SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT LÊ XOAY
======= =======
CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC
MÔN: NGỮ VĂN
TÊN CHUYÊN ĐỀ: TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
CỦA NGUYỄN TUÂN
Người viết: Dương Thị Khu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Xoay
Vĩnh Tường, tháng 03 năm 2014
1
CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC NGỮ VĂN 12
TÁC PHẨM: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
- NGUYỄN TUÂNNgười viết: Dương Thị Khu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Xoay
Đối tượng bồi dưỡng: Học sinh lớp 12
Số tiết bồi dưỡng: 10 tiết
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Giúp HS:
- Nắm chắc và phân tích được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
+ Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà và hình tượng người lái đò.Từ đó
hiểu được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người
IV. Hệ thống các dạng đề cụ thể
1. Hệ thống đề 2,0 điểm
Đề 1: “...không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân
mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm
mẩy với con người...”(1)
“... mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm
lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi...”(2)
1. Ghi rõ những câu văn trên trích trong tác phẩm nào, của ai?
2. Hình ảnh dòng sông trong hai câu văn trên có gì độc đáo, đặc sắc?
1. Những câu văn trên trích trong tác phẩm nào, của ai?
- Đoạn trích (1) nằm trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
- Đoạn trích (2) nằm trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng
Phủ Ngọc Tường.
2. Hình ảnh dòng sông trong hai câu văn trên có gì độc đáo, đặc sắc?
- Sông Đà được so sánh như sợi dây thừng ngoằn ngoèo gợi vẻ đẹp nam tính,
cứng cỏi.
- Sông Hương được so sánh mềm như tấm lụa gợi vẻ đẹp nữ tính mềm mại,
dịu dàng.
Đề 2: Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã phát hiện ra
những đặc điểm nào của sông Đà? Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nào
được Nguyễn Tuân vận dụng để làm nổi bật những phát hiện ấy?
1. Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã phát hiện ra
nhiều đặc điểm của sông Đà:
- Ông thấy mọi con sông đều chảy về phía đông, riêng con sông Đà chảy một
mình lên phía bắc.
- Ông phát hiện ra hai nét tính cách của con sông Đà: hung bạo và trữ tình.
Đặc biệt ông phát hiện ra hình ảnh con sông “tuôn dài như một áng tóc trữ tình”,
người lái đò trên sông là một nghệ sĩ, một dũng sĩ... đó chính là những biểu hiện sinh
động cho nét đẹp nổi bật của sông Đà là hung bạo và trữ tình.
2. Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được Nguyễn Tuân vận dụng để
phương diện mỹ thuật và khám phá vẻ đẹp của con người thiên về phương diện tài
hoa. Để làm nổi bật tính chất hung bạo và trữ tình của con sông Đà, tác giả đã vận
dụng và kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật: nhân hóa, so sánh, tưởng tượng, huy
động vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực ...
Đề 4: Anh/ chị hãy nhận xét về sức tưởng tượng sáng tạo của Nguyễn Tuân
trong đoạn tả cuộc chiến đấu của người lái đò với thác dữ
Nguyễn Tuân đã thể hiện trí tưởng tượng và năng lực sáng tạo mãnh liệt trong
tùy bút Người lái đò sông Đà. Đặc biệt là đoạn tả cuộc vượt thác sông Đà, được ông
ví như cuộc chiến đấu với con sông hung dữ.
Đó là hình dung về thác nước với cái tiếng réo đặc biệt: “ Tiếng nước thác
nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn
mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn
giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lủa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét
với đàn trâu da cháy bùng bùng”.
Sau nước là đá. Đá sẵn sàng nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mỗi hòn đá một
dáng vẻ. Chúng bày thạch trận trên sông chia làm nhiều tuyến, chủ động tiêu diệt tất
cả những ai trên thuyền ngay ở chân thác.
4
Nước và đá phối hợp với nhau để dánh tan con thuyền của ông lái đò. Chúng
hung hăng hò la, liều mạng đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng
đội cả thuyền lên. Trùng vi thạch trận lắt léo. Vòng đầu bốn cửa tử, một cửa sinh.
