Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh tại ngân hàng vietinbank quảng trị - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết
Cho vay kinh doanh là hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ
của ngân hàng thương mại, đây cũng là đối tượng sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ và
đem lại lợi nhuận cao của ngân hàng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải
quyết nhiều việc làm cho xã hội. Chính vì vậy, cho vay kinh doanh được các ngân
hàng quan tâm đặc biệt, nhằm mở rộng dịch vụ tín dụng của các ngân hàng. Do vậy,
việc nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay kinh doanh cần được tiến hành
một cách có khoa học.
Tuy nhiên, trong thời gian qua hoạt động cho vay kinh doanh tại ngân hàng
TMCP Công thương Quảng Trị (VietinBank Quảng Trị) vẫn còn tồn tại một số hạn
chế như tăng trưởng dư nợ của chi nhánh tăng qua các năm nhưng chưa tương xứng
với quy mô, danh tiếng của ngân hàng và tiềm năng trên địa bàn. Cho vay trung hạn
vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay, tiềm ẩn rủi ro kỳ hạn. Phương thức
cho vay chưa linh hoạt và phù hợp với thực tế gây khó khăn trong quá trình theo dõi,
giám sát trong và sau khi giải ngân. Mạng lưới hoạt động cho vay còn hạn chế. Nhân
sự cho bộ phận tín dụng còn thiếu, chưa có kinh nghiệm. Tất cả những hạn chế trên
dẫn đến chất lượng dịch vụ cho vay kinh doanh tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh
Quảng Trị chưa đạt hiệu quả cao.
Từ thực tế đã nêu và những thông tin tìm hiểu được, đề tài “Giải pháp nâng
cao chất lượng cho vay kinh doanh tại Ngân hàng VietinBank Quảng Trị” được lựa
chọn nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng về hoạt động để
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tại Ngân hàng VietinBank
Quảng Trị.

1




5. Ý nghĩa của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, trên cơ sở những nội dung được phản ánh,
luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu, đánh giá với mong muốn đóng góp những điểm mới
trên 2 phương diện, đó là:
- Luận văn khái quát, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng
ngân hàng và hoạt động cho vay kinh doanh.
- Luận văn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay kinh
doanh tại Ngân hàng VietinBank Quảng Trị để từ đó có các kiến nghị, giải pháp giúp
cải thiện, nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh tại Ngân hàng.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng cho vay kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị trong thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh tại Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị.
7. Tổng quan tài liệu
Để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tìm
hiểu các bài viết có nội dung tương tự đã được công bố để phục vụ cho quá trình hoàn
thành luận văn.
Bùi Thị Luyến (2012) “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay sản xuất kinh
doanh tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ”, đề tài
đã đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay sản xuất kinh doanh gồm nhân tố khách
quan như hoàn cảnh kinh tế xã hội, môi trường pháp lý, chính sách, khách hàng và
nhân tố chủ quan bao gồm: chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng; quy mô, kỳ hạn
của vốn; tiềm lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng; mô hình tổ chức và
các chính sách của bản thân ngân hàng.
Nguyễn Trương Thuần Mẫn (2012) “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay



4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KINH DOANH
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1.1 Khái niệm cho vay sản xuất kinh doanh
Cho vay sản xuất kinh doanh là cho các khách hàng là một pháp nhân, cá nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, vay để kinh doanh thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc làm dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
1.1.2 Đặc điểm cho vay sản xuất kinh doanh
Cho vay sản xuất kinh doanh để các tổ chức và cá nhân sử dụng vốn vay với
mục đích tạo ra lợi nhuận.
- Quy mô của từng hợp đồng vay thường lớn, nên chi phí tổ chức cho vay thấp.
Vì vậy, lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh thường thấp hơn so với lãi suất cho vay
tiêu dùng.
- Nhu cầu vay sản xuất kinh doanh co dãn nhiều với lãi suất. Người đi vay quan
tâm đến lãi suất phải chịu.
- Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng (T-H-T’), lợi nhuận, khấu hao và
các nguồn thu hợp pháp khác.
- Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính,
báo cáo thuế... Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ
chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp.
- Rủi ro xảy ra từ cho vay sản xuất kinh doanh thường gây ra tổn thất lớn cho
ngân hàng thương mại. Do đó, các nhà lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi
ro các khoản cho vay sản xuất kinh doanh.
1.1.3 Phân loại cho vay sản xuất kinh doanh
Cho vay sản xuất kinh doanh được phân loại theo từng nhóm dựa trên một số

