Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch nước ngoài đến tỉnh champasak trong giai đoạn từ năm 2007 2012 - Pdf 31

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan là bài viết này do em tự viết, không sao chép ở tài liệu nào.
Nếu có vấn đề gì thì em xin tự chịu trách nhiệm về bài viết của mình.
TÁC GIẢ

Lattana XAIYAVONG


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành tới Ban Giám hiêụ của Trường Đại học Tài chính –
Marketing, thành phố Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng Tài chính Nam Lào đã tạo điều
kiện tổ chức khóa học, chuyên ngành quản trị kinh doanh này ngay tại Lào. Nhân đây, tôi
xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô đến từ Trường Đại học Tài chính –Marketing
trong suốt thời gian hai năm qua với tấm lòng tận tụy, dạy bảo, giúp đỡ, những người đã
truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong quản lý và các thầy cô phiên dịch của Trường
Cao đẳng Tài chính Nam Lào để hoàn thành khóa học này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. PHAN
ĐÌNH QUYỀN là người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, khích lệ động viên, giành

nhiều thời gian và công sức chỉ bảo, trao đổi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng chân tình tới Gia đình là nguồn động viên và các
bạn đồng nghiệp trong việc tạo điều kiện để bản thân tôi kết thúc tốt đẹp khoá học và luận
văn này.
Trân trọng cảm ơn.
Tác giả

Lattana XAIYAVONG


MỤC LỤC
Mở đầu .......................................................................................................................... 1

1.5.4. Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách đối với du lịch .............. 21
1.5.4.1. Về chất lượng dịch vụ .......................................................................... 22
1.5.4.2. Giá cả dịch vụ ....................................................................................... 22
1.5.4.3. Duy trì khách hang ............................................................................... 23
CHƯƠNG 2: Thực trạng về chất lượng dịch vụ du lịch và sự hài lòng của du khách
đến tỉnh champasak
2.1. Giới thiệu tổng quan tỉnh Champasak ................................................................... 24
2.1.1 Vị trí địa ly........................................................................................................... 24
2.1.2 Địa hình và khí hậu.............................................................................................. 24
2.1.3 Tài nguyên ........................................................................................................... 25
2.1.4 Dân số và lao động .............................................................................................. 29
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch của tỉnh ........................... 29
2.2.1. Phân tích tác động của các yếu tố bên ngoài: .................................................... 29
2.2.1.1. Môi trường kinh tế chính trị thế giới và trong khu vực ................................... 29
2.2.1.2. Tình hình kinh tế chính trị của Lào ................................................................. 30
2.2.1.3. Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và khu vực ...................................... 31
2.2.1.4. Tình hình phát triển du lịch của tỉnh Champasak ............................................ 32
2.2.1.5. Bản sắc văn hóa người Champasak ................................................................. 33
2.2.1.6. Áp lực cạnh tranh ............................................................................................ 33
2.2.1.7. Dân cư địa phương .......................................................................................... 34
2.2.2. Yếu tố bên trong: ............................................................................................... 35
2.2.2.1. Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành ........................................ 35
2.2.2.2. Nguồn nhân lực ............................................................................................... 36
2.2.2.3. Hoạt động Makerting du lịch ........................................................................... 37
2.2.2.4. Quy hoạch, đầu tư và nghiên cứu khoa học ngành du lịch.............................. 37
2.2.2.5. Công tác quản lý nhà nước về du lịch ............................................................. 39


2.3 Thực trạng chất lượng dịch vụ du lịch và sự hài lòng của khách nước ngoài đến tỉnh
Champasak.................................................................................................................... 39


UN

United Nation

CNTT

Công nghệ thông tin

TAT

Tourism Agency of Thailand

ASEAN

Asia Society Economic Associate Nation

CHDCND Lào

Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào


MỞ ĐẦU
1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm qua, vấn đề nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong
ngành Du lịch đã được triển khai, nhưng hiệu quả thiết thực còn thấp. Đối với những
nước phát triển, khu vực dịch vụ thường chiếm tỷ trọng từ 60 - 70% trong GDP, trong
đó du lịch chiếm khoảng trên 10% GDP, nhưng ở nước ta khu vực dịch vụ và du lịch
chiếm từ 20 - 25% trong GDP. Nền kinh tế đất nước ta đang từng bước chuyển sang
kinh tế thị trường nên lĩnh vực dịch vụ vẫn còn mới mẻ trong nhận thức cũng như