Vòng sau lại tăng thêm nhiều cửa tử và cửa sinh lại lệch qua bờ hữu ngạn. Vòng ba,
bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con
thác.
Người lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, đã chống trả
quyết liệt đòn hồi lùng, đòn tỉa, đòn âm của chúng, đã khôn khéo, tỉnh táo thay đổi
chiến thuật. Và cuối cùng bỏ lại những luồng tử, đi tới đoạn sông hết thác, thanh
sông đều chảy về hướng đông, chỉ có sông Đà chảy về hướng bắc). Dưới ngòi bút tài
5
hoa, uyên bác của Nguyễn tuân, Sông Đà hiện lên như một nhân vật sống động với
hai tính cách nổi bật: hung bạo và trữ tình.
a. Tính cách hung bạo:
- Ở phía thượng nguồn sông Đà có những quãng thật hiểm trở. Đó là
cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, mặt sông chỗ ấy “đúng ngọ mới có mặt trời”,
có những vách đá dựng đứng cao vút chẹt lòng sông như một cái yết hầu. Đứng bờ
bên này nhẹ tay ném hòn đá sang bên kia bờ.
- Lại có quãng trên sông Đà dài hàng cây số “nước xô đá, đá xô
sóng...”. Qua thủ pháp nghệ thuật trùng điệp, Nguyễn Tuân đã giúp người đọc hình
dung được sự hung bạo, dữ dội của sóng, nước, gió trên sông Đà.
Đáng sợ nhất là những cái hút nước “ xoáy tít đáy” giữa lòng sông Đà, nó đã
từng dìm xuống và xé tan xác nhiều bè gỗ, những con thuyền vô ý bị nó lôi tụt
xuống.
- Sông Đà còn có những thác nước dữ đội, những thác nước ấy gầm réo
với nhiều cung bậc: “nghe như là oán trách, rồi lại như là van xin, rồi lại như là
khiêu khích... rồi nó rống lên như một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa
rừng...”
- Sông Đà còn có những quãng rất nhiều đá dữ ‘Đá ở đây từ ngàn năm vẫn
mai phục”, lập thành trùng vi thạch trận.
- Toàn cảnh hùng vĩ và hung bạo của con sông Đà đã được nhân dân Tây Bắc
đúc kết thành câu thần thoại: Núi cao sông hãy còn dài
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen.
- Để làm rõ hơn tính cách hung bạo của con sông Đà, Nguyễn Tuân còn miêu
tả một trận thủy chiến sinh tử giữa người lái đò và dòng sông. Trong cuộc chiến ấy,
sông Đà giống như một loài thủy quái hung ác, nham hiểm.
c. Khái quát:
- Qua hình tượng con sông Đà, Nguyễn Tuân đã thể hiện tình yêu mến tha
thiết đối với thiên nhiên, đất nước. Với ông, thiên nhiên là một tác phẩm nghệ thuật
tuyệt vời của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả con sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ
sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm của mình. Hình tượng sông Đà chính là phông nền
cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.
3. Nghệ thuật:
- Nguyễn Tuân đã vận dụng vốn tri thức phong phú về nhiều mặt để miêu tả
con sông Đà đem đến cho người đọc những trang viết hấp dẫn, lý thú.
- Miêu tả con sông Đà, Nguyễn Tuân sử dụng những ví von, so sánh, liên
tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và thú vị.
- Khi miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân sử dụng vốn từ ngữ phong phú, sống
động, giàu hình ảnh và có sức gợi cao. Câu văn đa dạng, giàu nhịp điệu, co duỗi nhịp
nhàng, có lúc hối hả, gân guốc, có lúc chậm rãi trữ tình.
Giáo viên đọc bài văn mẫu trong sách Chuyên đề Ngữ văn NXB Hà Nội,
2009, Trang 201 để HS tham khảo cách viết.
Đề 2: Vẻ đẹp của hình tượng người lái đò sông Đà
1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại.
Nói đến ông là người ta nghĩ ngay đến một nhà văn tài hoa, uyên bác và có một cách
diễn đạt rất độc đáo.
