Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến khả năng gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng Isaria javanica trên vật chủ mọt ngô (Sitophilus zeamais) - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ SƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ ẨM ĐẾN KHẢ
NĂNG GÂY BỆNH CỦA NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG
Isaria javanica TRÊN VẬT CHỦ MỌT NGÔ
(Sitophilus zeamais)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

VINH - 5/2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ ẨM ĐẾN KHẢ
NĂNG GÂY BỆNH CỦA NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG
Isaria javanica TRÊN VẬT CHỦ MỌT NGÔ
(Sitophilus zeamais)

KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

Người thực hiện: Nguyễn Thị Sương
Lớp:
49K - Nông học

bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thúy đã nhiệt tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện. Đặc biệt cô luôn đông viên và khuyên khích
tôi,giúp tôi có được niềm tin và lòng say mê nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy,cô giáo,các cán bộ phòng thí nghiệm ,tổ
bộ môn Nông Học,các bạn trong nhóm nấm kí sinh côn trùng,khoa Nông Lâm Ngư
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và bà con nông dân xã Nghi Phong
– Nghi lộc – Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập vật liệu thí
nghiệm
Để hoàn thành được khóa luận này, tôi còn nhận được sự động viên hỗ trợ
rất lớn về vật chát và tinh thần của gia đình và bạn bè.Tôi xin trân trọng và biết ơn
những tình cảm chân thành đó
Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 5 năm 2012
Tác giả

Nguyễn Thị Sương


iii

MỤC LỤC
VINH - 5/2012..........................................................................................................
VINH – 5/201...........................................................................................................
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp tôi xin cam đoan :...........................
- Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài,bản thân tôi luôn nhiệt
tình,có tinh thần trách nhiệm cao với công việc.....................................................
- Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực,chưa từng được sử dụng ở đâu........................................................................

Công thức
Cordyceps
Công thức
Độ biến thiên của mẫu
Đông trùng - Hạ thảo
Entomopathogenic fungi
Entomology Pathogenic Fungi
Isaria
Phương sai mẫu
Môi trường
Potato Dextrose Agar
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Thí nghiệm
Vườn Quốc Gia


iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức nhiệt độ khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1472 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.2 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức nhiệt độ khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1482 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.3 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức nhiệt độ khác nhau của

Error: Reference source not found
Bảng 3.11. Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1801 ở
các
Error: Reference source not found
Bảng 3.12. Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1802 ở
các
Error: Reference source not found
Bảng 3.13 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức độ ẩm khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1472 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.14 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức độ ẩm khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1482 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.15 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức độ ẩm khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1487 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.16 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức độ ẩm khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1491 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.17 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức độ ẩm khác nhau của
chủng nấm Isaria javanica VN1801 đến mọt ngô
Error: Reference source
not found
Bảng 3.19 Thời gian các giai đoạn phát triển của chủng nấm I. javanica
VN1472 mọt ngô (ngày) ở các mức độ ẩm khác nhau
Error: Reference

của chủng nấm Isaria javanica VN1472 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3.26 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
của chủng nấm Isaria javanica VN1482 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3.27 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
của chủng nấm Isaria javanica VN1487 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3.28 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
của chủng nấm Isaria javanica VN1491 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3.29 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
của chủng nấm Isaria javanica VN1801 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3,30 Hiệu lực phòng trừ mọt ngô ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
của chủng nấm Isaria javanica VN1802 đến mọt ngô
Error: Reference
source not found
Bảng 3.31 Thời gian các giai đoạn phát tiển của chủng nấm I. javanica
VN1472 mọt ngô (ngày) ở các mức ẩm độ hạt khác nhau
Error: Reference
source not found


vii


Hình 1.1. Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng

9

hình 3.1 tỷ lệ chết của mọt ngô chủng1801
43
Hình 2. tỷ lệ nhiễm nấm(nhiễm nấm/chết)
found

