CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TRONG DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 2, 3 THEO MÔ HÌNH VNEN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Mô hình VNEN là mô hình dạy học lấy hoạt động học của học sinh làm trung
tâm. Giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh.
Việc áp dụng mô hình VNEN vào trường Tiểu học hiện nay sẽ đạt hiệu quả cao
hơn và mô hình này đang được các cấp, các ngành rất quan tâm. Mô hình trường
học mới VNEN không những thay đổi phương pháp dạy mà thay đổi cả phương
pháp học: học sinh tự học, tự quản lí, tự đánh giá. Mô hình này còn có sự tham
gia tích cực của cộng đồng trong quá trình giáo dục.
Tuy đã là năm thứ hai thực hiện mô hình này nhưng đối với giáo viên và học
sinh khối lớp 2 + 3 của chúng tôi cũng còn rất nhiều điều băn khoăn, trăn trở.
Chính vì lý do trên mà chúng tôi mạnh dạn thực hiện chuyên đề về: Một số giải
pháp khắc phục khó khăn trong dạy học môn TNXH lớp 2,3 theo mô hình
VNEN.
II. THỰC TRẠNG:
1, Thuận lợi:
*Về phía nhà trường:
- Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo và triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản
của Bộ, Sở, Phòng về đổi mới phương pháp dạy học, quản lý chặt chẽ, chỉ đạo
chuyên môn sát sao.
- BGH nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện động viên khuyến
khích giáo viên trong công tác chuyên môn.
- Nhà trường làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục.
*Về phía giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, hết lòng vì học sinh thân yêu.
- Tất cả giáo viên đều được tham gia vào lớp bồi dưỡng chuyên môn hàng năm
Tài liệu hướng dẫn học TNXH là một thành phần cơ bản của chương trình
EN. Tài liệu có những đặc điểm chính sau:
- Bảo đảm chuẩn KT- KN của chương trình môn TNXH hiện hành. Không thay
đổi về cấu trúc, nội dung của mỗi bài học song có thay đổi trong việc sắp xếp
nội dung của mỗi bài học theo hướng tích hợp cao hơn nên mỗi bài thường được
dạy từ 2 hoặc 3 tiết còn bài ôn tập có thời lượng 1 tiết.
- Tài liệu có tính tương tác cao:
* Đối với giáo viên: Tài liệu tạo thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động dạy
học trên lớp vì tài liệu bao gồm cả phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với học sinh: Tài liệu có tính tương tác cao thuận lợi cho việc học cá nhân
và nhóm. Tài liệu bao gồm một chuỗi các hoạt động được thiết kế chú ý đến quy
trình để đưa ra các chỉ dẫn từng bước nhằm giúp học sinh tự học phù hợp với
đặc điểm và trình độ của từng đối tượng.
*Đối với phụ huynh HS: Tài liệu có chú trọng đến các hoạt động học tập được
thực hiện ở nhà của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho cha mẹ học sinh và
cộng đồng tham gia vào quá trình học tập của các em thông qua việc hướng dẫn,
giúp đỡ HS học tập, bổ sung các kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu
học tập của học sinh.
- Tài liệu có “tính mở” giáo viên được chủ động thay đổi, nâng cao trình độ học
sinh trên chuẩn phù hợp với điều kiện vùng miền.
b, Cấu trúc của một bài TNXH như sau:
- Tên bài.
- Mục tiêu bài học.
- Các hoạt động học tập:
A. Hoạt động cơ bản: Học sinh trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến
thức mới.
B. Hoạt động thực hành:
-Thực hành thí nghiệm à ít
thích công việc mà học sinh đang thực hiện.
Ba là: Dự kiến kế hoạch lên lớp:
- Để học sinh đạt được mục tiêu KT - KN của bài thì bản thân mỗi giáo viên
phải thật sự đầu tư vào chuyên môn. GV không phải soạn bài nhưng phải nghiên
cứu kĩ bài, đọc trước xem cần điều chỉnh lôgô, nội dung nào? Có tình huống gì?
Dự kiến tình huống xảy ra để chuẩn bị ghi vào sổ dự kiến kế hoạch dạy học và
chuẩn bị các tình huống phát sinh. BT nâng cao không để HS ngồi chơi.
