Tiểu luận Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài - Pdf 31

Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................
2. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................
3. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................
5. Bố cục đề tài..................................................................................................
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ
THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc và quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nước ngoài...................................................................................1
1.1.1.Khái niệm về quan hệ thứa kế theo di chúc..................................................1
1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài..............2
1.2. Nguồn lực điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài......................................................................................................................5
1.2.1. Khái niệm....................................................................................................5
1.2.2.Các loại nguồn..............................................................................................6
1.2.2.1.Điều ước quốc tế..................................................................................6
1.2.2.2. Pháp luật quốc gia...............................................................................6
1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài......................................................................................................................7
1.3.1.Khái niệm.....................................................................................................7
1.3.2. Các phương pháp điều chỉnh.......................................................................8
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp.........................................................................8
1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp.........................................................................8
1.4 Các nguyên tắc chung và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài..........................................9
1.4.1. Các nguyên tắc chung về quan hệ thừa kế theo di chúc ở Việt Nam..........9
1.4.1.1 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc................................9

2.2.1.3. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực..........................................28
2.2.1.4. Những trường hợp khác di chúc được thể hiện dưới dạng văn bản. .29
2.2.2. Di chúc miệng............................................................................................31
2.3. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các tranh chấp về quan hệ
thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài......................................................32
2.3.1. Những trường hợp mà Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp về thứa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài....................................32
2.3.2. Những trường hợp mà Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp về thứa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài...................35


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ QUAN HỆ
THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
3.1. Thực trạng về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài........37
3.1.1. Hình thức di chúc.................................................................................37
3.1.2. Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc................................38
3.1.3. Người lập di chúc.................................................................................39
3.1.4. Vấn đề sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng......42
3.1.5. Vấn đề hình thức di chúc miệng...........................................................42
3.2. Hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài....43
3.2.1. Hình thức lập di chúc...........................................................................43
3.2.2.Năng lực lập di chúc..............................................................................44
3.2.3.Người lập di chúc..................................................................................44
3.2.4. Vấn đề sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ chồng.....45
3.2.5. Vấn đề về hình thức di chúc miệng......................................................45
KẾT LUẬN........................................................................................................47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................



nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, các


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp.
Trong khi đó, về vấn đề này pháp luật của các nước lại có quan điểm, giải pháp rất
khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật trong lĩnh vực này. Do đó
việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn chế định này trong pháp luật
mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết.
Bởi vậy, nghiên cứu về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ý
nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó và xuất phát từ những nhu
cầu và thực tiễn của pháp luật hiện nay, đề tài này nhằm phân tích rõ các quy định của
pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, qua đó đánh
giá thực trạng pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện
nay. Đồng thời nêu lên những quan điểm, và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về quan hệ thừa kế ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp như: phân tích câu chữ của
luật viết, so sánh, diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể, thu
thập thông tin dựa trên những qui định của pháp luật, các sách, tạp chí…, để làm sáng
tỏ các vấn đề được đặt ra và giải quyết trong tiểu luận.
5. Bố cục của đề tài:
Ngoài lời nói đầu và kết luận, tiểu luận được chia ra làm 03 chương:
Chương 1: Những lý luận về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài.
Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo di chúc có
yếu tố nước ngoài.


Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản (chuyển dịch di sản thừa kế) của người chết
cho những người khác theo sự định đoạt một cách tự nguyện (bằng di chúc) của người đó khi
còn sống.
1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là thừa kế được nghiên cứu trong phạm vi
Tư pháp quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ thừa kế được xác
định theo quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lá quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ
quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan
hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài
sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, theo định nghĩa này thì quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài gồm có 3 yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất về mặt chủ thể: Có ít nhất một
trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài; Yếu tố thứ hai về mặt khach thể: Những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; và Yếu tố thứ ba về sự kiện
pháp lý: Có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, có thể định nghĩa quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là: “Quan hệ thừa kế theo di chúc mà trong đó
1

Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), NXB Công an nhân dân, 1997, tr.237.

2

Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), NXB Công an nhân dân, 1997, tr.238


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ thừa kế theo di chúc giữa các bên

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, trang 56.

4

Khoản 2 Điều 3 Nghị định 138/2006 NĐ-CP quy định: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt

Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”.
5

Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Được thành lập hợp pháp;
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”
Điều 85 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức
hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
6

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, trang 65.

