TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------
ĐINH THỊ LAM
ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỈA CÀNH ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY
CÀ CHUA MÚI (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
2
VINH – 5. 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------
ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỈA CÀNH ĐẾN NĂNG SUẤT
CÂY CÀ CHUA MÚI (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
Người thực hiện:
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông - Lâm - Ngư cùng tất cả
các thầy cô trong tổ bộ môn Nông học đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Cán bộ UBND, cùng người dân
xã Thạch Giám; Trạm Khuyến nông huyện Tương Dương đã giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong
gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 24 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Lam
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cs
CT
AVRDC
ƯTL
KH - KT
UBND
KH&CN
NSCT
NSLT
NSTT
Hình 3.4. Chiều cao từ gốc đến chùm hoa đầu tiên
Hình 3.5. Quả cà chua múi
Hình 3.6. Màu sắc quả
Hình 3.7. Động thái ra lá của cà chua múi
Hình 3.8. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của Cà chua múi
Biểu đồ 3.1. Tổng số hoa trên cây
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ đậu quả
Biểu đồ 3.3. Tổng số quả trên cây
Biểu đồ 3.4. Khối lượng trung bình quả
Biểu đồ 3.5. Năng suất cá thể của cà chua múi
Biểu đồ 3.6. Năng suất của Cây cà chua múi
10
MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của đề tài
Cà chua (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.) là loại trái cây không thể thiếu
trong thực đơn gia đình cũng như các nhà hàng, là nguồn cung cấp khoáng chất và
vitamin góp phần làm cho món ăn, nước uống trở nên bổ dưỡng hơn.
Trong cà chua có chứa chất lycopen, đây là thành phần tạo nên màu đỏ của
quả cà chua. Chất này làm giảm đi những nguy cơ của bệnh tim mạch và ngăn ngừa
bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra, chất lycopen còn có thể làm giảm hiện tượng
oxy hóa [12].
Nhờ vậy, cà chua giúp cho da bạn luôn mịn màng, tươi sáng, đồng thời làm
chậm khả năng lão hóa của da và cơ thể. Thêm nữa, loại quả này còn có thể ngăn
chặn các tế bào ung thư [12].
Hơn nữa, cà chua là một trong những loại rau ăn quả quan trọng được trồng
phổ biến và trở thành một trong những loại được ưa chuộng bậc nhất trên thế giới.
Không chỉ là nguồn dinh dưỡng đặc biệt mà nó còn là nguồn nguyên liệu phong phú
cung cấp cho các nhà máy chế biến thực phẩm, nước giải khát...
điểm nông sinh học và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng
suất cây cà chua múi (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)”
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở của việc nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của
biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng suất cây cà chua múi từ đó làm tiền đề cho
việc sản xuất cây cà chua múi đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học của cây cà chua múi.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất dưới tác
động của một số biện pháp kỹ thuật lên cây cà chua múi.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
12
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học, làm tiền đề
cho việc nghiên cứu về cây cà chua múi theo hướng chuyên sâu hơn về giống cà
chua bản địa này.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả thu được của đề tài là nguồn tư liệu quý để đánh giá tiềm năng về năng
suất, chất lượng của cây cà chua múi bản địa.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần từng bước xây dựng quy trình kỹ thuật thâm
canh cây cà chua múi vụ Đông xuân ở huyện Tương Dương và một số huyện miền
núi của tỉnh Nghệ An.
13
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bên cạnh đó, cây trồng sinh trưởng và phát triển còn chịu ảnh hưởng to lớn từ
các điều kiện ngoại cảnh. Một trong những nhân tố sinh thái ảnh hưởng quan trọng
đó là ánh sáng. Ánh sáng có mối liên quan mật thiết đến khả năng quang hợp của
cây. Chất khô tích lũy được, trong đó 95% là từ quang hợp, còn 5% còn lại là lấy từ
chất khoáng của đất [15]. Trong sản xuất, sản phẩm chất khô mà cây trồng tích lũy
được, người ta chia ra 2 bộ phận: Năng suất sinh vật và Năng suất kinh tế. Tỷ lệ
giữa Năng suất sinh vật và Năng suất kinh tế được gọi là Hệ số kinh tế. Hệ số kinh
tế cao hay thấp là tùy loại cây trồng, sinh trưởng phát triển thân lá, sự ra hoa, kết
quả, sự vận chuyển và tích lũy chất hữu cơ từ lá về bộ phận kinh tế thuận lợi hay
không. Bởi vậy, chúng ta có thể tác động vào quang hợp để tăng năng suất cây
trồng. Bao gồm: Tăng hệ số sử dụng quang năng và tăng cường độ quang hợp.