- Người lái đò sông Đà là một tùy bút thành công của Nguyễn Tuân, được rút
từ tập tùy bút Sông Đà. Hình tượng nổi lên trong tùy bút là hình tượng người lái đò.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò trở thành một nghệ sĩ trong nghệ thuật
vượt thác leo ghềnh và hội tụ rất nhiều những vẻ đẹp khác nhau.
2. Vẻ đẹp của hình tượng người lái đò:
a. Ngoại hình và hoàn cảnh sống:
- Ông lái đò được nhà văn miêu tả có những nét ngoại hình và tố chất khá đặc
thù cho những người lao động trên sông nước: tay ông lều nghều, chân lúc nào cũng
khuỳnh khuỳnh, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh.
=> thiên nhiên dữ dội, hung bạo, hiểm ác.
- Ông đò là vị chỉ huy con thuyền sáu bơi chèo quyết tâm chiến thắng sông Đà
dữ dội, hung ác. Mặc dù đây là một cuộc chiến không cân sức.
+ Ông nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, chống trả quyết liệt những
đòn âm, đòn tỉa của sóng thác sông Đà.
+ Ông cố nén vết thương “ hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái” kiên cường
chịu đựng nỗi đau về thể xác. “Trên con thuyền sáu bơi chèo vẫn nghe thấy tiếng chỉ
huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”.
- Ông đò đã chiến đấu với thác dữ, sóng nước sông Đà bằng trí dũng tuyệt vời,
bằng những động tác táo bạo, mạnh mẽ và vô cùng chuẩn xác:
+ Khi thì ông cưỡi lên thác sông Đà “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”
+ Có khi ông nắm chặt lấy cái bờm sóng ghì cương lái mà phóng nhanh con
thuyền đến với cửa sinh.
+ Đối đầu với bọn thủy quân hung dữ, độc ác: đứa thì ông tránh mà rẻo bơi
chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mở đường tiến.
8
+ Ở trùng vi thạch trận cuối cùng ông chỉ huy con thuyền như một mũi tên tre
xuyên qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được, bỏ lại những luồng
tử, những thác dữ. -> Ông là một người nghệ sĩ tài hoa vượt qua trận thủy chiến ác
liệt, thuần phục dòng sông. Qua đây thể hiện sự ngoan cường, dũng cảm, kinh
nghiệm sông nước của ông đò. Đây chính là nguyên nhân để ông đò có thể chiến
thắng được sự hung bạo, dữ đội của sông Đà.
d. Phong thái ung dung của ông đò
- Sau khi vượt qua những gian nan, nguy hiểm ông đò nhìn những thử thách
đã qua bằng một cái nhìn giản dị mà lãng mạn. Cái tài của ông đò không có chút
kiêu bạc mà rất gần gũi với đời thường(D/c: Khi đã đưa con thuyền vào dòng nước
êm ả thì sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá
9
“Thuyền tôi trôi trên sông Đà(...) nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình
dây cổ điển trên dòng trên” (Trang 191, 192 SGK cơ bản Ngữ Văn 12)
A. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, đoạn văn
B. Thân bài
1. Về nội dung
Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy thơ mộng, trữ tình của con sông
Đà
- Khác với nơi thượng nguồn, sóng, nước, thác, đá dữ dội, sông Đà quãng này
lững lờ trôi, êm lặng, hiền hòa, sông nước thanh bình, cảnh vật hai bên bờ sông vừa
hoang sơ nhuốm màu cổ tích, vừa trù phú tràn đầy nhựa sống.
- Nguyễn Tuân đã miêu tả sông Đà một cách khách quan kèm theo nhiều giả
định “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời
Lý, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”.
- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng đầy sức sống của cảnh hai bên bờ sông Đà được
nhà văn gợi lên qua những hình ảnh gợi cảm, những so sánh độc đáo, bất ngờ thú vị
“Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa... nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.