tăng lên và trở thành nền kinh tế mũi nhọn ở tất cả các quốc gia như Thái Lan, Singapor,
Nhật Bản là các nước đứng đầu trong việc phục vụ khách hàng trong các dịch vụ du
lịch, bán hàng và các dịch vụ khác. Do vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
sự hài lòng của khách du lịch vẫn còn là vấn đề mới mẻ ở nước ta. Để cạnh tranh thu hút
khách du lịch nước ngoài cần thiết phải tìm cách làm thể nào để thu hút khách du lịch
vào thăm.
2. Tổng quan về tình hình áp dụng trên thực tế và các vấn đề
Trong nhiều năm qua, dịch vụ du lịch đóng vai trò quan trọng và luôn chiếm một
tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Champasak (bình quân giai đoạn 2001-2010,
tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng khách đến tỉnh Champasak từ năm 1995-2000
du khách đến thăm tỉnh khoảng 100.000 người, giai đoạn từ năm 2001-2005 số lượng du
khách đến thăm dưới 100.000 người ví có khủng hoảng về kinh tế ở các nước. Đến giai
đoạn từ năm 2006-2010 số lượng du khách đến thăm tỉnh Champasak đã tăng vọt lên
đến hơn 160.000 người. Do vậy ngành du lịch ở đây được đánh giá là ngành kinh tế mũi
nhọn, có tiềm năng phát triển nhanh, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế chung
của tỉnh trong thời gian tới. Vì thế, nghiên cứu về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự hài
lòng và cách đo lường sự hài lòng về chất lượng dịch vụ là vấn đề cần thiết, không
những giúp cho những doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch mà còn giúp cho ngành,
địa phương cải thiện năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và nhanh chóng
hội nhập ngày một sâu, rộng. Việc nghiên cứu về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự hài
lòng về chất lượng dịch vụ trên từng doanh nghiệp trong việc thăm dò sự hài lòng của
khách hàng về chất lượng dịch vụ do mình cung cấp và chưa mang lại kết quả như mong
muốn.
Nguyên nhân chủ yếu do công ty tiến hành thăm dò sự hài lòng của khách hàng
về chất lượng dịch vụ với những nội dung rất đơn giản, thiếu phương pháp và chưa có

2


công cụ đo lường thích hợp nên chưa thể đo lường được sự hài lòng của khách hàng.

lượng để kiểm định mô hình thang đo và mô hình lý thuyết về chất lượng dịch vụ, sự
hài lòng về chất lượng dịch vụ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: Du lịch và sự hải lòng của khách hàng đối với du lịch
CHƯƠNG 2: Thực trạng về chất lượng dịch vụ du lịch và sự hài lòng của du khách
đến tỉnh Champasak
CHƯƠNG 3: Về định hướng giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và sự hài
lòng cho du khách ở tỉnh Champasak

4


CHƯƠNG 1
DU LỊCH VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DU LỊCH
1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch
- Khái niệm “du lịch “có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời
của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Tuy nhiên, du lịch là một hiện
tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó ngày càng
mở rộng và ngày càng phong phú. Một số tiếp cận khác nhau đã có những khái niệm
khác nhau và ngày càng có nhiều tác giả đưa ra quan điểm của mình về du lịch:
Du lịch là “hoạt động của con người đi đến và ở những nơi nằm ngoài môi
trường sống thường ngày của mình để nghỉ ngơi, công tác và các lý do khác” (WTO,
2002).
Luận thuyết về du lịch của John Urry (2002): “Sự ngắm nhìn của du khách” lần
đầu được xuất bản năm 1990. Ông ta phát biểu rằng “Sự ngắm nhìn của du khách
hướng trực tiếp đến nét nổi bật của phong cảnh mà cuộc sống thường ngày của họ
không có được. Các vẻ đẹp này được “nhìn ngắm bởi vì chúng khác xa với trải nghiệm
thường ngày”.

- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch bao gồm
khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
1.1.2. Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch
- Khái niệm:
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên
bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các
nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc
gia nào đó.
- Các loại sản phẩm du lịch: sản phẩm du lịch chính, sản phẩm du lịch hình thức
và sản phẩm du lịch mở rộng…

6


Như vậy sản phẩm du lịch là một tổng thể các dịch vụ tạo thành, các dịch vụ
này đứng riêng không thể gọi là sản phẩm du lịch, khi chúng kết hợp lại với nhau tạo
thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách.
- Những nét đặc trưng của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể.
Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Vì
vậy, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn vì thường mang tính chủ
quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du
lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch thường được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa
mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn với tài nguyên du lịch, do vậy sản
phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du
lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du
lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.
Chính đặc điểm này là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho các

du lịch sẽ đạt khoảng 1 tỉ người vào năm 2010 và 1,6 tỉ người vào năm 2020 . Sở dĩ
như vậy là vì: (1) Du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp,
hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ,…theo giá bán lẻ cao hơn. (2) Du lịch là ngành
“xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch, bao gồm như cảnh quan thiên nhiên, giá trị di
tích lịch sử-văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…Sản phẩm
này không bị mất đi mà giá trị ngày càng được tăng thêm khi chất lượng phục vụ du
lịch cao, bởi lẽ cái mà chúng ta bán cho khách không phải là bản thân tài nguyên du
lịch mà chỉ là giá trị các khả năng thõa mãn các nhu cầu đặc trưng của khách du lịch
được chứa đựng trong tài nguyên du lịch.
- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Vì du lịch là ngành
bỏ vốn đầu tư thấp hơn so với các ngành công nghiệp nặng khác mà khả năng thu hồi
vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp. Trong khi quy luật phổ biến trên thế giới hiện nay
của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao
trong tổng sản phẩm xã hội. Do vậy, du lịch là một trong những ngành hấp dẫn các nhà
kinh doanh trên con đường đi tìm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình, đặc biệt là
kinh doanh các dịch vụ bổ sung.

8


- Du lịch góp phần cũng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển đường lối
giao thông quốc tế. Nó như là một đầu mối “xuất – nhập khẩu” ngoại tế, góp phần phát
triển quan hệ ngoại hối quốc tế.
Phát triển du lịch nội địa:
- Du lịch góp phần làm tăng sản phẩm quốc nội thông qua việc tham gia vào
quá trình tạo nên thu nhập quốc dân như sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phấm…
- Góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, vì thường các vùng
phát triển mạnh về du lịch thì kém sản xuất ra của cải vật chất.
- Bên cạnh việc tăng sức khỏe cho người dân, thì du lịch nội địa giúp cho việc
sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hợp lý hơn, tận dụng được toàn bộ giá trị mà nó mang

phẩm này. Một yếu tố không kém phần quang trọng là du lịch làm tăng thêm tình đoàn
kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân
giữa các quốc gia với nhau. Ngoài những ý nghĩa tích cực như ta đã phân tích trên thì
phát triển du lịch cũng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội. Thật vậy, nếu du lịch
quốc tế thụ động phát triển quá tải sẽ làm mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế,
gây áp lực lạm phát. Hơn nữa nếu việc phát triển du lịch quá tải sẽ gây ra sự phụ thuộc
của nền kinh tế vào dịch vụ du lịch, dễ dẫn đến tính không bềnh vững của nền kinh tế
đó. Đồng thời, việc làm ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội cũng là kết quả mặt trái
của du lịch gây ảnh hưởng tài nguyên và tác hại sâu xa khác trong đời sống tinh thần
của dân tộc..
1.2.3 Vai trò của ngành du lịch đối với bảo vệ môi trường
Những tác động tích cực của ngành du lịch đối với môi trường
Du lịch cũng hoạt động theo khuynh hướng phục hồi, bảo tồn và bảo vệ môi
trường cũng như việc khôi phục, tôn tạo các kho tàng lịch sử.
- Phát triển về thu hút du khách: Để đáp ứng nhu cầu du lịch phải dành những
khoảng đất đai có môi trường ít bị xâm phạm, xây dựng các công viên bao quanh
thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, không khí
nhằm tạo nên môi trường sống phù hợp với nhu cầu của du khách.
- Sự phát triển cơ sở hạ tầng: Cải thiện đường sá, hệ thống quản lý cung cấp
nước sạch và xử lý nước thải có thể do việc tăng thu nhập từ ngành du lịch. Những cải
tiến như thế có thể cắt giảm ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường thiên nhiên.