Error: Reference source not


ix


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khí hậu nước ta có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, song
cũng tạo điều kiện tốt để sâu hại phát sinh, phát triển và phá hại nghiêm trọng cây
trồng trên đồng ruộng, đồng thời tiếp tục gây hại sản phẩm nông nghiệp cất giữ
trong kho. Hầu như toàn bộ nguồn vật chất của con người đều được dự trữ trong
kho, như lương thực, thực phẩm, nông sản, hải sản, lâm sản, hàng tiêu dùng, dược
liệu và hạt giống v.v. hay các kho lưu trữ, sách báo, thư viện, tài liệu hồ sơ, bảo tàng
v.v. Với một khối lượng sản phẩm lớn và đa dạng như vậy thì công việc bảo quản
hàng hóa trong kho tàng là hết sức quan trọng.
Hiện nay, trên thế giới tất cả các quốc gia đều coi trọng công tác bảo quản
cất trữ sản phẩm, vì tác hại của sâu mọt trong kho là rất lớn, chỉ tính riêng một loại

sâu mọt như nhóm côn trùng ăn thịt và côn trùng ký sinh, nhóm vi sinh vật ký sinh
sâu mọt (nấm côn trùng, vi khuẩn, …). Trong số này, nhóm nấm ký sinh côn trùng
gây bệnh trên mọt hiện đang là một hướng nghiên cứu mới có triển vọng trong việc
sử dụng chúng để phòng trừ sâu mọt hại kho. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn rất
hạn chế, mới chỉ có ở một số nước phát triển.
Nấm ký sinh côn trùng được đánh giá là một trong những tác nhân chính
trong phòng trừ sinh học nhằm tạo ra những sản phẩm tốt hơn, an toàn hơn. Nghiên
cứu sử dụng chế phẩm sinh học để thay thế hóa chất BVTV quá độc hại đang là
hướng rất được quan tâm hiện nay. Trên thế giới đã sử dụng thành công một số loài
nấm ký sinh côn trùng phòng trừ nhiều loài sâu hại như Metarhizium anisopliae,
Hisutela lecaniicola, Beauveria basiana, B. amorpha, Akathomyces aranearum,
Cordycep sinclairii,…
Đối với Việt Nam thì nấm ký sinh côn trùng và công nghệ nấm - côn trùng là
lĩnh vực mới. Ở Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung nghiên cứu về 2 loài nấm là
Beauveria basiana, Metarhizium anisopliae để phòng trừ sâu hại cây trồng như sử
dụng nấm phòng trừ sâu hại rau ở vùng Hà Nội và phụ cận, phòng trừ sâu róm hại
thông ở một số tỉnh phía Bắc (Nguyễn Thị Thùy và nnk, 2006) [7], phòng trừ bọ
cánh cứng hại dừa ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn Thị Lộc và nnk, 2004).


3

Loài nấm ký sinh côn trùng Isaria javanica thu thập trong tự nhiên ở Vườn
quốc gia Pù Mát, Nghệ An được đánh giá có nhiều triển vọng trong phòng trừ sinh
học sâu hại cây trồng (Trần Ngọc Lân và cs, 2008). Nấm Isaria javanica là loài nấm
ký sinh côn trùng mới phát hiện và còn ít được nghiên cứu. Nhưng qua phân tích
đánh giá các chủng nấm này thu được ở Vườn quốc gia Pù Mát cho thấy đây là loài
nấm có tiềm năng ứng dụng trong kiểm soát sinh học sâu hại cây trồng (Nguyễn Thị
Thúy, 2012). Ở nước ta, các nghiên cứu về sự gây bệnh của nấm ký sinh trên côn
trùng vật chủ còn ít được quan tâm, nên hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố sinh thái gồm nhiệt độ, độ
ẩm môi trường và độ ẩm hạt đến khả năng gây bệnh của các chủng nấm Isaria
javanica trên vật chủ là trưởng thành mọt ngô.
Các nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm công nghệ nấm Ký sinh
côn trùng, Trung tâm THTN, Trường Đại Học Vinh trong thời gian từ tháng
12/2011 - 5/2012.


5

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng hại
1.1.1.1. Khái niệm nấm ký sinh côn trùng
Khái niệm “Nấm ký sinh côn trùng - Entomology Pathogenic Fungi (EPF)” hay
“ Nấm - côn trùng, Insect - Fungi” được các nhà khoa học sử dụng như là các thuật ngữ
đồng nghĩa, đề cập về nhóm sinh vật (Nấm) ký sinh gây bệnh cho côn trùng.
Nấm ký sinh côn trùng được chia thành 4 nhóm (Evans, 1988) (dẫn theo
Trần Ngọc Lân, 2007) [10]:
(1) Ký sinh trong tức là nấm ký sinh trong các nội quan, xoang cơ thể của
côn trùng ký chủ.
(2) Ký sinh ngoài tức là nấm phát triển trên lớp cuticun vỏ cơ thể của côn
trùng và gây nên bệnh hại cho ký chủ côn trùng.
(3) Nấm mọc trên côn trùng tức là những nấm đã được trực tiếp hoặc gián
tiếp chứng minh chúng ký sinh trên côn trùng (Samson et al., 1988).
(4) Cộng sinh, có nghĩa là cả nấm và côn trùng cùng mang lại lợi ích cho
nhau trong mỗi quan hệ cùng chung sống.
Khái niệm này cũng bao gồm cả nấm ký sinh trên nhện (Araneopathogenic
Fungi) bởi nhiều loài nhện bị ký sinh bởi các loài nấm và chúng thường tồn tại
trong cùng một điều kiện sinh thái (Tzean et al., 1997).