+ Giọng văn êm đềm thư thái, có những câu tác giả sử dụng toàn thanh
bằng”Thuyền tôi trôi trên sông Đà”, tác giả sử dụng gam màu nhạt gợi lên một
không gian lặng tờ, yên ắng, ít tiếng động. Chỉ có tiếng “đàn cá dầm xanh quẫy vọt
lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”, “tiếng cá đạp nước đuổi đàn hươu vụt
biến”... Tất cả tạo nên một khung cảnh tĩnh lặng, thi vị, trữ tình.
- Chính vẻ đẹp đầy chất thơ của con sông Đà khiến Nguyễn Tuân liên tưởng
tới tứ tơ đằm thắm của Tản Đà ngày trước “Dải sông Đà bọt nước lênh bênh... quen
biết”.
2. Cái tôi của Nguyễn Tuân
Đoạn văn thể hiện cái tôi tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân.
=> Tất cả góp phần tạo nên những trang văn miêu tả vẻ đẹp trữ tình của sông Đà,
đồng thời bộc lộ tình cảm yêu mến, thiết tha đối với quê hương đất nước.
Đề 4: Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân tự coi mình
là người “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là thứ vàng
mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình
gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa, tươi vui và bền vững”
Cảm nhận của anh/ chị về chất vàng quý báu của cảnh sắc thiên nhiên Tây
Bắc được nhà văn phát hiện qua áng văn xuôi này.
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm
- Người lái đò sông Đà là tùy bút xuất sắc in trong tập Sông Đà (1960)- Kết
quả chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân.
- Trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc xa xôi rộng lớn
này, Nguyễn Tuân không chỉ thỏa mãn lòng ham mê tìm đến những chân trời mới lạ
mà mục đích chủ yếu- như chính lời ông nói- là để “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc
núi sông Tây Bắc và nhất là thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con
người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm
sáng sủa, tươi vui và bền vững”
2. Giải thích ý kiến của Nguyễn Tuân
- Trong câu văn của Nguyễn Tuân, chữ “vàng” không được dùng với nghĩa
đen. Nhà văn dùng chữ “vàng” với ý chỉ vẻ đẹp và sự quý giá.
- “Cái thứ vàng” của màu sắc núi sông và trong tâm trí những con người
không có gì khác là vẻ đẹp cùng sự quý giá của tổ quốc ta, nhân dân ta ở miền đất xa
xôi Tây Bắc và hiện ra rực rỡ trong tùy bút Người lái đò sông Đà.
3. Người lái đò sông Đà - sự phát hiện chất vàng quý báu của một dòng sông.
- Trong Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân miêu tả một con sông Đà “ hung
bạo”. Song qua sự hung bạo của dòng sông ta vẫn thấy ở sông Đà một biểu tượng về
sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước. Đó là:
+ Những cảnh đá bờ sông dựng vách thành.
+ Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió,...
11
người nghệ sĩ trong nghề chở đò, người anh hùng trong lao động.
Đề 5: Anh /chị hãy phân tích cách thể hiện vẻ đẹp con sông Đà trong tác phẩm
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và vẻ đẹp của dòng sông Hương trong
đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
1. Giới thiệu về Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn với phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật
là sự tài hoa uyên bác. Người lái đò sông Đà là một tác phẩm kết tinh nhiều mặt của
phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Tác phẩm viết về vẻ đẹp của thiên nhiên
và con người Tây Bắc.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người nghệ sĩ tài hoa, gắn bó tha thiết với xứ
Huế. Ai đã đặt tên cho dòng sông là bút ký giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp của sông
12
Hương gắn liền với lịch sử, văn hoá Huế, rất tiêu biểu cho phong cách của ông:
hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa.
- Hai nhà văn đều rất thành công khi miêu tả hai dòng sông nổi tiếng của đất
nước. Đọc hai tác phẩm này, ta nhận thấy cách thể hiện vẻ đẹp sông Đà của Nguyễn
Tuân và cách thể hiện sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường có những nét tương
đồng và khác biệt.