7

Khoản 5 Điều 3 Nghị định 138/2006 NĐ-CP quy định: “Pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập

theo pháp luật nước ngoài”.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

nghĩa thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý có căn cứ xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ thừa kế theo di chúc theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài.
Và sự kiện pháp lý này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài.
1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Khái niệm
Nguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình thành
chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy đủ tính chất
của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo đảm thực hiện
bằng sức mạnh của bộ máy công lực8. Còn nguồn của tư pháp quốc tế, về mặt lý luận chung
nguồn là nơi xuất phát, là nơi chứa đựng, cụ thể nguồn của tư pháp quốc tế là hình thức chứa
đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thuộc đối
tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế9. Dựa vào nguồn của Tư pháp quốc tế ta có thể định
nghĩa nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa
8
9

Luật gia Nguyễn Ngọc Điện, Bài giảng Các nguồn của luật, 2008, trang 2.
Diễn đàn sinh viên luật: Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế,

http://sinhvienluat.vn/diendan.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng, vì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là
một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Vì vậy, nguồn luật điều chỉnh
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các quy phạm
và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
nước ngoài.
1.2.2. Các loại nguồn luật
Do là một bộ phận của tư pháp quốc tế, nên nguồn quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu

chỉnh đặc thù khác nhau. Ví dụ: ngành luật dân sự: thoả thuận; ngành luật hành chính: mệnh
lệnh; ngành luật hình sự: quyền uy phục tùng, …11.
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu
tố nước ngoài nói riêng đều là một bộ phận của tư pháp quốc tế nên ta có thể dựa vào các
phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà định nghĩa phương pháp điều chỉnh của quan
10

Thông tin hướng dẫn nghiệp vụ: Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia

nhập có phải căn cứ pháp lý không ?, http://vbqppl.moj.gov.vn/huongdannv/list/tailieunghiepvu.
11

Diễn đàn sinh viên luật: Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế,

http://sinhvienluat.vn/diendan.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cụ thể, phương pháp điều chỉnh của tư pháp
quốc tế là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan
hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các
quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị12. Tương tự, phương pháp điều
chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các biện pháp, cách
thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài làm cho quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị.
1.3.2. Các phương pháp điều chỉnh
Các phương pháp điều chỉnh là các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác
động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được biểu hiện ở hai phương
pháp cụ thể là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)

13

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, trang 3.

14

Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Tư pháp, 2004, tr.34.

15

Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.40.

16

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, trang 3.

17

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, trang 19.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
- Quy phạm xung đột hai bên (hay còn gọi là quy phạm xung đột hai chiều): quy phạm
không quy định phải áp dụng pháp luật của nước đã ban hành ra quy phạm này (hoặc tham gia
xây dựng quy phạm này) hay của nước khác một cách cụ thể, mà chỉ vạch ra nguyên tắc
chung xác định pháp luật nước nào sẽ phải được áp dụng. Như vậy có nghĩa là quy phạm
xung đột quy định không những áp dụng pháp luật của nước mình, mà cả những trường hợp
áp dụng pháp luật của các nước khác18.
1.4. Các nguyên tắc chung và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ thừa
kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo
pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di
sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản
theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều
643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
hay tổ chức (cơ quan và tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế) nhưng pháp
luật vẫn đảm bảo quyền thừa kế của họ theo di chúc nếu di chúc này hợp pháp.
1.4.1.3. Nguyên tắc cá nhân người thừa kế theo di chúc phải còn sống và cơ quan, tổ
chức phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó. Đặc thù đó được ghi nhận
ngay trong các quy định của pháp luật như là một nguyên tắc. Nguyên tắc này đã được quy
định tại Điều 11 Sắc lệnh số 97-SL: “Trong lúc sinh thời, người chồng goá hay người vợ goá,
các con đã thành niên quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã
thanh toán tài sản chung”20.
Người thừa kế theo di chúc căn cứ theo quy định tại Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2005:
“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và
còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. Bởi vì, theo quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 14 Bộ
luật dân sự năm 2005 thì: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra
và chấm dứt khi người đó chết”. Pháp luật còn quy định bảo vệ quyền thừa kế của người đã
hình thành thai nhưng chưa ra đời cũng là người thừa kế theo di chúc21. Vì người có tài sản có
quyền định đoạt tài sản của mình cho người đã thành chưa ra đời được hưởng di sản và bào

