Đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh ở công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình của nền
kinh tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế hành
chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quẩn lí của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ chế mới này tất cả các thành
phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự mình tìm thị trường kinh doanh, tự
hạch toán kinh doanh, mở rộng thị trường của mình. Nếu doanh nghiệp nào làm
ăn có lãi, có chỗ đứng trên thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh nghiệp nào làm ăn
thua lỗ thì sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, môi trường kinh doanh
luôn biến động không ngừng cùng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kĩ
thuật thì các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới, hoàn thiện mình cả về
trình độ, năng lực, kinh nghiệm và hiện đại hoá công nghệ. Do đó, hoạt động
đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp đã trở
thành mối ưu tiên quan trọng trong định hướng phát triển sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà
nước, hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám sát, khảo sát thiết kế xây dựng, phục
vụ thi công những công trình thuỷ điện, thuỷ lợi và các công trình xây dựng
công cộng. Sản phẩm của công ty là các bản vẽ thiết kế kĩ thuật của các công
trình, các hạng mục công trình và các con số khảo sát, đặc điểm về chất đất, các
kết luận thí nghiệm…. Đây là những sản phẩm chứa hàm lượng chất xám lớn,
sản phẩm có chính xác, có phù hợp với thiết kế kĩ thuật hiện đại hay không đều
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ công nhân
viên làm công tác khảo sát, thí nghiệm, thiết kế, tư vấn của công ty cùng với độ
chính xác , hiện đại của trang thiết bị máy móc thí nghiệm khảo sát. Do đó, đầu
tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ ở công ty có vai
trò quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà,
được sự hướng dẫn tận tình của Giảng viên chính bộ môn Kinh tế đầu tư cùng

tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy,
mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những
hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Các nguồn lực phải hy sinh cho hoạt động đầu tư có thể là tiền , tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ của con người.
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền
vốn), tài sản vật chất (nhà xưởng, đường xá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí
tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lí, khoa học kĩ thuật...) và nguồn nhân
lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất
xã hội.
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hy
sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò
quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ với người bỏ vốn mà cả đối với
toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh
tế xã hội được thụ hưởng. Chẳng hạn một nhà máy được xây dựng, tài sản vật
chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực
sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm.
Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho người đầu
tư là lợi nhuận còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất
và cho sinh hoạt) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết
việc làm cho lao động....
3
Trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động tăng thêm không
chỉ có lợi cho chính họ (trong việc có thu nhập cao và địa vị cao trong xã hội)
mà còn bổ sung nguồn lực có kĩ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công
nghệ ngày càng hiện đại, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và kĩ thuật của
nền sản xuất quốc gia.
Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ cho người đầu tư mà cả nền
kinh tế xã hội được hưởng thụ trên đây, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của
người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế xã hội chính là đầu tư phát triển. Ngoài

1. Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể phân
biệt đầu tư thành các dạng sau
1.1. Đầu tư tài chính
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền cho vay hoặc mua các chứng
chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ)
hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
phát hành (mua cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty). Đầu tư tài sản tài chính không
tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân (nếu không xét đến quan hệ quốc tế
trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân
đầu tư (đánh bạc, đánh đề...cũng là một hình thức đầu tư tài chính nhưng không
được pháp luật cho phép do gây nên các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt động của
hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có
thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ
phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để
giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là nguồn
cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
1.2. Đầu tư thương mại
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau
đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi
bán. Loại hình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu
không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản của người đầu tư trong quá
trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và
5
người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương
mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát
triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích
luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã
hội nói chung( Chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư
thương mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa
thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu thông phân