10


Những mặt tác động tiêu cực của ngành du lịch đối với môi trường.
- Hủy hoại môi trường: Hoạt động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài
nguyên du lịch tự nhiên. Sự tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du
lịch làm cho thiên nhiên không kịp hồi phục và đi đến chỗ bị hủy hoại. Sự có mặt của
những đoàn người đã uy hiếp đời sống của một số loài hoang dã, đẩy chúng ra khỏi

Một trong những yếu tố quang trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát
triển du lịch là điều kiện kinh tế. Nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của ngành kinh tế du lịch. Điều này được giải thích bởi sự lệ thuộc của du lịch
vào các thành quả kinh tế khác. Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc hội
đồng kinh tế và xã hội Liên Hiệp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch nếu
nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cho du lịch.
- Sự phát triển của công nghiệp nhẹ, nông nghiệp và công nghiệp chế biến
lương thực – thực phẩm. Những ngành này phát triển có ý nghĩa quang trọng đến sự
phát triển du lịch. Ngành du lịch sử dụng lớn số lượng lương thực và nhất là thực
phẩm. Ở đây nhấn mạnh vai trò của ngành công nghiệp chế biến đường, thịt bò, sữa,
đồ hộp, …Một số ngành công nghiệp nhẹ đóng vai trò quang trọng trong việc cung
ứng vật tư cho ngành du lịch như ngành dệt, công nghiệp sành sứ, đồ gốm.
- Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương: Nội thương bao gồm mạng lưới
bán buôn, mạng lưới bán lẻ và mạng lưới khách sạn, nhà hàng.
Ngoại thương là xuất nhập khẩu, và dấu hiệu tích cực cho nền kinh tế là tỷ
trọng xuất khẩu cao.
- Tỷ trọng dân trong độ tuổi lao động, tỷ trọng này càng lớn, kinh tế phát triển
càng cao.
Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước. Tình hình chính trị, hòa
bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất
nước. Một quốc gia mặc dù có tài nguyên về du lịch cũng không phát triển được du
lịch nếu như ở đó luôn xãy ra các sự kiện thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hòa
bình. Trên thế giới những nước có đường lối chính trị trung lập và nền hòa bình ổn
định thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân dân – khách du lịch
tiềm năng. Ngược lại ở những nước có nền chính trị, hòa bình bất ổn hay có những

12


biến cố cách mạng, đảo chính quân sự... thì sự phát triển của du lịch là hạn chế, nhiều



1.3.2 Yếu tố bên trong:
Quản lý ngành:
- Quy hoạch: Quy hoạch phát triển du lịch có thể được coi là một hoạt động đa
chiều và hướng tới một thể thống nhất trong tương lai. Nó liên quan đến yếu tố tự
nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị và công nghệ; liên quan đến sự phân tích quá khứ, hiện
tại và tương lai của một điểm đến du lịch. Quy hoạch cũng liên quan đến sự chọn lựa
một chương trình hành động với nhiều phương án đặt ra. Nó cũng liên quan đến việc
thiết lập các mục tiêu cơ bản cho điểm đến để làm căn cứ cho các kế hoạch hành động
hỗ trợ khác tiếp theo. Trong chiến lược phát triển du lịch, công tác xây dựng quy
hoạch tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích từ du lịch và giảm thiểu những tiêu cực mà du lịch
có thể mang lại cho cộng đồng. Lợi ích của việc phát triển có quy hoạch rất lớn, vì vậy
nếu thiếu yếu tố này, có thể dẫn đến những thiệt hại về vật chất (cơ sở vật chất, giá trị
văn hóa, giao thông vận tải, môi truờng), con người, những tác động về marketing, về
tổ chức và các động khác (trang 286-giáo trình kinh tế du lịch).
- Chính sách phát triển du lịch: Một chính sách thống nhất hay uyển chuyển
không khẳng định được là ảnh hưởng tốt hay không tốt đến sự phát triển du lịch. Tuy
nhiên, trong mỗi hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội khác nhau mới khẳng định được
điều đó và khi đó chính sách phát triển du lịch đưa ra và vận hành một cách linh hoạt
theo thời thế thì sẽ đưa ngành du lịch đi vào quỹ đạo phát triển rất thuận lợi.
- Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính: Nếu xét đến yếu tố thu hút đầu tư
để phát triển du lịch thì môi trường pháp lý và các thủ tục hành chính là cửa ngõ đầu
tiên để khuyến khích hay hạn chế tinh thần của nhà đầu tư. Chính sách thông thoáng,
cơ chế một cửa là một lợi thế lớn để kêu gọi các nhà đầu tư, ngược tại, tính nhiêu khê
trong thủ tục sẽ làm nhà đầu tư lo ngại
Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện được huy
động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các
dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ.