(Nguồn: Cheah, C., M. E. Montgomery, S, Salom, B. L. Parker, S. Costa,
and M. Skinner, 2004)


7

Nấm xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng gồm 3 giai đoạn chính:
(i) Giai đoạn xâm nhập
Tính từ khi bào tử nấm mọc mầm đến lúc hoàn thành việc xâm nhiễm vào trong
xoang cơ thể côn trùng. Bào tử nấm sau khi mọc mầm phát sinh mầm bệnh, nó giải
phóng các enzym ngoại bào tương ứng với các thành phần chính của lớp vỏ cuticun
của côn trùng để phân hủy lớp vỏ này như protease, chitinase, lipase, aminopeptidase,
carboxypeptidase A, esterase, N - axetylglucosaminidase, cenlulase. Các enzym này
được tạo ra một cách nhanh chóng, liên tục và với mức độ khác nhau giữa các loài và
thậm chí ngay trong một loài.
Enzym protease và chitinase hình thành trên cơ thể côn trùng, tham gia phân
hủy lớp da côn trùng (cuticula) và lớp biểu bì (thành phần chính là protein). Lipase,
cenlulase và các enzym khác cũng là những enzym có vai trò không kém phần quan
trọng. Nhưng quan trọng hơn nhất là enzym phân hủy protein (protease) và enzym
phân huỷ kitin (chitinase) của côn trùng. Hai enzym này có liên quan trực tiếp đến
hiệu lực diệt côn trùng của nấm ký sinh côn trùng (Lerger R. J. et al., 1986; Charley
A. K. et al., 1991; Eguchi M., 1992; Tạ Kim Chỉnh và cs., 2005; Hà Thị Quyến và
cs., 2005; Janet Jennifer et al., 2006) [2, 9, 15, 20, 28, 35].
(ii) Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng cho đến khi côn trùng chết
Đây là giai đoạn sống ký sinh của nấm. Trong xoang cơ thể côn trùng nấm
tiếp tục phát triển, hình thành rất nhiều sợi nấm ngắn. Khi hệ sợi nấm được hình
thành trong cơ thể, nó phân tán khắp cơ thể theo dịch máu, phá hủy các tế bào máu
và làm giảm tốc độ lưu thông máu. Toàn bộ các bộ phận nội quan bị xâm nhập.
Nấm thường xâm nhập vào khí quản làm suy yếu hô hấp. Hoạt động của côn trùng
trở nên chậm chạp và phản ứng kém với các tác nhân kích thích bên ngoài. Kết quả

vẫn giữ nguyên hình dạng như khi còn sống. Toàn bộ bên trong cơ thể sâu chết chứa
đầy sợi nấm. Sau đó, các sợi nấm này mọc ra ngoài qua vỏ cơ thể và bao phủ toàn bộ
bề mặt ngoài của cơ thể sâu. Đây là đặc điểm rất đặc trưng để phân biệt sâu chết do
nấm côn trùng với các bệnh khác (Phạm Văn Lầm, 2000) [8].
Thomas M. B., Read A. F. (2007), nêu sơ đồ xâm nhiễm của nấm ký sinh côn
trùng vào cơ thể vật chủ. (hình 1.2) [42]. Theo Thomas M. B., Read A. F., chu kỳ phát
triển của nấm ký sinh côn trùng, như nấm Beauveria bassiana và Metarhizium


9

anisopliae gồm các giai đoạn: Bào tử đính tiếp xúc với tầng cuticun của lớp vỏ vật chủ.
Bào tử nảy mầm và sinh sản hình thành vòi và giác bám (cấu trúc cơ quan xâm nhập).
Sự xâm nhập của bào tử đính là sự tổ hợp của sức ép cơ học và sự tác động
của enzym phân giải tầng cuticun. Quá trình sinh trưởng bên trong xoang máu cơ
thể vật chủ và sự sinh sản của bào tử đính làm vật chủ bị chết. Tầng cuticun của vỏ
cơ thể vật chủ là tầng chống chịu đầu tiên trong việc bảo vệ chống lại sự xâm nhiễm
của nấm và nó có vai trò quyết định tính chuyên hóa đặc hiệu của nấm. Nếu nấm
phá vỡ được tầng cuticun thì sự xâm nhiễm đã thành công, sau đó phụ thuộc vào
khả năng chiến thắng được các phản ứng miễn dịch ở côn trùng. Các loài côn
trùng có thể phản ứng lại sự xâm nhiễm này của nấm bằng cả hai phương thức là
tế bào và thể dịch. Sự hình thành hoạt động miễn dịch càng sớm ở điểm phân
giải bào tử đính trong suốt quá trình xâm nhập.