2. Sự giống nhau
- Sông Đà và sông Hương đều là những dòng sông đẹp góp phần tô điểm cho
vẻ đẹp của đất nước nên cả Nguyễn Tuân và Hoàng phủ Ngọc Tường đều nhìn và
cảm nhận nó bằng cái nhìn của người nghệ sĩ yêu mến, đắm say cái đẹp. Với góc
nhìn ấy, Sông Đà và sông Hương hiện lên như những sinh thể có hồn với những nét
tính cách thống nhất và đối lập
+ Hung bạo, dữ dội, man dại(D/c)
+ Trữ tình, thơ mộng(D/c)
Những tính cách ấy đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc
xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn. Giữa lòng Trường Sơn…trong sáng).
Hơn nữa, ngay cả khi miêu tả vẻ man dại của dòng sông nhà văn cũng thấy nó dịu
dàng và say đắm giữa một không gian chói lọi của hoa đỗ quyên rừng với chất thơ,
chất hoạ khác với vẻ hung bạo như kẻ thù số một của con người ở con sông Đà miền núi rừng Tây Bắc
- Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả những vẻ đẹp khác của dòng sông Hương
từ nhiều góc độ:
+ Sông Hương nơi thượng nguồn
+ Sông Hương khi chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố.
+ Sông Hương khi chảy giữa thành phố.
+ Sông Hương trước khi từ biệt Huế
+ Sông Hương gắn với vẻ đẹp tự nhiên, gắn với lịch sử, văn hoá, thi ca và với cả
đời thường
- Nếu Nguyễn Tuân thiên về phương pháp gợi khi tái hiện vẻ đẹp trữ tình, thơ
mộng của sông Đà thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thiên về phương pháp tả xen lẫn
những bình luận ngoài lề khi tái hiện vẻ thơ mộng, trữ tình của sông Hương.
4. Đánh giá chung
- Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường mỗi người đi vào miêu tả một
dòng sông khác nhau nhưng cách miêu tả ở hai nhà văn này có điểm gặp gỡ song
cũng có phần khác biệt. Điều đó đã tạo nên hai cây bút viết bút ký và tuỳ bút tài hoa,
độc đáo.
Đề 6: Cái tôi của Nguyễn Tuân qua Người lái đò sông Đà
1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo.
- Tác phẩm Người lái đò sông Đà rút từ tập tùy bút Sông Đà (1960) hấp dẫn
người đọc ở cái tôi độc đáo, tài hoa, uyên bác.
2. Vẻ đẹp của cái tôi qua tác phẩm
a. Cái “tôi”: là cái bản ngã, cái cá tính, là con người tâm hồn, hay nói rộng ra
là chân dung người sáng tạo.
b. Đặc điểm cái tôi Nguyễn Tuân
- Cái tôi tài hoa:
cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí thức tâm huyết với nghề.
- Đọc tùy bút Người lái đò sông Đà, người đọc yêu hơn, trân trọng hơn phẩm
chất, cốt cách của con người đáng quý này.
Đề 7: “Sông Đà nói chung và Người lái đò sông Đà nói riêng tiêu biểu cho phong
cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: Uyên bác, tài hoa, không quản nhọc
nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm
tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng làm lay động lòng người
đọc nhất.”
(SGK Ngữ văn 12, NXB GD 2008, trang 185)
Em hãy phân tích tùy bút Người lái đò sông Đà để làm sáng tỏ nhận định
trên.
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Tuân (1910-1987): một con người rất mực tài hoa, uyên bác. Ông
cầm bút từ khoảng đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, nhưng nổi tiếng từ 1938
với các tác phẩm có phong cách nghệ thuật độc đáo: Một chuyến đi, Vang bóng một
thời...nhà văn để lại cho đời một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết
độc đáo, tài hoa.
- Tác phẩm được sáng tác năm 1958, nhân chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân
lên Tây Bắc. Sau này tác phẩm được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960). Sáng tác
tác phẩm này, Nguyễn Tuân từng tâm sự: ông đi tìm chất vàng của thiên nhiên Tây
Bắc, đặc biệt là chất vàng mười trong tâm hồn con người nơi đây.
2. Giải thích nhận định
- Nhận định trên đề cập đến vấn đề phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
trong tùy bút Sông Đà nói chung và Người lái đò sông Đà nói riêng.