khác nhau, nên việc xây dựng một cơ chế quản lý ngành hỗ trợ cho các hoạt động đa
ngành là hết sức quan trọng
1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở các nước và tại Lào

15


1.4.1. Kinh nghiệm
1.4.1.1. Thái Lan.
Thái Lan có bộ máy quản lý nhà nước về du lịch trong Bộ thể thao và Du lịch
và các chính sách vĩ mô dược thực hiện bởi các cơ quan Bộ. Cơ cấu tổ chức của Bộ
theo ngành dọc đến địa phương chỉ theo vùng, đại diện vùng đặc trách đối với nhiều
tỉnh.
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được thực hiện bởi các cơ quan du lịch Thái
Lan (TAT). TAT hoạt động chuyên nghiệp gồm các đại diện vùng và các văn phòng
đại diện ở nước ngoài.
Trong tổ chức bộ máy, TAT có quy định rất rõ về nhân sự bao gồm số lượng và
vị trí công tác của các đại diện tại trung ương và địa phương trong mỗi văn phòng đại
diện. Công tác xúc tiến quảng bá đặc biệt tại các thị trường quốc tế được ngành Du
lịch Thái Lan rất quan tâm và tổ chức khá đồng bộ từ việc mở văn phòng đại diện tại
các thị trường trọng điểm đến hoạt động thăm dò ý kiến khách du lịch.
Thông qua TAT, ngành Du lịch Thái Lan dành nguồn kinh phí khá lớn cho hoạt
động xúc tiến thị trường, các văn phòng đại diện mỗi năm được cấp khoảng

0, 5 triệu

USD cho hoạt động xúc tiến, vì vậy việc triển khai xúc tiến quảng bá đến các thị
trường được tiến hành khá đồng bộ.
Ngoài ra để thúc đẩy hoạt động quảng bá hình ảnh quốc gia và thu hút khách du
lịch, còn có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan du lịch Thái Lan với đại diện cơ quan

áp dụng khá nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong các lĩnh vực
hoạt động du lịch từ quy hoạch thiết kế công trình du lịch, các công nghệ dịch vụ du
lịch đến các dịch vụ hạ tầng giao thông, bưu chính viễn thông, ngân hàng… để tạo sự
hài lòng cho khách du lịch.
Đặc biệt là trong lĩnh vực vui chơi giải trí và mua sắm được các nhà đầu tư áp
dụng triệt để nhằm tạo cảm giác cho du khách ‘’bằng lòng trả tiền’’ của du khách.
Công tác bảo vệ môi trường du lịch Thái Lan có quy định tiêu chuẩn chất lượng môi
trường của các khu du lịch, bãi biển và cơ sở sở lưu trú. Các đơn vị chủ quản nếu vi
phạm sẽ bị phạt hoặc thu hồi giấy phép.
Công tác kiểm tra được thực hiện thường xuyên nên chất lượng môi trường tại
các khu du lịch khá trong sạch. Cộng đồng tại các khu du lịch có ý thức tự bảo vệ môi
trường như tự thu dọn vệ sinh, tự cảnh báo cho khách du lịch vào khu vực dịch vụ mà

17


theo họ là có hàng giả, không có hiện tượng đeo bám khách du lịch để chào bán hàng
tại các khu du lịch lớn.
Chính quyền tại các địa phương phát triển du lịch chú trọng đầu tư cho công tác
bảo vệ môi trường để phát triển bền vững như tại tỉnh Phuket có nhà máy chế biến rác.
Về phối hợp liên ngành để phát triển du lịch, thì để đảm bảo du lịch phát triển đem lại
lợi ích quốc gia, hoạt dộng phối hợp giữa các ngành với ngành Du lịch Thái Lan được
triển khai khá tốt.
Các Bộ, Ngành như môi trường, đầu tư, giáo dục, chính quyền địa phương đều
tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, các quy định và cử đại diện vào các Uỷ ban
liên ngành để cùng phối hợp quản lý, giám sát sự hoạt động và kịp thời có những điều
chỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Thái Lan phát triển.
1.4.1.2. Chu Hải -Trung Quốc
Đặc điểm nổi bật của chiến lược phát triển của thành phố Chu Hải là vận dụng
tối đa điều kiện tự nhiên sẵn có kết hợp với chính sách đầu tư cho du lịch để phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status