kho và chấm dứt khi hàng tồn kho đã tiêu thụ và thu được tiền.
- Cho vay vốn lưu động: Khoản cho vay vốn lưu động thường được dùng để
mua hàng dự trữ hoặc mua nguyên vật liệu. Do đó, nó gần giống với cho vay mua
hàng dự trữ như trên nhưng nhằm đáp ứng toàn bộ vốn lưu động thiếu của nhà kinh
doanh ( tức nhu cầu vốn lưu động thời vụ của khách hàng).

6


* Đặc điểm của loại hình cho vay này là :
Đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt. Thông thường,
các khoản vay vốn lưu động được sử dụng để đáp ứng mức sản xuất và nhu cầu tín
dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh. Hạn mức tín dụng là cơ sở để
ngân hàng cho vay và giải ngân.
Không có kỳ hạn cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay
cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay.
Chi phí của món vay bao gồm chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam
kết sử dụng hạn mức.
Thời hạn cho vay tuỳ theo đặc điểm về chu kỳ kinh doanh và khả năng tài chính
của từng loại khách hàng, có thể vài ngày đến một năm.
Thông thường các khoản vay vốn lưu động được đảm bảo bằng các khoản phải
thu hoặc được thế chấp bằng hàng tồn kho và khách hàng sẽ phải chịu lãi suất thả nổi
trên lượng tiền vay thực tế họ đã sử dụng.
- Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Đối với các nhà kinh doanh
hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sau khi nhận được các công trình xây dựng, cần phải
ứng vốn mua nguyên liệu, thuê thiết bị, thuê nhân công… để thực hiện thi công. Khi
công trình, hạng mục công trình hoàn thành thì mới được chủ đầu tư thanh toán theo
thoả thuận ở hợp đồng nhận thầu. Vì vậy, cho vay ngắn hạn đối với nhà kinh doanh
xây lắp để đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình thi công công trình xây dựng.
* Đặc điểm của loại cho vay này :

cầu hãng sản xuất chuyển hàng. Để có được khoản tín dụng này, người bán lẻ phải ký
hợp đồng đảm bảo an toàn cho phép ngân hàng có quyền sở hữu hàng hoá trong
trường hợp họ không thể thanh toán cho khoản vay. Sau đó, nhà sản xuất sẽ chuyển
hàng cho người bán lẻ và gửi hoá đơn thanh toán cho ngân hàng. Sau khi bán được
hàng hoá, người bán lẻ sẽ gửi séc tới ngân hàng để thanh toán dần khoản nợ cho ngân
hàng. Định kỳ ngân hàng sẽ cử cán bộ tín dụng đến kiểm tra hàng hoá tồn kho. Nếu
ngân hàng phát hiện gian lận (bán hàng không chịu trả tiền) thì cán bộ ngân hàng sẽ
yêu cầu khách hàng viết ngay séc trả tiền cho số hàng hoá đó. Nếu người bán lẻ không
trả được nợ, ngân hàng sẽ thu hồi một phần hay toàn bộ số hàng và trả cho người sản
xuất để thu hồi lại nợ. Hợp đồng kế hoạch sản xuất thường bao gồm một khoản dự
phòng tổn thất tín dụng, tích luỹ từ các khoản lãi thu được khi người vay trả tiền.
Khoản dự phòng này sẽ được dùng để trả cho các khoản vay không được hoàn trả. Khi
khoản dự phòng này đạt tới một mức nhất định định trước, người bán sẽ được giảm trừ
một phần số lãi trả góp.