15
- Phong cách nghệ thuật: là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương
đối ổn định của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói
phòng...
+ Phân tích hình tượng ông lái đò- một nghệ sĩ trong nghệ thuật chèo đò, vượt
thác, một “tay lái ra hoa”.
- Tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ.
VD: Miêu tả vẻ đẹp của sông Đà với dòng chảy miên man, bất tận, Nguyễn
Tuân liên tưởng đến mái tóc tuôn dài, tuôn dài của người con gái ẩn hiện trong mây
trời Tây Bắc.
Vẻ đẹp của Đà giang còn gắn liền với thi ca. Đó là ánh nắng đọng sắc hoe
vàng từ thuở Đường thi trong thơ Lý Bạch:
16
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
hay gắn liền với câu thơ của nhà thơ núi Tản, sông Đà:
Dải sông Đà bọt nước lênh đênh
Bao nhiêu cảnh, bấy nhiêu tình
b. Khai thác kho cảm giác, liên tưởng phong phú, tìm ra những chữ nghĩa xác
đáng nhất có khả năng lay động lòng người.
- Hình ảnh so sánh chính xác, táo bạo; kết quả của trí tưởng tượng, liên tưởng
phong phú (D/c: Hình ảnh so sánh âm thanh tiếng nước thác sông Đà, Hình ảnh so
sánh nhân hóa về đá trong lòng sông, hình ảnh so sánh về bờ sông).
- Ngôn từ có “sức nóng”, giàu hình ảnh và nhịp điệu (D/c: Hệ thống động từ
dày đặc khi miêu tả trận thủy chiến của người lái đò; sự mới lạ trong cách sử dụng
ngôn từ của Nguyễn Tuân để miêu tả tính chất của sự vật, sự việc; câu văn trường cú
có nhịp điệu, co duỗi linh hoạt)
4. Đánh giá:
- Nguyễn Tuân là nhà văn có ý thức trách nhiệm với nghề. Ngay từ trước cách
mạng tháng Tám, ông đã quan niệm nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi
kiểu con buôn, ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp. Đối với
thích cái gì nhợt nhạt bằng phẳng nên hung bạo hay trữ tình đều được đẩy lên mức
độ tột cùng. Dòng sông Đà là một con sông như thế.
3. Phân tích hình tượng sông Đà
- Nguyễn Tuân đã khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình với hai nét tính
cách; hung bạo và trữ tình. Những nét tính cách này được hé mở qua lời đề từ: hung
bạo, dữ dội, một mình “chơi một lối độc tấu: câu thơ của Nguyễn Quang Bích”; trữ
tình thơ mộng: câu thơ của nhà thơ Ba Lan.
* Vẻ đẹp hùng vĩ (hung bạo)
- Cảnh đá bờ sông dựng vách thành-> mặt sông hẹp, tối, lạnh.
- Những cái hút nước: nguy hiểm, chết người.
- Âm thanh của tiếng thác nước: nhiều cung bậc, được phóng to như khúc
nhạc man dại, cuồng nộ của thời tiền sử với những trận động đất hay nạn núi lửa.
- Đá trong lòng sông: hòn nào cũng ngỗ ngược, mặt hòn nào cũng nhăn nhúm,
méo mó.
- Trận thủy chiến: Sông Đà có lực lượng hùng hậu, bày binh bố trận: mưu mô,
xảo quyệt; chơi những đòn đánh nguy hiểm đối với người lái đò...-> kẻ thù số một
của con người, gợi nhắc đến câu đồng giao quen thuộc:
Núi cao sông hãy còn dài
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen
* Vẻ đẹp trữ tình tuyệt vời thơ mộng:
- Nhìn từ trên xuống: sông Đà như mái tóc trữ tình tuôn dài, tuôn dài của
người thiếu nữ Tây Bắc-> tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ.