Trong đó, biện pháp kỹ thuật tỉa cành là một trong những biện pháp đã được áp
dụng cho cây trồng nhằm tăng năng suất thông qua thõa mãn các yêu cầu cần thiết
cho quang hợp, từ đó làm tăng hệ số sử dụng năng lượng mặt trời dẫn đến tăng năng
suất cây trồng [15].
Tại mỗi địa phương có những loài cây phân bố tự nhiên gọi là cây trồng bản
địa. Ưu điểm của cây bản địa là có khả năng thích ứng tốt với điều kiện thiên nhiên
tại địa phương đó, ít bị tổn hại bởi các tác nhân nên có tính ổn định cao, nguồn
giống có sẵn, dồi dào và rẻ tiền; dễ dàng lựa chọn có đặc tính mong muốn do có
tính đa dạng cao, tạo ra cảnh quan phù hợp với tiềm thức và văn hóa dân tộc. Ngoài
ra, người dân có nhiều kinh nghiệm trong việc nhận biết, sử dụng và phát triển.
Việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của mỗi loại cây trồng có ý nghĩa to
lớn trong việc ứng dụng vào sản xuất và tác động các biện pháp phù hợp nhằm bảo
tồn nguồn gen, phục tráng giống, mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất và chất
lượng nông sản.
Bên cạnh đó, nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến năng suất
cũng là một hướng đi quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình và tăng năng suất
cây trồng.
chua múi là cây trồng bản địa gắn bó với bà con nơi đây trong mỗi mùa sản xuất.
16
Tuy nhiên, sản xuất chỉ dừng trong quy mô nông hộ, quá trình trồng và chăm
sóc gặp nhiều khó khăn do thiếu khoa học kỹ thuật, diện tích sản xuất còn manh
mún. Vì vậy mà công tác sản xuất mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, chưa có sản
phẩm ra thị trường trong khi nhu cầu tiêu dùng lại rất cao (giá bán 20.000 – 30.000
đồng/kg, trong khi giá cà chua thông thường từ 10.000 – 15.000 đồng/kg).
Vì vậy, cần có các nghiên cứu nhằm bổ sung thêm thông tin, dữ liệu hữu ích về
loài cây trồng này từ đó hướng tới mục tiêu xây dựng quy trình thâm canh đạt năng
suất cao, góp phần tạo ra hàng hóa đáp ứng thị trường người tiêu dùng.
1.2. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm của cây cà chua
1.2.1. Nguồn gốc
Cây cà chua có nguồn gốc ở vùng Nam Mĩ. Tomato là tên gọi của Nam Mỹ chỉ
cây cà chua, từ này có nguồn gốc từ xitomate hoặc Zitomate va Mexican tomati [9].
Theo tài liệu nghiên cứu của Decandole (1844), Muller (1940), Luckwill (1943),
Jenkin (1948) thì cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Peru, Ecuado và Bolivia.
Và cà chua hoang dã vẫn có thể được tìm thấy ở dãy núi Andes. Ở các vùng núi ở
Trung và Nam Mỹ, người ta tìm thấy rất nhiều dạng cà chua dại và cà chua trồng.
Decandole đã chứng minh rằng cà chua dại quả lớn rất phổ biến, dạng cà chua
dại quả nhỏ thì phát triển phổ biến dọc theo bờ biển của Peru, miền Đông Peru và
tại vùng biên giới Mêhico và Mỹ theo hướng lên tới Califolia. Bukaxop (1930) đã
tìm thấy các dạng cà chua dại tại vùng rừng núi của Mêhico, Goatemala và
Colombia. Khả năng lớn nhất của cà chua là các nước Peru và Mêhico. Nhiều bằng
chứng về khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đã thừa nhận Mêhico
là trung tâm thuần hóa cà chua trồng. Pier Andrea Mattioli cho rằng những giống cà
chua đầu tiên đưa vào Châu Âu xuất phát từ Mêhico. Đến thế kỉ 18, cà chua được
trồng phổ biến, sử dụng làm thực phẩm ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Ở Châu Á,
cà chua được đưa đến đầu tiên là Philippin, Java và Malayxia từ Châu Âu qua các
trồng hiện nay thuộc biến chủng này. Cây có khối lượng lớn và thường được cắt tỉa.
