BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
NGUYỄN QUỐC XUYÊN
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ GIAN LẬN TRONG
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH KIÊN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HCM, THÁNG 06 – NĂM 2015
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
NGUYỄN QUỐC XUYÊN
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ GIAN LẬN TRONG
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH KIÊN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.LÊ XUÂN QUANG
những ai quan tâm đến đề tài này, để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Xuyên
MUC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT VÀ GIAN LẬN TRONG HOÀN
THUẾ GTGT………………………………………………………………………….1
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT………………………1
1.1.1. Khái niệm thuế GTGT…………………………………………………………...1
1.1.2. Đặc điểm của thuế GTGT………………………………………………………..1
1.1.3. Vai trò của thuế GTGT…………………………………………………………..2
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOÀN THUẾ GTGT………………………..….......4
1.2.1. Khái niệm hoàn thuế GTGT………………………………………………..........4
1.2.2. Điều kiện hoàn thuế GTGT……………………………………………………...4
1.2.3. Đối tượng và các trường hợp hoàn thuế GTGT………………………….….......5
1.2.4. Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào………………………………………...8
1.2.5. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào……………………………………........10
1.2.6. Ý nghĩa của hoàn thuế GTGT…………………………………………….........11
1.3. KHÁI NIỆM VỀ GIAN LẬN……………………………………………………16
1.3.1. Khái niệm về gian lận…………………………………………………….…….12
1.3.2. Khái niệm gian lận thuế GTGT………………………………………………...13
1.3.3. Khái niệm gian lận trong hoàn thuế GTGT…………………………………….13
1.4. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN TRONG HOÀN
THUẾ GTGT………………………………………………………………………….13
1.4.1. Yếu tố liên quan đến chính sách thuế…………………………………………..13
1.4.1.1. Yếu tố về thuế suất…………………………………………………………...13
1.4.1.2. Chính sách thuế thay đổi……………………………………………………..14
2.2.2. Tình hình thực hiện hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang……….…31
2.2.3. Tình hình thực hiện hoàn thuế GTGT các DNTM tại Cục Thuế tỉnh Kiên
Giang………………………………………………………………………………….32
2.3. THỰC TRẠNG GIAN LẬN TRONG HOÀN THUẾ GTGT CỦA CÁC DNTM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG……………………………………………....32
2.3.1. Tình hình gian lận trong hoàn thuế GTGT chung và bài học kinh nghiệm tại Việt
Nam…………………………………………………………………………………...33
2.3.2. Những hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang…………………………………………………………………………….37
2.4. TÌNH HÌNH KIỂM TRA, THANH TRA HOÀN THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ
TỈNH KIÊN GIANG………………………………………………………………….43
2.4.1. Tình hình kiểm tra thuế…………………………………………………...……43
2.4.2. Tình hình thanh tra thuế…………………………………………………...…...44
2.4.3. Tình hình kiểm tra hoàn thuế GTGT…………………………………………...45
2.5. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIAN LẬN TRONG HOÀN
THUẾ GTGT CỦA CÁC DNTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG……….…46
2.5.1. Các yếu tố liên quan đến chính sách thuế………………………………………46
2.5.1.1. Yếu tố về thuế suất…………………………………………………………...46
2.5.1.2. Chính sách thuế thay đổi……………………………….…………………….46
2.5.2. Các yếu tố liên quan đến quản lý thuế………………………………………….48
2.5.2.1. Yếu tố kiểm tra thuế………………………………………………………….48
2.5.2.2. Yếu tố quản lý kê khai thuế còn đơn giản……………………………………51
2.5.2.3. Yếu tố phân tích rủi ro thuế của cơ quan thuế…………………………….….51
2.6.2.4. Suy thoái cán bộ quản lý thuế………………………………………………...51
2.5.2.5. Thiếu phối hợp trong quản lý thuế…………………………………………...52
2.5.2.6. Yếu tố quản lý hóa đơn.....................................................................................52
2.5.3. Các yếu tố liên quan đến người nộp thuế………………………………………53
3.5. KIẾN NGHỊ……………………………………………………………………....72
Kết luận chương 3…………………………………………………………………….74
KẾT LUẬN ……………………………...…………………………………………...76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh Kiên Giang………………………………..24
Bảng 2.2: Tình hình xuất, nhập khẩu tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010-2014…………26
Bảng 2.3: Tổng hợp số thu NSNN Cục Thuế tỉnh Kiên Giang giai đoạn từ 2010-2014..31
Bảng 2.4: Tổng hợp hoàn thuế GTGT giai đoạn 2010-2014 tại Cục Thuế tỉnh Kiên
Giang…………………………………………………………………………………..31
Bảng 2.5: Tổng hợp các DNTM hoàn thuế qua biên giới đất liền tại Cục Thuế tỉnh
Kiên Giang…………………………...………………………………………………..38
Bảng 2.6: Tình hình DN bỏ trốn, mất tích tại tỉnh Kiên Giang......................................41
Bảng 2.7: Tình hình kiểm tra thuế tại trụ sở NNT qua các năm tại Cục Thuế tỉnh Kiên