Hình 1.1. Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng
(Nguồn: Thomas M.B. & Read A.F., 2007)
1.1.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt ngô
1.1.2.1. Đặc điểm hình thái
Mọt ngô: Tên khoa học: Sitophilus zeamais Motsch
Họ: Curculionidae, Bộ: Coleoptera

1.1.2.2. Đặc tính sinh vật học
Mọt này có phổ biến ở hầu hết khắp các nước trên thế giới, nhất là ở châu Á,
vùng Địa Trung Hải (châu Âu) và Bắc Mỹ. Ở nước ta trong các kho lương thực,
nhất là kho bảo quản ngô, gạo thường gặp loài mọt này.
Tính ăn hại của mọt ngô khá phức tạp, nói chung nó có thể ăn hại được hầu
hết các loại ngũ cốc, các loại đậu, hạt có dầu và nhiều sản phẩm thực vật khác. Thức
ăn thích hợp nhất với nó là ngô hạt. Mọt có thể đẻ trứng ở ngoài đồng và cả trong
kho. Nó thuộc loại phá hại nghiêm trọng.
Khi đẻ trứng, mọt dùng vòi khoét một lỗ sâu vào hạt, rổi đẻ trứng vào những
lỗ này, sau đó tiết ra một thứ dịch nhầy để bít kín lỗ đó lại. Sâu non nở ra ăn hại
ngay trong hạt và lớn lên, làm hạt chỉ còn lại một lớp vỏ mỏng, nhưng nhìn bề ngoài
tưởng chừng như hạt còn nguyên vẹn. Khi ăn hại, nó thường ăn phôi trước, sau đó


11

mới đến nội nhũ và các bộ phận khác. Tùy theo điều kiện mà mọt đẻ ít hay nhiều,
nhiều nhất mỗi con cái có thể đẻ được 384 trứng.
Tùy theo điều kiện độ nhiệt, độ ẩm và thức ăn mà thời gian trứng 3 - 6 ngày,
thời gian sâu non 18 - 32 ngày, thời gian nhộng 12 - 16 ngày. Trong điều kiện bình
thường mọt thực hiện một vòng đời mất khoảng 40 ngày, khi gặp điều kiện thuận
lợi chỉ mất 28 - 30 ngày.
Thức ăn có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mọt, trong cùng một điều
kiện độ nhiệt và độ ẩm như nhau, nuôi mọt ngô bằng thức ăn khác nhau đã thu được
kết quả như sau:
Loại thức