8


1.1.4 Các hình thức cho vay sản xuất – kinh doanh
1.2.4.1 Cho vay trực tiếp
Là hình thức cho vay mà ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay cũng trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Hình thức này
chỉ có hai chủ thể tham gia đó là ngân hàng và người đi vay.
1.2.4.2 Cho vay gián tiếp
Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại chứng từ có giá còn trong
thời hạn thanh toán. Để thực hiện theo hình thức này thì người đi vay phải có các giấy
tờ có giá và còn thời hạn thanh toán đem đến ngân hàng. Nó gồm các loại hình như:
chiết khấu thương phiếu, nghiệp vụ bảo lãnh...
1.1.5 Các phương thức cho vay sản xuất – kinh doanh
1.1.5.1 Cho vay từng lần

Khách hàng có nhu cầu chi vượt số tiền có trên tài khoản thấu chi của mình, gửi
giấy đề nghị vay tiền, giấy đề nghị được lập lần đầu cho cả hai hạn mức thấu chi. Mỗi
lần rút vốn khách hàng chỉ gửi đến ngân hàng các chứng từ: phiếu chuyển khoản, giấy
lĩnh tiền mặt.
Đây là một hình thức cho vay ngắn hạn mà ngay cả khi số dư tài khoản thanh
toán của khách hàng không có tiền hoặc không đủ tiền cho nhu cầu chi tiêu, họ vẫn có
thể rút séc chi.
1.1.5.4 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là loại cho vay mà vốn tín dụng tham gia vào toàn bộ chu
kỳ luân chuyển vốn, do đó trong hợp đồng tín dụng sẽ có điều khoản qui định tất cả
tiền thu bán hàng và những khoản thu khác phát sinh trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp đều được dùng để trả nợ vay luân chuyển, có thể áp dụng theo một trong
hai cách:
- Thu theo định kỳ
- Thu theo doanh thu thực tế, mỗi lần doanh nghiệp có thu tiền bán hàng thì dùng
tiền đó để trả nợ cho ngân hàng, đối với các khoản thu bằng tiền chuyển khoản ngân hàng
sẽ ghi Có vào tài khoản cho vay để thu nợ, trường hợp doanh thu phát sinh lớn vượt quá
số dư thực tế của tài khoản cho vay thì ngân hàng chỉ được thu hết nợ gốc, khoản tiền còn
lại ngân hàng ghi Có vào tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp vay vốn.

10


1.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2. 1 Khái niệm về chất lượng hoạt động cho vay
Chất lượng hoạt động cho vay là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người
gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn
tại, phát triển của Ngân hàng. Chất lượng cho vay được hình thành và bảo đảm từ hai
phía là Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng hoạt động cho vay của Ngân
hàng không những phụ thuộc vào bản thân Ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất

hàng, vì điều đó không chỉ đảm bảo cho chất lượng hoạt động cho vay mà còn cải tiến
tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ cơ sở kinh doanh nhằm thỏa mãn ngày càng đầy
đủ yêu cầu của khách hàng ở mọi công đoạn, bên trong cũng như bên ngoài. Để làm
được điều đó mỗi thành viên trong mỗi tổ chức Ngân hàng phải hiểu và thực hiện tốt
quy trình quản lý chất lượng.
Như vậy, để có được chất lượng hoạt động cho vay thì hoạt động cho vay phải
có hiệu quả và quan hệ vay vốn phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín.
1.3 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
Tham khảo tham luận PGS.TS Trịnh Thị Mai Hoa, Th.S Phùng Thị Nga “Chất
lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Công thương – CN
Nam Thăng Long”, năm 2012 thì chất lượng hoạt động cho vay là một chỉ tiêu tổng
hợp, nó phản ánh độ thích nghi của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi
trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để
tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, để đánh giá được Ngân hàng đó mạnh hay yếu thì
phải đánh giá được chất lượng hoạt động cho vay. Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá
chất lượng hoạt động cho vay, cụ thể như sau:
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay
 Về phía khách hàng:
- Vốn vay của Ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý, kinh tế, kỷ thuật để thực hiện được.
- Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo đủ khả năng trả
nợ gốc và lãi, trang trải chi phí khác và để lại cho doanh nghiệp một khoản thu nhập.