hỏi những người lập kế hoạch đầu tư dài hạn của công ty phải rất cẩn thận và có
tầm nhìn chiến lược thật tốt nếu không sẽ làm cho kế hoạch đầu tư không được
thành công và kéo theo là sự sụp đổ của doanh nghiệp hoặc làm cho doanh
nghiệp không thể phát triển được. Do thời hạn của đầu tư dài hạn là rất dài so
với sự thay đổi của tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường nên bên cạnh
các kế hoạch đầu tư dài hạn có tính chất định hướng, doanh nghiệp còn luôn
luôn phải đề ra những kế hoạch ngắn hạn nhằm từng bước hiện thực hoá kế
hoạch đầu tư dài hạn, tránh sự phát triển lệch lạc và bám sát hơn với sự phát
triển của nền kinh tế.
2.2. Đầu tư ngắn hạn
Là kế hoạch đầu tư có thời gian đầu tư ngắn, thường là dưới 10 năm. Đầu
tư ngắn hạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty tuỳ theo mỗi
thời kì ngắn. Là cách mà doanh nghiệp có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài hạn.
Thông qua đầu tư ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ có đối sách tốt hơn, phản ứng
nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường. Đầu tư ngắn hạn của doanh
nghiệp sẽ sớm thu hồi vốn và lợi nhuận hơn so với đầu tư dài hạn. Đầu tư ngắn
hạn không yêu cầu phải huy động một khối lượng vốn đầu tư lớn và một số
lượng nhân lực nhiều nhưng đòi hỏi những nhà quản lí của doanh nghiệp phải có
một cái nhìn, một phản ứng nhanh nhạy đối với thị trường trong mỗi sự biến
động của thị trường.
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung những khuyết điểm của nhau
và tạo cho sự phát triển thông thoáng nhanh nhạy của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường đầy biến động. Các kế hoạch đầu tư tạo cho doanh nghiệp hoạt
động một cách trơn tru và phản ứng tốt với biến động của thị trường.
7
III. Vai trò của hoạt động đầu tư
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyêt kinh tế, cả lí
thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng
trưởng.

động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên( đường S dịch chuyển
sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q
0
-Q
1
và do đó giá cả sản phẩm
giảm từ P
0
-P
1
. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu
dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển
là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho
người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
8
b. Đầu tư tác động đến sự ổn định của nền kinh tế theo 2 mặt:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu
và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là
tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố
phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho
giá của các hàng hoá có liên quan tăng( giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động,
vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lượt mình, lạm
phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn
do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm
lại. Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất
của các nghành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất
nghiệp, nâng cao đời sống của người lâo động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác
động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư( như Việt Nam thời kì 1982-1989) cũng dẫn đến tác

Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những
phương án không khả thi.
f. Đầu tư tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng
trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với GDP tuỳ
thuộc vào ICOR của mỗi nước.
10
Vốn đầu tư Vốn đầu tư
ICOR = -------------------------- = ----------------
GDP do vốn tạo ra

GDP
Từ đó suy ra:
Vốn đầu tư
Mức tăng GDP = ----------------
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng của GDP hoàn toàn phụ thuộc vào
vốn đầu tư.
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao
động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ
hiện đại có giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2-3 do thiếu
vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn
do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Số liệu thống kê
trong những năm qua của các nước và lãnh thổ về ICOR như sau:
Chỉ tiêu ICOR của các nước
Các nước Thời kì 1963-1973 Thời kì 1973-1981 Thời kì 1981-1988
Hồng Kông
3,6 3,4 3,9

đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, duy trì và
phát triển cơ sở vật chất của nền kinh tế.
IV. Vốn đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư
1. Vốn đầu tư
Vốn đầu tư là khái niệm dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi dùng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu về một nguồn lực mới có khối
lượng và giá trị lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Đối với đầu tư phát triển nói riêng
thì vốn đầu tư chính là các khoản tiền, khoản của cải vật chất, nguyên nhiên vật
liệu và hàng hoá chi dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh để thu về khoản
lợi nhuận lớn hơn trong tương lai.
Đối với một doanh nghiệp thì vốn đầu tư xuất hiện từ khi doanh nghiệp
còn chưa hình thành và sẽ tiếp tục phát triển đến khi nào doanh nghiệp dừng
hoạt động. Hiện nay, vốn đầu tư là một trong những nhân tố tiên quyết trong sự
phát triển của bất kì một doanh nghiệp nào
2. Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và của
12
xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư
nước ngoài.
Xét về bản chất thì nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm
hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản
xuất xã hội.
3. Các nguồn huy động vốn
3.1. Vốn trong nước
a. Nguồn vốn Nhà nước:
Bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà
nước.
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách

khi gặp rủi ro, nên lượng vốn này tích luỹ trong dân còn chưa được khai thác
triết để, chưa được huy động một cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của
nền kinh tế đất nước. Mấy năm gần đây, khi nền kinh tế có những bước phát
triển khả quan, các doanh nghiệp tư nhân càng ngày càng được tự do hơn trong
hoạt động nên hoạt động đầu tư trong khu vực tư nhân ngày càng gia tăng, vốn
trong dân cũng được sử dụng một cách có hiệu quả hơn.
c.Thị trường vốn:
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
của các nước có nền kinh tế thị trường. Đây là kênh bổ sung chủ yếu các nguồn
vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư bao gồm cả Nhà nước và các loại hình
doanh nghiệp, là cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém
hiệu quả sang nới sử dụng có hiệu quả hơn. Trên thị trường vốn, bất kì các
khoản vốn sử dụng nào cũng đều phải trả gia, vì vậy các chủ đầu tư muốn sử
dụng vốn phải cân nhắc kĩ lưỡng về hiệu quả đầu tư và việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn vốn huy động từ thị trường vốn.
3.2. Nguồn vốn nước ngoài
- Vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu tài trợ các nước đang phát triển. Đây
chính là nguồn vốn mang tính ưu đãi nhiều nhất đối với các nước đi vay, ngoài
14
các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn lớn, bao
giờ ODA cũng có thêm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%.
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, tuy không có lãi suất
ưu đãi và dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó lại có ưu điểm là không gắn
với các ràng buộc về chính trị xã hội. Vì lãi suất cao và không dễ dàng để có thể
vay nguồn vốn này nên nguồn vốn này thường chỉ được sử dụng trong việc đáp
ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Đối với nguồn vốn này hiện
nay đối với Việt Nam vẫn còn khá hạn chế.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng
cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước

Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
E
tc
= ---------------------------------------------------------------------------------
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên
E
tc
được coi là hiệu quả khi E
tc


E
tc0
Trong đó: E
tc
- Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kì
khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đã đạt
tiêu chuẩn hiệu quả.
4.1.1. Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án người ta sử dụng hệ
thống chỉ tiêu sau
a. Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Đây là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư, chỉ tiêu
lợi nhuận thuần tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động
trong từng năm của đời dự án, hoặc hiệu quả hoạt động của toàn bộ công cuộc
đầu tư.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư ( hệ số thu hồi vốn):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm




- I
vo
- Vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại( dự án bắt đàu hoạt động).
- W
ipv
- Lợi nhuận thuần năm i tính chuyển về thời điểm hiện tại.
- NPV- Thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm hiện tại.
c. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có (r
E
):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần từng năm tính trên 1 đơn vị
vốn tự có bình quân của năm đó.
r
E
=
i
i
E
W
Trong đó: r
E
- Tỷ suất sinh lời vốn tự có.
E
i
-Vốn tự có bình quân năm i.
W
i
- Lợi nhuận thuần năm i.
Nếu tính cả đời dự án(npv
E

O
L
=
Trong đó:
pv
O
- Doanh thu thuần bình quân năm i của dự án.

pv
Wc
- Vốn lưu động bình quân của cả đời dự án.
e. Chỉ tiêu tỷ số lợi ích- chi phí ( B/C ):
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra,
dự án có hiệu quả khi B/C

1. Dự án không có hiệu quả khi B/C

1.
17
f. Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư ( T ):
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn
đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án có hiệu quả
khi T

tuổi thọ của dự án hoặc T

T định mức. Thời gian thu hồi vốn càng
ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao.
g. Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu





=
1
=
i
m
j
j
Ivhd
W









=
1
Trong đó: W
j
- Lợi nhuận thuần của dự án j




vhdpv
pv
I
W
vhdpv
I
- Vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân năm của thời kì nghiên
cứu được tính theo cùng mặt bằng với lợi nhuận thuần.
pv
W
- Lợi nhuận bình quân năm của kỳ nghiên cứu tính theo giá trị ở mặt bằng
hiện tại của tất cả các dự án hoạt động trong kì.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tăng thêm của vốn tự có của doanh nghiệp do
đầu tư từng năm (
Ei
r

) hoặc bình quân năm thời kì nghiên cứu (
t
E
r

).

Ei
r

=(r
Ei
- r

) thời kì nghiên cứu:


L
Wci
=(
WCi
L
-
1

WCi
L
)K > 0

WCt
L

=(
WCt
L
-
1

WCt
L
)K > 0
d. Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư giảm kỳ nghiên cứu(t ) so với kỳ
trước( t-1):











1
< 0
f. Chỉ tiêu tăng năng suất lao động của doanh nghiệp từng năm hoặc bình
quân năm thời kì ngiên cứu so với trước thời kì do đầu tư:


E
Li
= (E
Li
- E
Li-1
)K > 0


Lt
E
= (
Lt
E
-

mình.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển nhanh
chóng, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn, do vậy Nhà nước cũng có
nhiều những chính sách, những văn bản pháp luật tạo có tính chất thông thoáng
hoặc ưu tiên cho các doanh nghiệp xây dựng trong nước có nhiều điều kiện để
phát triển. Đây chính là một thuận lợi rất lớn mà môi trường pháp lí mang lại
cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như công ty cổ phần tư vấn
xây dựng Sông Đà. Tuy nhiên, chính môi trường pháp lí đôi khi vẫn còn có
những hiện tượng quan liêu, chồng chéo lên nhau cộng với sự tha hoá của một
số cán bộ làm công tác quản lí Nhà nước đã trở thành rào cản rất lớn đối với quá
trình giải ngân vốn đầu tư hoặc giải phóng mặt bằng xây dựng làm cho các công
ty xây dựng nhiều khi bị ứ đọng vốn tại các công trình, tạo ra sự thất thoát lớn
về vốn. Đây chính là những điều kiện bất lợi mà môi trường pháp lí có thể gây
20
ra cho các công ty xây dựng, vấn đề này cần phải được giải quyết sớm thì mới
tạo sức hút đầu tư đối với các nhà đầu tư xây dựng và các công ty xây dựng nói
riêng.
1.2. Môi trường kinh tế
Các nhân tố kinh tế có vai trò quyết định trong việc hoàn thiện môi trường
kinh doanhvà ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Môi trường
kinh tế là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng. Môi trường kinh tế vừa tạo
ra các cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp, vừa có thể là nhân tố đầu tiên và
chủ yếu trong việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp nếu định hướng và
hoạt động của doanh nghiệp không tuân theo quy luật phát triển của nó. Đây
chính là nhân tố tác động trực tiếp nhất đến định hướng kinh doanh và phát triển
của doanh nghiệp. Do đó, khi đưa ra một chiến lược đầu tư cho doanh nghiệp
mình, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều phải phân tích kĩ càng các biến động
của môi trường kinh tế mà doanh nghiệp mình tham gia.
1.3. Môi trường khoa học công nghệ

các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt xoay quanh việc giành khách hàng- nhân
tố quyết định đến doanh thu của bất kì một doanh nghiệp nào. Trong chính sách
đầu tư của các doanh nghiệp, đầu tư mở rộng thị trường, chế độ chính sách thu
hút khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình luôn được chú trọng
đầu tư phát triển. Đối với bất kì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, việc
thu hút chăm sóc khách hàng đã trở thành nhân tố quyết định sự sống còn của
chính doanh nghiệp. Vì vậy, khách hàng chính là một nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến các kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp, là nhân tố định hướng cho việc
đầu tư của doanh nghiệp.
2.3. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động
của mỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Cùng với thời gian và sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học kĩ thuật
hiện đại, cơ sở vật chất của doanh nghiệp cũng ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc
hoặc không phù hợp để chế tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thời
22
đại. Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của
doanh nghiệp mình thì trong chiến lược đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại
hoá và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh
doanh.
2.4. Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp
Trong một môi trường kinh tế phát triển mạnh và luôn biến động như hiện
nay, các doanh nghiệp luôn luôn bị đe doạ bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ môi
trường kinh tế, doanh nghiệp nào biết cách làm chủ những biến động đó thì sẽ
hoạt động an toàn hơn và có nhiều cơ hội tồn tại, phát triển hơn so với các doanh
nghiệp khác. Việc xây dựng các kế hoạch, mục tiêu phát triển của các doanh
nghiệp chính là phương thức hữu hiệu để loại bỏ bớt các yêú tố rủi ro do môi
trường kinh tế đem lại. Vì vậy, bất kì doanh nghiệp nào đi vào hoạt động đều có
các mục tiêu, chiến lược và các định hướng phát triển, chúng là nhân tố chủ
quan chính ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, mục tiêu và

Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
Công ty Tư vấn Xât dựng Sông Đà hoạt động theo giấy phép kinh doanh
số 111517 do Sở kế hoạch và đàu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 16 tháng 12
năm 1996 với những nghành nghề kinh doanh chính như sau:
- Khảo sát thiết kế công trình công nghiệp công cộng.
- Tư vấn dịch vụ xây dựng, trang trí nội thất.
- Khảo sát địa hình địa chất công trình và địa chất thuỷ văn các công trình
xây dựng.
- Thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất, đá, nền móng và vật
liệu xây dựng cho các công trình xây dựng.
- Lập quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các công trình dân dụng,
công nghiệp và công trình kỹ thuật hạ tầng đo thị đến nhóm A
- Lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư các công trình dân dụng, công
nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị đến nhóm A.
- Thiết kế đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 500 kv.
- Tư vấn lập hồ sơ mời thầu xây lắp, hồ sơ mời thầu thiết bị các công trình
xây dựng dân dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, các công trình kỹ thuật hạ
tầng đô thị đến nhóm A.
- Tư vấn giám sát xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình xây dựng dân
dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị đến
nhóm A.
- Xác định hiện trạng và đánh giá các nguyên nhân sự cố các công trình
xây dựng, khoan phun và xử lý nền móng các công trình xây dựng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status