Thời gian thực hiện một

ăn

hình thành blastospotes tạo khuẩn lạc trong xoang máu (haemolymph) cơ thể côn
trùng vật chủ, (5) sự thoát sợi nấm ra bên ngoài.
Nghiên cứu sự xâm nhiễm của nấm Metarhizium anisopliae gây bệnh côn
trùng, Charnley A.K. (2003) đưa ra sơ đồ chu kỳ xâm nhiễm (infection cycle) gồm
3 pha: (1) Bào tử (conidium) xâm nhập vật chủ qua lớp biểu bì vào xoang máu, (2)
Nấm gây chết côn trùng do đói thiếu dinh dưỡng, sự phá vỡ nội quan, sự nhiễm độc,
sự tự nhiễm độc, và (3) sự hình thành bào tử (spore) trên xác vật chủ chết.
Cheah C. et al. (2004), nghiên cứu kiểm soát sinh học sâu Adelges tsugae
Annand (Homoptera: Adelgidae) gây hại cây Tsuga (một loại cây nhóm cây thông).
Nấm có thể xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể gây bệnh làm chết côn trùng. Sau khi côn
trùng bị chết, một số lượng lớn bào tử nấm được phát tán từ xác chết để tiếp tục chu
trình lây nhiễm trong quần thể côn trùng. Chu kỳ xâm nhiễm tổng quát của nấm ký
sinh côn trùng gồm 6 giai đoạn: (1) Bào tử bám dính, (2) bào tử nảy mầm, (3) xâm
nhập lớp cuticle, (4) sự tăng sinh sợi nấm bên trong cơ thể, (5) sự hình thành bào tử
bên ngoài xác chết cơ thể, (6) bào tử phát tán (và tiếp tục chu kỳ xâm nhiễm mới).
Trong tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng thuốc nấm phòng trừ
muỗi gây bệnh sốt rét, Thomas M.B & Read A.F. (2007), đưa ra chu kỳ phát triển
in vivo của nấm gây bệnh côn trùng, chẳng hạn như Beauveria bassiana và
Metarhizium anisopliae, diễn ra 5 bước tuần tự: (1) sự bám dính của bào tử
(conidia/spore) vào lớp biểu bì (epicuticle), (2) sự nảy mầm của bào tử sản sinh ống
mầm và giác bám (appresorium) (cấu trúc xâm nhập), (3) sự xâm nhập vào lớp biểu
bì (procuticle, epidermis) thông qua sự kết hợp của áp lực cơ học và hoạt tính của
các enzyme làm mất lớp biểu bì, (4) nấm tăng trưởng trong thể xoang (haemocoel)
vật chủ và sau đó (5) sản sinh bào tử bên ngoài phát tán khi vật chủ bị chết
(Gillespie J.P. et al., 2000; Roberts D. W. & St. Leger R.J., 2004).


13

Khi bàn về sử dụng thuốc nấm kiểm soát côn trùng gây hại, Sandhu S.S. et

14

sau khi nấm bệnh chiến thắng được các phản ứng miễn dịch của côn trùng. Côn
trùng có thể phản ứng theo cách thức tế bào và thể dịch đối với sự xâm nhiễm của
nấm, với hoạt tính miễn dịch xảy ra sớm như là điểm suy thoái lớp biểu bì trong quá
trình xâm nhập (Gillespie J.P. et al., 2000). Nấm thường có hai chiến lược khắc
phục các phản ứng tự vệ của vật chủ, là phát triển các hình thức tăng trưởng nhanh
chống lại phản ứng tự vệ của côn trùng, hoặc sản sinh các chất ngăn chặn hệ thống
bảo vệ của vật chủ (Gillespie J.P. et al., 2000; Roberts D.W. et al., 2004).
Nghiên cứu của Pornpoj Srisukchayakul et al. (2005), các giai đoạn nảy
mầm của bào tử nấm Nomuraea rileyi khác nhau trên các loài vật chủ khác nhau.
Nảy mầm của các bào tử trên lớp vỏ của các sâu non của Spodoptera litura trong
khoảng 46 - 48 giờ, nhưng chậm hơn so với trên Pseudoplusia includens 8 giờ và
trên Anticarsia gemmatalis từ 6 đến 18 giờ. Sự khác biệt về thời gian này có thể là
do sự khác nhau trong thành phần của lớp vỏ của các loài côn trùng khác nhau. Sự
xâm nhập của nấm ký sinh thông qua các lớp biểu bì đôi khi trước bởi sự hình thành
các giác bám (appressorium) là điểm tựa cho các cơ và sản sinh enzyme trong quá
trình xâm nhập. Tuy nhiên, hình thành giác bám appressorium không phát hiện
được trong nghiên cứu này, cho thấy sự xâm nhập của nấm N. rileyi chủ yếu do
enzyme chứ không phải là quá trình tác động cơ học.
Các nghiên cứu cho thấy nấm Beauveria spp. Sản sinh một số chất chuyển
hóa, bao gồm bassianine, beauvericine, bassianolide, beauveriolide, bassiacridine,
osporeine và tenelline (Vining et al., 1962; Hamill et al., 1969, Suzuki et al., 1977;
Roberts, 1981; Jeffs et Khachatourians, 1997; Strasser et al., 2000; Quesada
Moraga et Vey, 2004). Beauvericine là chất độc hại đối với muỗi vằn L. pipi ENS,
làm vỡ biểu mô midgut, giải thể các ribosome (Zizka et Weiser, 1993). Các loại
nấm ký sinh côn trùng khác cũng sản sinh các chất chuyển hóa, ví dụ Isaria spp.
Sản sinh chất độc isariine (Briggs et al., 1966); Hirsutella thompsonii Fisher sản
sinh phomalactone (Krasnoff et Gupta, 1994) và hirsutellin A (Mazet et al., 1995),
được biết là có hoạt tính ribonuclease (Liu et al., 1996); Metarhizium spp. Sản sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status