. Khi hoạt động địa
phương mở rộng, phản ứng của nước chủ nhà sẽ gia tăng rõ nét; tuy vây, tầm nhìn chiến lược của
công ty mẹ vẫn chiếm ưu thế hơn. Những hoạt động tại các quốc gia riêng lẻ được đo lường so với
những tiêu chuẩn và kỳ vọng của nước mẹ.
2.3 Toàn cầu hoá : các doanh nghiệp vô chính phủ
Các doanh nghiệp vô chính phủ tương phản rõ nét với các hoạt động được chỉ đạo dưới góc độ
xuất nhập khẩu hay quốc tế. Khái niệm gốc của nó đã được phổ biến trong một bài báo của tờ
Business Week hơn 1 thập kỉ trước đây. Bài báo đã mô tả các doanh nghiệp vô chính phủ như những
ban điều hành cấp cao có thể ra quyết định một cách hiệu quả mà ít hoặc không cần quan tâm đến
vấn đề ranh giới quốc gia.
Những doanh nghiệp vô chính phủ duy trì hoạt động ở khu vực và phát triển mô hình trụ sở chính
để phối hợp hoạt động trên toàn khu vực. Như vậy, các doanh nghiệp này là vô chính phủ theo ý
nghĩa là không có nước nhà cụ thể hoặc nước mẹ chi phối chính sách. Các quản trị cấp cao có thể là
kết hợp của nhiều quốc tịch. Hoạt động của những doanh nghiệp này này dựa trên cơ sở của
marketing, những ý tưởng bán hàng địa phương và thường được hỗ trợ bởi hoạt động sản xuất và
logistics tầm cỡ thế giới. Nguồn cung ứng sản phẩm và các quyết định marketing có thể được thực
hiện qua một loạt các phương án thay thế tuỳ theo vùng địa lý. Các hệ thống và thủ tục được thiết
kế để thỏa mãn yêu cầu của từng nước và được tập hợp lại khi cần thiết để chia sẻ kiến thức và sử
dụng cho báo cáo tài chính. Một công ty toàn cầu thực sự sử dụng các thương hiệu toàn cầu với

Để giải quyết những thách thức được nêu lên ở trên, quản trị logistic phải lưu tâm đến năm điểm
khác biệt chính giữa hoạt động nội địa và hoạt động quốc tế : (1) cấu trúc quy trình hoạt động, (2)
vận tải, (3) cân nhắc hoạt động, (4) tích hợp hệ thống thông tin, và (5) sự liên minh. Các quyết định
trên phải được kết hợp chặt chẽ với chiến lược hoạt động toàn cầu của công ty.
3.1 Cấu trúc quy trình hoạt động
Độ dài của quy trình hoạt động là điểm khác biệt chính giữa hoạt động nội địa và hoạt động quốc
tế, hoạt động nội địa thay vì chỉ cần 1 đến 5 ngày thời gian vận chuyển và từ 2 đến 10 ngày tổng
thời gian thực hiện cả quy trình thì quy trình hoạt động toàn cầu thông thường cần vài tuần hay vài
tháng. Ví dụ: các bộ phận ô tô từ các nhà cung cấp ở khu vực vành đai Thái Bình Dương thường cần
60 ngày từ khi phát đơn hàng cho tới khi hàng hóa có mặt tại nhà máy sản xuất của công ty ở Mỹ.
Tương tự, hàng thời trang có thể cần từ 30 đến 60 ngày từ ngày đơn đặt hàng từ nhà sản xuất được
phát hành cho tới khi được vận chuyển từ bất kì nơi nào đến kho phân phối ở Mỹ.
Lý do dẫn tới quy trình đặt hàng và giao hàng dài hơn là sự chậm trễ trong trao đổi thông tin, yêu
cầu huy động vốn, các yêu cầu đóng gói đặc biệt, lịch chở hàng trên biển, thời gian chuyển tải chậm
và thông quan. Thông tin có thể bị chậm trễ do khác nhau về múi giờ và khác biệt về mặt ngôn ngữ.
Sự chậm trễ trong huy động vốn do yêu cầu phải có tín dụng thư (L/C) và quy đổi tiền tệ. Việc đóng
hàng đặc biệt có thể được yêu cầu để bảo vệ hàng khỏi hư hỏng trong quá trình vận chuyển do độ
ẩm, nhiệt độ, và các điều kiện thời tiết. Khi một sản phẩm được đóng vào container, nó phải được
lên lịch để vận chuyển tới và giữa các cảng nơi có khả năng bốc dỡ thích hợp. Quá trình sắp xếp lịch
ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

9
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU |

này có thể cần đến 30 ngày nếu cảng xuất phát và cảng đến không nằm trong tuyến giao thông
chiếm tỉ trọng khối lượng hàng hoá lớn hay cảng đích thiếu các cơ sở, thiết bị cần thiết. Thời gian
vận chuyển từ lúc tàu lên đường nằm trong khoảng 10 đến 21 ngày. Trì hoãn ở cảng là điều rất phổ
biến bởi khi đó tàu phải chờ cho các tàu hàng còn lại sử dụng xong các trang thiết bị của cảng. Việc
thông quan có thể làm kéo dài hơn nữa tổng thời gian vận chuyển. Mặc dù việc sử dụng hệ thống
báo cáo điện tử để khai báo các chuyến hàng cho hải quan trước khi chúng được vận chuyển đến

ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

10
A – HỢP NHẤT CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU |

các yêu cầu sở hữu quốc gia này, số các nhà cung ứng dịch vụ toàn cầu được thành lập đã tăng lên
như Deutsche Post, FedEx, TNT, và United Parcel Service (UPS).
Ảnh hưởng thứ hai của vấn đề giao thông vận tải đến hoạt động sản xuất kinh doanh toàn cầu là sự
gia tăng trong lĩnh vực tư nhân hóa vận tải. Trong lịch sử, nhiều hãng vận tải quốc tế do các Chính
Phủ của các quốc gia đó sở hữu và hoạt động với một nỗ lực nhằm xúc tiến thương mại và đảm bảo
an ninh quốc gia. Các hãng vận tải thuộc sở hữu của Chính Phủ thường được trợ cấp và thường thu
thêm các khoản phụ thu đối với các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng những dịch vụ này. Giá cả
cao một cách gượng ép cùng với dịch vụ nghèo nàn của các hãng vận tải nhà nước thường làm cho
việc vận chuyển trở nên tốn kém và không đáng tin cậy. Sự liên minh hóa mạnh mẽ và cách thức
làm việc cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả này. Sự kết hợp giữa chi phí hoạt động
cao nhưng với hiệu quả thấp đã làm nhiều hãng tàu thuộc sở hữu nhà nước thua lỗ. Một lượng lớn
các hãng tàu như vậy đã được tư nhân hóa và phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc tư
nhân hóa các hãng vận tải đã mang lại kết quả là sự có mặt của các hãng vận tải quốc tế hoạt động
hiệu quả gia tăng.
Những thay đổi trong các hiệp định dịch vụ song phương và chuyên chở nội địa là ảnh hưởng thứ
ba của giao thông vận tải lên các hoạt động thương mại quốc tế. Luật chuyên chở nội địa đòi hỏi
hành khách hoặc hàng hóa di chuyển giữa hai cảng trong một quốc gia chỉ được thực hiện bởi
những hãng vận tải nội địa. Ví dụ, vận chuyển bằng đường thủy từ Los Angeles đến New York đòi
hỏi phải sử dụng tàu của một hãng chuyên chở Mỹ. Các luật chuyên chở nội địa tương tự đã hạn
chế các hãng chuyên chở Canada chở một lô hàng cùng chuyến với lô hàng có xuất xứ từ Canada
được dỡ xuống tại Texas đến Detroit (việc chuyển lô hàng từ Texas đến Detroit không được cho
phép thực hiện bởi các hãng vận tải Canada). Luật chuyên chở nội địa được đặt ra nhằm bảo vệ
ngành công nghiệp vận tải trong nước mặc dù chúng cũng làm giảm thiểu việc tận dụng trang thiết
bị vận tải nói chung và hiệu quả có liên quan. Cộng đồng Châu Âu đã nới lỏng các hạn chế vận tải
trong nước để tăng hiệu quả thương mại. Các hạn chế được giảm bớt đó sẽ giúp các công ty Mỹ tiết

ngại về môi trường, và những yêu cầu về tính an toàn. Sự khác biệt về đặc trưng hoạt động bao
gồm chức năng sản phẩm cụ thể như tốc độ hay các điều kiện đi kèm. Những đặc tính kỹ thuật bao
gồm các nguồn cung cấp năng lượng, tài liệu và các thước đo. Những lo ngại về môi trường bao
gồm những hóa chất có thể được sử dụng hoặc những loại và lượng rác được thải ra. Những yêu
cầu về tính an toàn bao gồm sự ngừng hoạt động tự động và các tài liệu chuyên môn. Dù những
khác biệt nhỏ giữa các yêu cầu của các quốc gia là không quan trọng lắm, nhưng chúng có thể làm
tăng một cách đáng kể yêu cầu cho các đơn vị dự trữ và mức hàng tồn kho tiếp theo.
Vấn đề cần quan tâm thứ ba là tổng số chứng từ cần trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Trong khi
các hoạt động nội địa nói chung có thể được hoàn thành bằng cách chỉ sử dụng một loại hóa đơn
và vận đơn, những hoạt động quốc tế đòi hỏi các chứng từ quan trọng liên quan đến nội dung đặt
hàng, vận chuyển, định giá và kiểm soát của chính phủ. Bảng 12.3 liệt kê và mô tả các hình thức phổ
biến của chứng từ quốc tế.
Vấn đề thứ thư là sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thương mại đối lưu và thuế quan khấu trừ được tìm
thấy trong một số tình huống quốc tế. Mặc dù một số công ty có uy tín thích giao dịch tiền mặt
hơn, nhưng thương mại đối lưu vẫn rất quan trọng. Thương mại đối lưu, về bản chất, là khi người
bán đồng ý chấp nhận sản phẩm như việc thanh toán hoặc mua sản phẩm từ người mua như một
phần của sự thỏa thuận bán hàng. Trong khi những sự thỏa hiệp như vậy có những hệ quả về mặt
tài chính, chúng cũng có những tác động lớn đối với logistics và marketing trên quan điểm nhận
được hàng hoá chuyển nhượng như khoản thanh toán. Thuế quan được khấu trừ miêu tả những tình
huống khi một công ty trả thuế nhập khẩu hàng hóa ra nước ngoài nhưng thuế đã trả có thể được
khấu trừ hoặc hoàn trả lại nếu những mặt hàng hoặc một chỉ định ngang hàng được xuất khẩu. Ví
dụ, Pepsi cung cấp nước ngọt cho chính phủ Xô Viết, trong thực tế việc đóng chai và bán ra thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status