Điều 641 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của

nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết
trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người
do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật
này”.
24

Khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 quy định: “Người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản,

trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản. Người thừa kế
có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác”.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.4.2. Các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ thừa kế theo di chúc có
yếu tố nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế, khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, chúng ta sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần giải
quyết.
1.4.2.1. Nguyên tắc luật quốc tịch
Về nguyên tắc, mỗi cá nhân đều có mối quan hệ pháp lý mật thiết với một nhà nước, sẽ
được hưởng những quyền và sự bảo hộ của quốc gia, cũng như phải chịu những nghĩa vụ
pháp lý mà quốc gia quy định. Cụ thể theo Điều 1 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy
định: “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với
Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với
công dân Việt Nam”. Tương tự tại khoản 2 Điều 5 Luật này cũng quy định: “Công dân Việt
Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và
phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp


TS. Đỗ Văn Đại – PGS.TS. Mai Hồng Quỳ, Sách chuyên khảo Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB Chính trị quốc

gia Hà Nội, 2010, trang 624.
27

Thái Công Khanh, Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế, tạp chí Toà án nhân dân tháng

10/2006 (số 20), trang 2 và 3.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Bên cạnh nguyên tắc luật quốc tịch thì nguyên tắc luật nơi cư trú cũng được áp dụng để
giải quyết các vấn đề quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài (cụ thể là giải quyết
vấn đề về năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc). Theo nguyên tắc luật nơi cư trú
thì sẽ áp dụng pháp luật của nhà nước mà đương sự cư trú. Cụ thể, nguyên tắc này được áp
dụng trong trường hợp đương sự không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch. Tức khi
các vấn đề về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài phát sinh mà nguyên tắc luật
quốc tịch không thể xác định được hệ thống pháp luật nào được áp dụng để giải quyết vấn đề
này thì ta sẽ áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú để xác định pháp luật nào được áp dụng để
giải quyết quan hệ đó (giải quyết các vấn đề về năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di
chúc). thì cơ bản áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú28.
Như vậy, theo quy định này thì pháp luật áp dụng để xác định năng lực pháp luật dân sự
của người không quốc tịch lập di chúc là pháp luật của nước nơi người đó cư trú, còn nếu
người đó không có nơi cư trú thì pháp luật của Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định. Còn
đối với người có hai hay nhiều quốc tịch thì pháp luật được áp dụng là pháp luật của nước mà
người đó mang quốc tịch và cư trú vời thời điểm phát sinh quan hệ dân sự, trong trường hợp
người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì pháp luật của
nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân sẽ
được áp dụng để xác định năng lực pháp luật dân sự của người có hai hay nhiều quốc tịch lập

29

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong

Tư pháp quốc tế, http://www.hcmlaw.edu.vn/hcmlaw.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
hình sự, hành chính, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Bên
cạnh đó, trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, số lượng đội ngũ chuyên gia, cán bộ, nhân viên
của các công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện nước ngoài vào Việt Nam thực hiện các
chương trình, dự án đầu tư, kinh doanh sản xuất, làm ăn với các đối tác Việt Nam ngày càng
tăng lên. Số lượng công dân Việt Nam được gửi đi lao động hợp tác ở nước ngoài cũng tăng
lên đáng kể, trong đó phải kể đến số lao động được gửi đi Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Malayxia và một số nước khác. Cùng với đó, số lượng khách du lịch nước ngoài và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh Việt Nam càng ngày càng nhiều30.
Trước bối cảnh đó, đã làm gia tăng hết sức mạnh mẽ các giao lưu về dân sự có yếu tố
nước ngoài đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh. Trong đó có quan hệ thừa kế nói chung và
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Khi vấn đề thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài phát sinh thì đặt ra vấn đề là có thể nhiều pháp luật của các nước khác
nhau liên quan đến quan hệ đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này, bởi vậy
mà dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật giữa các nước31.
Ở Việt Nam, tuy quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài đã được quy định
cụ thể ở phần thứ bảy về “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” trong Bộ luật dân sự năm
2005 của Việt Nam và ở Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006, quy định
chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
1.5.2. Vai trò của pháp luật về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền, hội nhập quốc tế, ở nước ta hiện nay hệ thống pháp luật về quan hệ dân sự có yêu tố
nước ngoài nói chung và pháp luật về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói

Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để

lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
34

Xem Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005.