12


 Về phía ngân hàng:
- Cho vay phải tuân thủ ba nguyên tắc: vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản
đảm bảo nợ vay, phải hoàn trả vốn, lãi trả đúng thời hạn và theo cam kết tại hợp đồng
tín dụng đã ký.
- Cho vay phải tuân thủ các điều kiện như lập hồ sơ cho vay, có phương án sản


Nợ quá hạn

=
Quá hạn

Tổng dư nợ

Xét về bản chất, cho vay là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng
bậc nhất để cấu thành chất lượng hoạt động cho vay. Khi một khoản vay không được
trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang
nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản
nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn
càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì có nguy cơ
mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao,
chất lượng cho vay càng thấp.
Mặt khác, để đánh giá chính xác hơn chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn
ra làm hai loại:
+ Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi ( nợ nhóm 2,3)
+ Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi ( nợ nhóm 4, 5)
Hai chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ quá
hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Do vậy, sử
dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh giá chính xác hơn chất lượng hoạt động cho
vay.
1.3.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để
đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng hoạt động cho vay trong
việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Doanh số thu nợ bình quân
Vòng quay vốn


=
Vốn tối thiểu

Tài sản có rủi ro quy đổi

+ Dư nợ của một khách hàng không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ.
Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Dựa vào các
chỉ tiêu đó ta có thể nhận định được chất lượng hoạt động cho vay ngân hàng cao hay
thấp. Tuy nhiên, chất lượng hoạt động cho vay còn chịu tác động của các nhân tố khác.

15


1.3.2.6 Thu nhập từ hoạt động cho vay
Không thể nói một khoản vay có chất lượng cao khi nó không đem lại một
khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu
để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do hoạt động cho vay đem lại chứng tỏ
các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn
của nguồn vốn cho vay.

Thu nhập từ

Lãi từ hoạt động tín dụng

=
Hoạt động cho vay

Tổng thu nhập


- Trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng
Hiện nay, hàng loạt các ngân hàng cổ phần ra đời, cạnh tranh giữa các ngân
hàng ngày càng gia tăng kéo theo là cạnh tranh nguồn nhân lực. Để mở rộng mạng
lưới hoạt động phục vụ cho tốc độ tăng trưởng nhanh, Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam cũng đã có chính sách thu hút lao động. Tuy nhiên, việc tuyển dụng lao
động đa phần là từ nguồn cán bộ mới ra trường nên chưa đủ kinh nghiệm để thực hiện
việc thẩm định cho vay, chưa nhận thức được đầy đủ về yêu cầu và tính phức tạp của
công tác tín dụng trong môi trường mới. Họ chưa đáp ứng được những đòi hỏi của cơ
chế thị trường, cũng như khả năng và trình độ đánh giá đúng hiệu quả và mức độ rủi ro
của phương án, dự án còn yếu kém. Không nhận biết được những dấu hiệu rủi ro đôi
khi xuất hiện ngay từ giai đoạn tiếp xúc khách hàng. Chưa chấp hành đầy đủ quy trình,
quy chế nghiệp vụ tín dụng đã ban hành, công tác thẩm định không kỹ về các mặt.
Bên cạnh đó, do khối lượng công việc ngày càng quá tải dẫn đến nguy cơ không
kiểm soát được toàn diện và đầy đủ tình hình khách hàng mà mình đang phụ trách.
Ngoài ra, tại NHCT số nhân viên nghỉ việc bình quân hàng năm là 3%, mà trong đó
đến hơn phân nữa là nhân viên tín dụng do đó áp lực công việc cho các nhân viên tín
dụng còn lại là rất nặng nề.
Ngoài nguyên nhân về năng lực chuyên môn thì vấn đề đạo đức của nhân viên
tín dụng cũng là nguyên nhân gây rủi ro cho hoạt động tín dụng. Dù nhân viên tín
dụng, những người liên quan đến công tác thẩm định, cho vay đã rất tận tâm nhưng