- Màu nước sông Đà biến ảo liên tục
+ Mùa xuân: dòng xanh ngọc bích
+ Mùa thu: lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượi bữa
- Qua kỉ niệm:
+ Sông Đà là một cố nhân
+ Đi rừng lâu ngày ra gặp con sông (Ban đầu chỉ thấy loang loáng như
trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt. Sau đó lại gần chao ôi “trông con sông như
thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”)
2. Phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương
* Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà
- Được gợi ra từ lời đề từ: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”
- Nhìn từ trên cao xuống: Sông Đà mềm mại thướt tha với vẻ đẹp xuân sắc:
“tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời
Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xuân”.
- Sự biến ảo của sắc nước sông Đà qua các mùa: mùa xuân dòng xanh ngọc
bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì rượi bữa.
- Qua kỷ niệm, sông Đà như một cố nhân. Xa lâu thì nhớ, gặp lại thì cuống
quýt mừng vui: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông
Đà...”
- Cảnh hai bên bờ sông: vẻ đẹp lặng tờ hoang dại, trong trẻo nguyên sơ:
“thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ ...”
-> Nhận xét: Miêu tả sông Đà trữ tình, ngòi bút của Nguyễn Tuân biến hóa liên tục
với những hình ảnh nhân hóa, so sánh, những liên tưởng độc đáo thú vị. Câu văn của
Nguyễn Tuân co duỗi nhịp nhàng, chuyển đến người đọc những cảm giác của cảm
xúc. Không phân biệt đâu là ngoại giới, đâu là tâm giới, tiếng lòng của thiên nhiên
hòa với tấm lòng yêu thương của người nghệ sĩ. Cùng với sông Đà trữ tình ta bắt gặp
một Nguyễn Tuân tình nhân, thi nhân.
* Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương:
- Là dòng sông chảy giữa lòng thành phố Huế, tạo nên vẻ đẹp riêng cho xứ
Huế.
19
- Trong rừng thượng nguồn:Sông Hương sống một nửa cuộc đời mình như
một cô gái digan man dại và phóng khoáng, tự do mà phóng túng. Nhưng rừng già
đã chế ngự sức mạnh bản năng của sông Hương tạo cho nó một vẻ đẹp dịu dàng và
+ Vốn hiểu biết về lịch sử, địa lý, thi ca, âm nhạc... soi chiếu đối tượng ở
nhiều góc độ khác nhau tạo nên những liên tưởng độc đáo.
+ Một cái tôi tài hoa tinh tế với trí tưởng tượng phong phú kỳ diệu.
+ Ngôn từ phong phú, gợi cảm đem đến cho người đọc cảm giác câu văn như
những câu thơ trữ tình.
Đề 10: Có ý kiến cho rằng: trong sáng tác văn chương Nguyễn Tuân thường
“tiếp cận con người thiên về phương diện tài hoa nghệ sĩ” (Nguyễn Tuân, trích
theo văn học 12, tập 1, NXB GD, 2000, trang 167)
20
Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào?
Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người
tử tù” và người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân để
làm sáng tỏ nhận xét đó.
1. Trình bày hiểu biết về ý kiến:
- Văn chương là con người. Văn chương của Nguyễn Tuân biểu hiện cái “tôi”
cá nhân độc đáo của ông. Một nét riêng trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Tuân
là khi “tiếp cận” nghĩa là tìm hiểu, khám phá để miêu tả phản ánh con người, ông
nghiêng về mặt tài hoa nghệ sĩ.
- Tài hoa nghệ sĩ là một phẩm chất cao quý của con người, nó làm cho lao
động cũng là sự sáng tạo, nâng hoạt động của con người trở nên tinh tế, điêu luyện,
trở thành một nghệ thuật, con người xuất hiện với bản chất nghệ sĩ của mình (cái đẹp
mang tính văn hóa).
- Ý kiến này nhấn mạnh vào đặc điểm có tính chất phổ biến trong cảm hứng,
trong cách xây dựng hình tượng nhân vật, nó biểu hiện một quan niệm thẩm mỹ và
trở thành nét tiêu biểu trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
2. Phân tích các hình tượng Huấn Cao, Người lái đò
a. Hình tượng Huấn Cao, nhân vật trung tâm của tác phẩm “Chữ người tử
chắc binh pháp của thần sông, thần đá” để chế ngự được chúng. Cái tài ấy là sự linh
hoạt điều khiển con thuyền: khi thì “ghì cương”, khi “ rảo bơi ”, khi lại “ đè sấn” lên
luồng nước hoặc “ phóng thẳng thuyền”... vượt qua khúc sông nguy hiểm.