35

Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), NXB Công an nhân dân, 1997, tr.237.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Mặt khác, Nhà nước khuyến khích công dân bằng sức lao động của mình tạo ra nhiều
của cải cho xã hội, làm giàu cho gia đình, làm cho đất nước văn minh và phồn vinh36.

36

Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), NXB Công an nhân dân, 1997, tr.240.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Qua những gì đã trình bày cũng như phân tích ở trên, đã cho chúng ta thấy trong
việc giải quyết quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì theo pháp luật
Việt Nam chúng ta áp dụng hai nguyên tắc cơ bản và chủ yếu nhất để giải quyết quan
hệ đó là nguyên tắc luật quốc tịch và nguyên tắc pháp luật nơi lập di chúc. Đối với

37

Khoản 1 Điều 13 Nghị định 138/2006 NĐ-CP quy định: “Năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di

chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch. Trong trường hợp người lập di
chúc không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì việc xác định pháp luật áp dụng về thừa
kế theo di chúc tuân theo quy định tại Điều 760 của Bộ luật dân sự và Nghị định này”.
38

Xem Khoản 1 Điều 760 Bộ luật dân sự năm 2005.

39

Xem Khoản 2 Điều 760 Bộ luật dân sự năm 2005.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
không quy định cá nhân có thể lập bao nhiêu bản di chúc. Vì di chúc chỉ phát sinh hiệu
lực pháp luật kể từ khi người lập di chúc chết vè nếu một người để lại nhiều bản di
chúc thì bản di chúc cuối cùng có hiệu lực thi hành40.
Theo quy định của pháp luật thừa kế của nước ta thì người đã thành niên có
quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác
mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình 41. Như vậy, theo quy định
này của pháp luật thì người lập di chúc không phân biệt là nam hay nữ, thành phần, tôn
giáo, … chỉ cần cá nhân đủ từ 18 tuổi trở lên 42, không tâm thần hoặc mắc bệnh khác
không thể làm chủ hành vi của mình có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình cho người thừa kế.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 thì
“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được
cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”. Như vậy, người tuy chưa đủ 18 tuổi nhưng đã đủ


Xem Khoản 3 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
năm 2005 thì: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Vì vậy, về nguyên tắc, chỉ những người đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền lập di
chúc. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Người đã
thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình”. Theo quy định
này thì cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên không tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không
thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình có quyền lập di chúc để định đoạt tài
sản của mình cho người thừa kế. Người trưởng thành và có đủ năng lực hành vi dân sự
phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đồng thời có quyền thực hiện các hành
vi dân sự hợp pháp, một trong các hành vi đó là hành vi lập di chúc. Khác với người từ
đủ 15 tuổi đến 18 tuổi, người tử đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
có quyền lập di chúc, không cần bất kì sự đồng ý của cha, mẹ hoặc của người giám hộ
hợp pháp46.
Tuy nhiên, nhận thức của những người ở độ tuổi này chưa thật sự hoàn hảo, chưa
chủ động để kiểm soát được sự định đoạt trong di chúc của mình nên họ chỉ được lập
di chúc trong điều kiện khi có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ47.
Một vấn đề đặt ra cần được làm rõ là trường hợp cá nhân dưới 15 tuổi, thông
minh, có tài sản riêng và làm chủ hành vi của mình trong việc lập di chúc và cũng
được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý thì di chúc do người này lập ra có hiệu lực
pháp luật hay không ? Câu trả lời là di chúc do người trong độ tuổi dưới 15 tuổi lập ra,
cho dù người lập di chúc làm chủ hành vi của mình thì di chúc này cũng không có giá
trị pháp lý. Vi pháp luật không cho phép người ở độ tuổi này lập di chúc48.
Tuy nhiên, một người trên 18 tuổi vẫn bị coi là mất năng lực hành vi dân sự nếu
họ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình49.