Giang…………...……………………………………………………………………...43
Bảng 2.8: Thanh tra thuế tại trụ sở NNT tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang………...……44
Bảng 2.9: Tình hình kiểm tra sau hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang…..45
Bảng 2.10: Tình hình kiểm tra trước hoàn thuế GTGT.................................................45
Bảng 2.11: Tình hình nhân sự cán bộ thanh tra, kiểm tra ngành thuế tỉnh Kiên
Giang………………...………………………………………………………………...50
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Kiên Giang từng nhóm ngành nghề giai
mẽ, các DNTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành
nghề kinh tế của tỉnh. Trong quá trình tồn tại và phát triển, các DNTM đã đóng góp
không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà, là nhân tố quan trọng cho sự
phát triển của tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Song song đó, trong thời gian
qua, các DNTM đã lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục thành lập DN, thủ tục tự in hóa
đơn, cơ chế xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới đất liền… Một số đối tượng đã và đang
thực hiện các hành vi chiến đoạt tiền thuế của Nhà nước thông qua hoàn thuế GTGT.
Gần đây, nhiều DN lợi dụng sự thông thoáng trong chính sách xuất khẩu để thực hiện
hành vi gian lận thương mại, gian lận trong hoàn thuế GTGT để chiếm đoạt tiền thuế
GTGT của Nhà nước. Đồng thời áp dụng các thủ đoạn như khai khống hàng hóa, gian
T
5
1
T
5
1
lận về số lượng, chủng loại, nâng trị giá hàng xuất khẩu lên gấp nhiều lần, lập DN ma
T
5
1
T
5
1
để mua bán hóa đơn, xuất khống hàng hóa…để lập thủ tục hoàn thuế GTGT nhằm
chiếm đoạt tiền thuế GTGT rất lớn của nhà nước, với tình hình ngày càng nghiêm
i
thể, nhằm hạn chế các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT của các DNTM trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang, hạn chế thất thoát tiền NSNN.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT của các
DNTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào phân tích, đánh giá thực
trạng và các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT (Chủ yếu là các DN xuất khẩu)
của các DNTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn từ năm 2010-2014.
ii
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp định tính, thống kê miêu
tả, thông qua việc thu thập số liệu, khảo sát ý kiến các cán bộ thuế trực tiếp quản lý
DN bằng bảng câu hỏi, để đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi gian lận trong
hoàn thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Phương pháp chuyên gia: Để có cơ sở và đánh giá tình hình nghiên cứu, tác
giả đã tiến hành phỏng vấn những người am hiểu về lĩnh vực thuế như: Lãnh đạo Sở
Kế hoạch và Đầu tư, lãnh đạo ngành thuế, trưởng phòng chức năng trong ngành thuế
như: trưởng các phòng: phòng kiểm tra, thanh tra thuế, kê khai và kế toán thuế, Tuyên
truyền và hỗ trợ người nộp thuế…phỏng vấn kế toán thuế (các dịch vụ kế toán thuế)…
- Phương pháp khảo sát kết hợp phân tích, thống kê: Khảo sát ý kiến của cán
bộ trong ngành thuế tỉnh Kiên Giang, dựa vào dữ liệu thu thập được, tác giả thống kê,
so sánh và phân tích dữ liệu, từ đó đánh giá được thực trạng của các hành vi gian lận
trong hoàn thuế GTGT của các DNTM.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Nghiên cứu của đề tài này đem lại một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn cho
những người làm công tác quản lý thuế, các nhà làm chính sách thuế trong việc hướng
dẫn thực hiện thuế GTGT, cụ thể:
Ý nghĩa khoa học: Xác định các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT,
Công trình nghiên cứu của Donald R. Cressey (Tam giác gian lận):
Donald R. Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học Indiana
(Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20. Cressy đã chọn việc nghiên cứu về vấn đề tham
ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình. Cressey tập trung phân tích gian lận
dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm
kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên. Ông đã
đưa ra mô hình: Tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các nhân tố dẫn đến
các hành vi gian lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống
dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận, trong đó có
nghề nghiệp kiểm toán. Theo ông, gian lận chỉ phát sinh khi hội đủ 03 nhân tố sau:
iv
- Áp lực: Gian lận thường phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ chức
chịu áp lực. Áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như do khó khăn về
tài chính, do sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa ngưởi chủ và người làm thuê.