17


cũng không thể tránh được hoàn toàn rủi ro. Vì một nguyên nhân khách quan là không
phải khách hàng nào vay vốn ngân hàng cũng kinh doanh có hiệu quả.
- Khả năng kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay
Trong thời gian cho vay, tổ chức tín dụng cần thực hiện đầy đủ việc kiểm tra
giám sát khoản vay để có thể nắm được những thay đổi trong hoạt động kinh doanh
của khách hàng, việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích hay không?

thẩm định và khi ra quyết định cho vay; từ đó dẫn đến những quyết định cho vay sai
lầm. Cụ thể như là:
Nhân viên A/O thiếu năng lực thẩm định, sơ sài trong thu thập thông tin về khách
hàng và đôi khi hoàn toàn dựa trên tài liệu do khách hàng cung cấp, thiếu sự xác minh
lại thông tin và thiếu sự phân tích tính hợp lý của thông tin nên tờ trình thẩm định
khách hàng được trình bày rất suôn sẻ theo các khuôn mẫu có sẵn và chứa đựng các
thông tin có lợi cho khách hàng.
Về phía người xét duyệt cho vay, do khối lượng hồ sơ vay cần được xét duyệt
quá nhiều nên không có nhiều thời gian đọc kỹ tờ trình thẩm định, do cảm thấy an tâm
khi đọc những thông tin về tài sản đảm bảo, do quá tin tưởng vào những thông tin mà
nhân viên A/O đưa ra và sự kiểm tra của cấp dưới mà quyết định xét duyệt cho vay.
Đồng thời, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam do hoạt động kiểm toán chưa
phát triển và tính minh bạch về tài chính còn nhiều hạn chế, bên cạnh đó do công tác
kế toán và báo cáo tài chính chưa thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật nên các
Tổ chức tín dụng thường gặp nhiều khó khăn về tính chính xác của thông tin do khách
hàng cung cấp.
1.4.2 Các yếu tố thuộc về khách hàng
Các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng như:
- Tính trung thực của khách hàng trong việc cung cấp số liệu, giấy tờ,
quyền sở hữu tài sản
Tính không minh bạch của thông tin còn xuất hiện trong quá trình cho vay với
hình thức gian lận. Cho dù không phải món cho vay thương mại nào cũng hàm chứa
khả năng gian lận, song thực tế đáng tiếc là chính hành vi gian lận đã gây nên những
tổn thất lớn cho ngân hàng. Gian lận có thể được coi là hậu quả tệ hại nhất khi thông
tin không minh bạch.

19


Nhiều chủ nợ cho rằng gian lận là loại rủi ro khó quản trị nhất. Nếu một con nợ



doanh, phần khác thì dùng cho mục đích khác như là: mua sắm vật dụng, thậm chí là
tiêu xài cá nhân…Điều này rất nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh
nghiệp và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng, hệquả là dẫn đến
phát sinh nợ xấu. Thậm chí còn có một số trường hợp khách hàng xin vay ngắn hạn
nhưng thực tế là sử dụng vào những công trình đầu tư trung dài hạn, vì trong tình hình
nền kinh tế tăng trưởng như hiện nay, các doanh nghiệp thường có nhu cầu đầu tư
trung dài hạn để cải tiến mở rộng sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn vốn ngân hàng
duyệt cho vay thì có hạn và điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp sử dụng vốn vay
ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn mà không nghĩ đến việc nợ đến hạn sẽ không trả
được…
- Trình độ quản lý của khách hàng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
+ Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa
phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi
mới cung cách quản trị, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo
đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản trị là nguyên
nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải
thành công trên thực tế.
+ Qua các hồ sơ phân tích, báo cáo về nợ quá hạn của phòng tín dụng tại Ngân
hàng NHCT Việt Nam thì đa phần các khách hàng hoạt động khá hiệu quả khi còn ở
quy mô vừa và nhỏ, nhưng sau khi đầu tư phát triển lớn mạnh với nhiều dự án kinh
doanh lớn thì khả năng quản trị không theo kịp với tốc độ tăng trưởng và đã làm cho
hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, phát sinh những khoản chi phí, thiệt hại ảnh
hưởng đến khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Và cũng có một số doanh nghiệp
đã xảy ra tình trạng thường xuyên thay đổi người điều hành đơn vị dẫn đến không theo
dõi kịp quá trình kinh doanh, phát triển của doanh nghiệp nên đã làm cho tốc độ tăng
trưởng chậm lại, thậm chí thua lỗ.
+ Mặt khác một số khách hàng do năng lực tài chính thấp, nguồn vốn hoạt
động chủ yếu dựa trên vốn vay nhưng lại mở rộng quy mô, đầu tư đa ngành dàn trải,