chúc đó không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật51.
2.1.2. Thay đổi và huỷ bỏ di chúc
2.1.2.1. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc cá nhân
Thông thường di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế do đó lúc
còn sống người có tài sản có quyền lập nhiều di chúc. Ý chí của cá nhân có thể thay
đổi do sự biến động của nhiều yếu tố khác nhau, vì vậy khi còn sống, một cá nhân dù
đã lập di chúc nhưng vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập52.
Thứ nhất, sửa đổi di chúc: Việc sửa đổi di chúc là việc người lập di chúc bằng ý
chí tự nguyện của mình làm thay đổi một phần di chúc đã lập. Những phần di chúc
không bị sửa đổi vẫn có hiệu lực; phần di chúc đã bị sửa đổi sẽ không còn hiệu lực mà
thay vào đó pháp luật sẽ căn cứ vào ý chí thể hiện trong sự sửa đổi sau cùng 53. Hay,
việc sửa đổi di chúc liên quan tới việc thay đổi nội dung của di chúc đã lập, theo đó số
“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người
đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự”.
50

Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường

hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của
mình”.
51

Khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác

dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức
hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

của mình chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp) thì có quyền lập một di chúc khác
để thay di chúc đã lập trước. Khoản 2 Điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc
trước bị huỷ bỏ”57.
Thứ tư, huỷ bỏ di chúc: Là người đã lập di chúc bằng ý chí tự nguyện của mình
truất bỏ di chúc đã lập. Khoản 3 Điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005 xác định một
trường hợp được coi là huỷ bỉ di chúc: khi người lập di chúc thay thế di chúc đã lập.
Tuy nhiên, thực tế việc huỷ bỏ di chúc còn có thể được người lập di chúc thực hiện
bằng nhiều cách khác nhau. Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định về hình thức huỷ
54

TS. Phùng Trung Lập, Sách chuyên khảo luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, 2008, trang 66.

55

TS. Phùng Trung Lập, Sách chuyên khảo luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, 2008, trang 67.

56

Phương Dung – Hà Giang, Thông tin pháp luật dân sự: Một số vấn đề về quyền thừa kế,

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn
57

Phương Dung – Hà Giang, Thông tin pháp luật dân sự: Một số vấn đề về quyền thừa kế,

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

Phương Dung – Hà Giang, Thông tin pháp luật dân sự: Một số vấn đề về quyền thừa kế,

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn
59

TS. Phùng Trung Lập, Sách chuyên khảo luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, 2008, trang 73.


Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
thống và văn hoá tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi
mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu
số”.
2.2.1. Di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005 bao
gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có
người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng và Di chúc bằng văn bản có
chứng thực. Việc chứng thực hay công chứng hay có người làm chứng là căn cứ để
xác định di chúc do chính người có tài sản lập ra, là cơ sở để xác định tính khách
quan của di chức, là bằng chứng để bảo vệ lợi ích của người thừa kế theo di chúc và
là chứng cứ chứng minh di chúc do chính người có tài sản tự nguyện lập ra 60.
2.2.1.1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Trước hết, nội dung của di chúc bằng văn bản không có người làm chứng cũng
phải tuân thủ theo đúng những quy định trong Điều 653 Bộ luật dân sự năm 200561.
Thứ nhất, di chúc phải do tự tay người lập di chúc viết:
Tức là bản di chúc này phải là bàn di chúc viết tay. Do đó, “di chúc đánh máy
sẽ không có giá trị pháp lý, dù rằng người lập di chúc biết đánh máy chữ và tự tay
đánh máy di chúc”62. Ngoài ra, Bộ luật dân sự năm 2005 cũng không có quy định là
phải viết tay bằng chất liệu gì nên có thể chấp nhận di chúc viết bằng mực, bút bi

60

người lập di chúc phải tự tay ký vào bản di chúc, mà không đề cập việc điểm chỉ trong
bản di chúc có giá trị pháp lý không. Để thật sự đảm bảo quyền định đoạt tài sản của
người lập di chúc, pháp luật vẫn thừa nhận di chúc lập ra trong những trường hợp đó
vẫn có giá trị pháp lý nếu “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di
chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; Nội dung di chúc không trái pháp luật,
đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”64.
2.2.1.2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Tương tự như di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì di chúc bằng
văn bản có người làm chứng cũng cần phải có đầy đủ nội dung tại Điều 653 và người
làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy
định65.
Thứ nhất, di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải do người khác viết:

63

TS. Đỗ Văn Đại, Sách chuyên khảo luật thừa kế Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009, trang 229.

64

Xem Khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005.

65

Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“1. Di chúc phải ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ
quan, tổ chức được hưởng di sản;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status