Ví dụ: Bài 7: Cần làm gì để bảo vệ cơ quan thần kinh. Tài liệu TNXH trang 42.
HĐ1a: GV dự kiến sau khi học thực hiện nhóm 2 xong, mời một số bạn lên
trước lớp thể hiện lại nét mặt ở các trạng thái, cười, tức giận, lo lắng, sợ hãi cho
cả lớp cùng quan sát, xem các em đã nắm vững và hiểu đúng nội dung bài học
chưa?
HĐ2a/45: Dự kiến câu hỏi mà GV sẽ kiểm tra :
+ Hình nào có lợi cho cơ quan thần kinh? Vì sao?
+ Hình nào không có lợi cho cơ quan thần kinh? Vì sao?
·
Dự kiến tình huống sẽ xảy ra:
+ Cùng một thời điểm có nhóm đã làm xong hoạt động 4 chẳng hạn mà hoạt
động 5 tiếp theo là hoạt động cả lớp. Trong khi đó có nhóm mới làm đến hoạt
động 2 hoặc 3.
+ Với tình huống này giáo viên giao tiếp bài tập nâng cao cho nhóm đó hoạt
động tiếp không để học sinh ngồi chơi.
Ví dụ: Bài “ Các loại côn trùng” lớp 3
HĐ2/33: Dự kiến câu hỏi mà GV sẽ kiểm tra :
+ Nêu tên côn trùng có trong hình số 5?
+ Kể tên các bộ phận bên ngoài của con kiến ?
- Để thực hiện tốt một tiết dạy, bên cạnh việc tham khảo tài liệu hướng dẫn
giảng dạy, giáo viên cần thường xuyên cập nhật những kiến thức, chuẩn bị bài,
dự kiến các tình huống trong tiết dạy để xử lí tốt các tình huống đó.
- Tùy từng bài, tùy điều kiện của lớp, tùy trình độ của HS lớp mình mà GV có
thể thay thế hình thức dạy học, thay thế câu hỏi, thuật ngữ sao cho phù hợp giúp
học sinh tham gia vào tiến trình phân tích, thảo luận một cách thuận lợi và hiệu
quả.
Ví dụ: Bài 12: Cây sống ở đâu? ( Tài liệu TNXH Lớp 2 trang 71).
- Thay vì học tập trong bốn bức tường quan sát tranh, ảnh trong tài liệu giáo
viên có thể tổ chức cho học sinh ra sân trường quan sát trên cây thật bằng các
giác quan:
- Dùng mắt để quan sát kết hợp tay chỉ và nói đúng tên các bộ phận của cây hoa
( rễ, thân, lá, hoa).
- Dùng mũi để nhận biết hương thơm.
- Dùng tay để sờ thân xem cứng hay mềm, sờ lá xem trơn hay nhám…
Qua thực tế học sinh được tận mắt nhìn, sờ, ngửi giúp cho học sinh có hứng thú
học tập hơn, nắm chắc kiến thức và nhớ kiến thức lâu hơn.
+Tăng cường tính chủ động nhận thức và khai thác vốn sống của học
sinh:
Giáo viên lựa chọn những bài có vấn đề nhằm củng cố và phát huy trình độ vốn
có của học sinh trong chương trình để lựa chọn phương pháp. Trong chương
trình TNXH lớp 2 từ bài 1 đến bài 33 đều có thể sử dụng giải pháp này.
Ví dụ: Dạy bài 1 “Vì sao chúng ta vận động được” Tài liệu TNXH lớp
2.
Giáo viên dẫn dắt học sinh từ cái cụ thể, những kinh nghiệm vốn có của học
sinh: tự co tay, duỗi tay, tự co chân, duỗi chân, tự véo vào mông, vào bụng…để
thấy được cơ bám vào xương và nhờ có cơ mà ta có thể thực hiện được mọi cử
động như chạy, nhảy, đi đứng, viết, xoay người, cười, nói, ăn, uống…
- Trò chơi : “Ghép chữ vào hình” sử dụng để củng cố bài học “ Cơ quan tiêu
hóa”.
Khi thực hiện phương pháp này giáo viên cần lưu ý đến tình huống đưa ra phải
có mục đích rõ ràng và liên quan đến bài học, dễ đóng vai không quá khó và
phức tạp.