động một cách hợp pháp và có hiệu quả. Hệ thống các quy phạm pháp luật chi phối
các hoạt động kinh tế, đưa các doanh nghiệp vào hoạt động theo khung pháp lý đã
được quy định. Vì vậy phải có sự đồng bộ, thống nhất giữa các bộ luật và các văn bản
quy phạm pháp luật nhằm tạo ra sự chặt chẽ và hiệu lực của pháp luật. Hiệu quả hoạt
động tín dụng chịu tác động lớn của môi trường pháp lý, một khi có môi trường pháp

22


lý phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay và ngược lại nếu môi trường pháp
lý không phù hợp, thủ tục rườm rà sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động cho vay. Hiện nay,
môi trường pháp lý cho ngành ngân hàng còn nhiều bất cập đang được tranh cãi nhất là
vấn đề sở hữu và xử lý tài sản thế chấp. Chính những bất cập này là nguyên nhân chủ
ý gây nên các khoản nợ khó đòi, tạo kẽ hở cho khách hàng khi vay vốn, làm giảm hiệu
quả hoạt động cho vay.
1.4.3.3 Yếu tố môi trường kinh tế
Các thành phần kinh tế đều hoạt động và kinh doanh trong môi trường kinh tế,
luôn chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước và các quy luật
trên thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị... Do vậy, việc tạo lập môi
trường kinh tế lành mạnh cho hoạt động của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của họ cũng như sự ổn định sẽ kiềm chế lạm
phát... là những yếu tố tích cực cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của
ngân hàng.
Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, chính sách như:
- Cho vay theo sự chỉ định của Nhà nước
- Thực hiện theo chính sách của Nhà nước
- Thay đổi cơ chế chính sách
- Tác động của môi trường kinh tế
- Tác động của môi trường pháp lý
1.5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

giữa các Ngân hàng trong việc tài trợ vốn cho khách hàng (đồng tài trợ hay tín dụng
hợp vốn).
- Tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng là một trong những công
cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo
từng ngành, từng lĩnh vực. Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần tăng hiệu quả
sản xuất xã hội, đảm bảo phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước, ổn
định và phát triển kinh tế.
- Chất lượng hoạt động cho vay làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các
NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn vay và thu hút thêm

24


được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh
tốt về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng cùng sự trung thành của khách hàng.
- Chất lượng hoạt động cho vay gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý,
các chi phí thiệt hại do không thu hồi vốn cho vay. Từ đó cải thiện được tình hình tài
chính của Ngân hàng, tạo thế mạnh cho Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh.
- Chất lượng hoạt động cho vay tạo thuận lợi cho tồn tại lâu dài của Ngân hàng,
bởi vì chất lượng tín dụng cho phép Ngân hàng có được những khách hàng trung thành
và những khoản lợi nhuận bổ sung vốn đầu tư.
- Chất lượng hoạt động cho vay củng cố mối quan hệ xã hội của Ngân hàng,
điều đó có ý nghĩa là tạo được môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động Ngân hàng.
- Với những ưu thế trên, việc cũng cố và nâng cao chất lượng hoạt động cho
vay của NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của
NHTM. Vì vậy, chất lượng hoạt động cho vay luôn luôn phải được cải tiến.
1.6 KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY Ở MỘT SỐ

NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status