- Cơ hội: Khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi gian
lận. Có hai yếu tố liên quan đến cơ hội là: nắm bắt thông tin và có kỹ năng thực hiện.
- Thái độ, cá tính: Không phải mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội cũng
đều thực hiện gian lận mà phụ thuộc rất nhiều vào thái độ cá tính của từng cá nhân. Có
những người dù chịu áp lực và có cơ hội thực hiện nhưng vẫn không thực hiện gian lận
và ngược lại.
Tâm lý thông thường của con người là: lần đầu tiên khi thực hiện gian lận,
người phạm tội thường tự an ủi rằng, họ sẽ không để chuyện này lặp lại. Nhưng nếu
tiếp tục, người thực hiện sẽ không còn băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn, dễ
được chấp nhận hơn. Tam giác gian lận của Cressey được dùng để lý giải rất nhiều vụ
gian lận. Tuy nhiên, do đây không phải là một tiên đề nên không thể khẳng định rằng
mô hình này đúng với mọi trường hợp. Tuy vậy, tam giác gian lận được áp dụng trong
việc nghiên cứu, đánh giá rủi ro có gian lận phát sinh trong nhiều nghề nghiệp trong đó
có nghề nghiệp kiểm toán.
hình này gồm có ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung
thực của cá nhân.
Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với
tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao và ngược lại, khi
hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao thì
nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp. Hoàn cảnh tạo áp lực có thể là liên quan tới những
khó khăn về tài chính. Cơ hội để thực hiện gian lận có thể do cá nhân đó tự tạo ra hay
do sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Công trình nghiên cứu này đã đóng góp
rất lớn cho việc thiết lập hệ thống kiểm soát.
Công trình nghiên cứu của Edwin H.Sutherland:
Ông là người tiên phong trong việc nghiên cứu về gian lận. Cho đến nay, những
lý thuyết về gian lận vẫn dựa chủ yếu vào những nghiên cứu của ông, ông là cha đẻ
vi
của thuật ngữ “ white - collar”, một thuật ngữ mà ngày nay đã trở thành rất thông dụng
khi người ta muốn ám chỉ tới những gian lận do tầng lớp lãnh đạo của tổ chức gây nên.
Đóng góp to lớn của Edwin H.Sutherland là lý thuyết về phân loại xã hội,
nghiên cứu này chủ yếu dựa vào việc quan sát tội phạm đường phố như: những kẻ lưu
manh, sát thủ… Qua đó ông đã rút ra một kết luận: Việc phạm tội thường phát sinh từ
môi trường sống, vì thế hành vi phạm tội không thể tiến hành được nếu như không có
sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để hiểu rỏ bản chất về nhận diện tội phạm, cần
nghiên cứu thái độ cũng như động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội.