Vì đặc điểm hồn nhiên và hiếu động của trẻ nên việc tổ chức trò chơi học tập sẽ
làm cho các em thấy vui mà học, học mà chơi, chơi mà học.
- Trong tiết học tăng cường phân loại đối tượng học sinh để nâng cao dần độ khó
đối với học sinh trên chuẩn phù hợp với trình độ, năng lực của học sinh.
Trong lớp học chủ yếu là học sinh tự học theo chỉ dẫn của Tài liệu hướng dẫn
học, học theo nhóm, theo cặp, hoặc giáo viên làm việc trực tiếp với cá nhân,
nhóm.
Giáo viên không nhất thiết phải tổng kết, kết luận kiến thức ở cả lớp mà chỉ cần
thực hiện nhận xét, kết luận ở nhóm. Chỉ khi một một dung kiến thức nào đó mà
phần đông là học sinh không hiểu hoặc hiểu sai vấn đề thì giáo viên mời giảng
giải trước lớp.
* Với logo ở trước mỗi hoạt động, HS có thể dễ dàng nhìn vào đó và lần lượt
thực hiện các yêu cầu trong từng hoạt động. Thực tế khi giảng dạy, giáo viên
lúng túng khi yêu cầu của logo tiếp theo là hoạt động cả lớp nhưng do nhịp độ
học tập của HS chênh lệch nhau có nhóm làm nhanh có nhóm làm chậm giáo
viên chưa biết xử lý thế nào? Với khó khăn trên, chúng tôi đã thống nhất đưa ra
một số giải pháp sau:
1, Nhóm hoặc cá nhân làm xong giáo viên kiểm tra và có thể phân công các bạn
đó đi đến giúp đỡ những bạn chưa hoàn thành xong.
2, Hoặc trong khi kiểm tra, giáo viên cảm thấy nhóm đó còn một hoặc hai học
sinh chưa nắm kỹ kiến thức hay một nội dung nào đó thì giáo viên có thể yêu
cầu nhóm kiểm tra và giúp đỡ bạn nội dung đó.
3. Giao thêm nhiệm vụ có nội dung tương đương với nhiệm vụ mà các em vừa
quen hỗ trợ, giúp đỡ các bạn; càng nhiều HS có thói quen hỗ trợ bạn càng tốt.
Sáu là: Đánh giá kết quả học tập của học sinh:
- Đánh giá học sinh theo công văn số 5737/BGDĐT-GDTH ngày 21 tháng 8
năm 2013 V/v Hướng dẫn thí điểm đánh giá học sinh tiểu học theo Mô hình
trường học mới Việt Nam.
- Đánh giá hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo
chuẩn KT – KN của chương trình.
- Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực chung; tự phục vụ, tự quản, giao
tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề.
-Đánh giá thường xuyên quá trình học tập của học sinh; đánh giá bằng nhận xét
( không sử dụng điểm số) về kiến thức, kĩ năng đạt được theo từng bài học, chủ
đề và thông qua các biểu hiện năng lực, phẩm chất.
- Đánh giá các hoạt động của cá nhân và nhóm học sinh; có sự phối hợp của giáo
viên với học sinh, phụ huynh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng
nhất.
- Đánh giá kịp thời giúp học sinh phát huy mặt mạnh và khắc phục hạn chế
nhằm cải thiện kết quả học tập và hiệu quả giáo dục.
- Có nhiều cách đánh giá thường xuyên học sinh như: quan sát; kiểm tra nhanh;
phỏng vấn nhanh; đánh giá sản phẩm của học sinh; tham khảo kết quả tự đánh
giá của học sinh, của nhóm học sinh; tham khảo ý kiến đánh giá của phụ huynh.
IV. KẾT QUẢ:
Qua một hơn một năm trải nghiệm dạy theo mô hình mới, chúng tôi nhận thấy:
Các em học sinh thực sự là trung tâm của hoạt động học tập, các em được phát
huy năng lực độc lập, tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức.
Dạy học môn TNXH theo mô hình VNEN thì học sinh đạt kết quả ở những điểm
sau:
+ Học sinh được tự học, học phù hợp với năng lực của mình, được chủ động hơn
trong học tập, có nhiều cơ hội được phát triển tư duy phê phán và tư duy sáng