+ Cùng với trí tuệ sáng suốt và lòng dũng cảm, sức chịu đựng phi thường:
“cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”, đây là “cuộc chiến đấu
hàng ngày” của người lái đò để “giành lấy cái sống từ tay những cái thác”.
+ Cái tài của người lái đò không hề có chút gì kiêu bạc, xa rời mà gần gũi,
bình dị là phẩm chất cao quý của người lao động. Vào chỗ dòng nước yên ả thì tiếng
thác dữ trên sông cũng “xèo xèo tan trong trí nhớ” nhường chỗ cho niềm vui với vị
cơm lam, với lời bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh... của người lái đò.
* Huấn Cao là cái vẻ đẹp tài hoa ở kẻ sĩ chân chính đối lập với cuộc đời bất
công, là một nhân cách lớn lồng lộng giữa cuộc đời xô bồ đầy cặn bã. Người lái đò
sông Đà là kết tinh vẻ đẹp của người lao động trong xã hội mới có cái phi thường
trong cái bình thường. Cái đẹp của Huấn cao đối lập với thực tại, phủ định thực tại.
cái đẹp của người lái đò hòa vào vẻ đẹp chung của thiên nhiên đất nước, của cuộc
sống lao động hòa bình. Hai hình tượng cùng một ngòi bút, một phong cách nghệ
thuật vừa ổn định, vừa phát triển.
Đề 11: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù và ông lái đò trong
tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân để làm rõ những nét ổn định
và khác biệt trong cảm hứng thẩm mĩ và giá trị tư tưởng của nhà văn trước và
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1.Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách độc
đáo, tài hoa, uyên bác bậc nhất trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Trong cả hai
giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám, ông đều có những tác phẩm
xuất sắc, Chữ người tử tù và Người lái đò sông Đà là hai tác phẩm tiêu biểu cho
phong cách nghệ thuật của nhà văn.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Qua nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù và
ông lái đò trong đoạn trích Người lái đò sông Đà, người đọc thấy được những nét ổn
định và khác biệt trong cảm hứng thẩm mĩ và giá trị tư tưởng của nhà văn trước và
lòng tin yêu con người mới.
+ Nghệ thuật miêu tả nhân vật: Huấn Cao là nhân vật của truyện ngắn lãng
mạn vì thế được xây dựng bằng bút pháp lí tưởng hóa, còn nhân vật ông lái đò là
nhân vật của thể loại tùy bút nên không được hư cấu mà nhà văn sử dụng trí tưởng
tượng của mình để tái hiện một cách sinh động.
4. Đánh giá, khái quát lại vấn đề cần nghị luận: Hai nhân vật đã nói lên phần nào
những nét ổn định và sự vận động trong cảm hứng thẩm mĩ và giá trị tư tưởng của
nhà văn trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
V. Các bài tập tự giải
Đề 1: Nhận xét nào không đúng với hình tượng người lái đò sông Đà?
A. Người lao động cơ cực lam lũ
C. Người lao động quả cảm
B. Người lao động tự do
D. Người lao động tài hoa nghệ sĩ
Đề 2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau:
- “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài ... thu về” (Người lái đò sông Đà- Nguyễn
Tuân)
- Từ tuần về đây...thường miêu tả”(Ai đã đặt tên cho dòng sông- Hoàng Phủ
Ngọc Tường)
23
Đề 3: Anh/ chị hãy phân tích tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Đề 4: Anh/ chị hãy phân tích hình tượng dòng sông Đà trong tùy bút Người
lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, từ đó hãy chỉ ra những nét nổi bật của phong cách
nghệ thuật Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng Tám, 1945.
Đề 5: Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Người lái đò sông Đà của
Nguyễn Tuân.
VI. Kết quả triển khai chuyên đề tại đơn vị.