6.2. Một số nghiên cứu trong nước.
Phan Kim thái (2003) thực hiện nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp chống gian
lận trong khấu trừ hoàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài gồm có 3 chương và
tập trung phân tích những bất cập trong chính sách thuế, từ đó dẫn đến DN lợi dụng để
gian lận trong khấu trừ hoàn thuế, đề tài cũng phân tích một số hành vi, thủ đoạn
thường gặp trong gian lận hoàn thuế GTGT. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp
khắc phục thực trạng gian lận khấu trừ hoàn thuế GTGT. Đề tài sử dụng phương pháp
doanh chưa phát triển, nơi kế toán chưa được chú trọng, nên DN viện cớ cho hành vi
gian lận của mình…Đề tài góp phần đánh giá được mức độ gian lận của các DNTM tại
tỉnh Tiền Giang, phân tích định lượng các yếu tố tác động đến hành vi gian lận cũng
cho kết quả tốt. Tuy nhiên đề tài xây dựng thang đo chỉ dựa vào lý thuyết nên độ tin
cậy còn hạn chế, nghiên cứu của đề tài chỉ thực hiện tại các DNTM tại tỉnh Tiền Giang
nên kết quả không đại diện cho tất cả các ngành nghề có gian lận thuế GTGT. Đồng
thời nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi
gian lận của DN. Vì vậy, một số yếu tố khác sẽ không được phát hiện, có thể chưa
phản ảnh đúng hành vi gian lận thuế các DNTM và đề tài cũng nêu thiếu nhiều hành vi
gian lận thuế GTGT ngày càng tin vi của DN. Ngoài ra đề tài chưa phân tích sâu tình
hình hoàn thuế tại tỉnh Tiền Giang, chưa đánh giá được sâu mức độ ảnh hưởng của
việc gian lận thuế GTGT trong khấu trừ hoàn thuế nên các giải pháp đưa ra chưa bao
quát mọi vấn đề gian lận thuế GTGT của DN, có thể chưa ngăn chặn triệt để gian lận
thuế GTGT và làm thất thu NSNN. Nghiên cứu này chỉ phù hợp với thực tế tại các
DNTM tại tỉnh Tiền Giang.
Ngoài ra, giai đoạn từ năm 2010 – 2014 có khá nhiều luận văn thạc sĩ nghiên
cứu về các lĩnh vực có liên quan đến gian lận thuế như: gian lận thuế thu nhập DN,
viii
gian lận hoàn thuế GTGT, gian lận trong báo cáo tài chính… Tuy nhiên, tôi nhận thấy
các nghiên cứu này chỉ phù hợp với phạm vi và đối tượng mà các tác giả thực hiện.
Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào tại tỉnh Kiên Giang
nghiên cứu về hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT của chính những người trực tiếp
làm công tác quản lý thuế. Chính vì thế, tôi quyết định chọn vấn đề này để nghiên cứu.
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
Ngoài phần mở đầu, các bảng biểu, sơ đồ, phụ lục, tài liệu tham khảo, kết luận
và kiến nghị. Đề tài nghiên cứu gồm có kết cấu 03 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về thuế giá trị gia tăng và gian lận trong hoàn thuế giá
trị gia tăng.
P
P
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến
tiêu dùng.
Ðây là một loại thuế đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng
hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là
giai đoạn tiêu dùng. Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và do người
tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
1.1.2. Đặc điểm của thuế GTGT.
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trực tiếp vào đối tượng tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và
1
Theo https://vi.wikipedia.org
Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT.
2
1
dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách
khác giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT.
- Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu
được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu
dùng cuối cùng.
thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc
người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế
tương đối sát với hoạt động kinh doanh, từ đó tập trung được nguồn thu thuế GTGT
vào NSNN ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính
thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế.
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có
hoá đơn chứng từ, việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp
kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ
hoá đơn, chứng từ.
- Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại
hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá
thành sản phẩm.
- Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế
khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu...góp phần làm cho hệ thống
chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát
triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên
thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam.
- Trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiến bộ
nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế,
như tạo được nguồn thu lớn cho NSNN, đơn giản, trung lập...Tuy nhiên, trong thời
gian đầu áp dụng thuế GTGT đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước
ta đã từng bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT.
- Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem
xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản
lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
3
- Ðối với hàng XK không những không nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ
lập và lưu giữ sổ kế toán, chứng từ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán, có
tài khoản tiền gửi tại ngân hàng theo mã số thuế của CSKD.
1.2.3. Đối tượng và các trường hợp hoàn thuế GTGT.
- CSKD nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT
đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng)
hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp
theo; trường hợp lũy kế sau ít nhất mười hai tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau ít
nhất bốn quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ
hết mà vẫn còn số thuế GTGTđầu vào chưa được khấu trừ hết thì CSKD được hoàn
thuế.
- CSKD mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ
dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01
năm (12 tháng) trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho
đầu tư theo từng năm.
Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng
cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
- Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư mới:
+ CSKD đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) cùng tỉnh, thành
phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì CSKD thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu
tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai
thuế GTGT của hoạt động SXKD đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của
dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động SXKD trong kỳ của
CSKD. Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu
trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Sau khi bù
trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới mà chưa được khấu trừ hết nhỏ
hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ
kê khai tiếp theo.