+ L. esculentum vai.cerasiforme (cà chua Anh Đào): Lá mỏng và nhỏ, chùm
hoa dài là phổ biến, quả chia 2 ngăn, quả hình cầu màu đỏ hoặc vàng, đường kính
khoảng 2cm, có 15- 25 quả/chùm.
+ L.esculentum var. grandifolium: Lá to, phẳng, lá chét hình khoai tây và
không quá 5 lá chét/ 1 lá, có hoặc không có lá chét nhỏ.
18
+ L. esculentum var. validum (cà chua đứng): Cây mập, đứng cây, chắc chắn,
không cần chống đỡ, lá xanh thẫm, quăn và nhiều lá.
1.2.3. Đặc điểm và giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế của cây cà chua.
Cây cà chua có 2 loại hình sinh trưởng: hữu hạn và vô hạn. Cà chua là cây dài
ngày, tự thụ phấn. Quả cà chua mọng, khi chín có màu vàng hoặc đỏ, có nhiều hình
dạng: tròn, dẹt, có cạnh, có múi…[13]
Trong quả cà chua chín chứa nhiều loại chất dinh dưỡng có giá trị cao như các
dạng đường dễ tiêu (2- 4%) chủ yếu là Glucoza và Fructoza; các loại vitamin cơ bản
cần thiết cho con người như tiền vitamin A (1- 2mg%), vitamin B1 (0,08- 0,15mg
%), vitamin B2 (0,05- 0,07 mg%), vitamin B6 và nhiều nhất là vitamin C (20- 40
mg%). Ngoài ra còn có vitamin K, vitamin PP (0,5- 16,5mg%); Xenluloza (0,8%);
tro (0,4%). Mặt khác trong quả cà chua còn chứa 2,25- 2,50% các loại axit như:
oxalic, malic, nicotinic, citric… và nhiều chất khoáng như kali (114- 207mg%),
photpho (23- 36mg%), natri (8- 45,8mg%), canxi (7- 20mg%), magie, lưu huỳnh,
sắt… là những chất có trong thành phần của máu và xương. Quả tươi còn góp phần
làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa thức ăn và lông nhung của ruột, qua đó giúp cho quá
trình tiêu hóa, hấp thụ thức ăn được dễ dàng [22], [32]. Cà chua có thể giúp bảo vệ
những người nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ bị bệnh phổi (các nhà khoa học thuộc đại
học y khoa Juntendo - Nhật Bản) [16]. Lycopen trong quả cà chua có tác động mạnh
đến việc giảm sự phát triển nhiều loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư
ruột kết, ung thư trực tràng và nhồi máu cơ tim do Lycopen ngăn chặn sự phá hủy
giống cà chua lai ghép chất lượng tốt được phát triển mạnh ở Đà Lạt, Lâm Đồng.
Một số giống cà chua chất lượng đã được xuất khẩu ra thị trường thế giới [22].
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nước xốt cà chua có tác dụng rất tốt
trong việc phòng chống bệnh tiểu đường.
Chất carotenoid trong cà chua giúp chuyển hóa vitamine A, tăng khả năng
miễn dịch và làm cho bộ máy hô hấp trong cơ thể được cải thiện. Sử dụng cà chua
thường xuyên sẽ giảm đi nguy cơ mắc những bệnh hen suyễn, phổi.
Chính nhờ các yếu tố trên, cà chua được xem là một thực phẩm giàu chất dinh
dưỡng để tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Mùa hè cà chua có tỉ lệ
đường/ độ chua cao nhất, được kể là 10 so với mùa xuân là 7. lượng vitamin C thấp
nhất vào mùa xuân (12mg/ 100g) so với 15mg dầu mè và cao nhất vào cuối hè [22].
20
1.3. Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Có thể nói, những tiến bộ ban đầu về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào
châu Âu. Năm 1863, có 23 giống cà chua được giới thiệu. Trophy được coi là giống
có chất lượng tốt ở thời kì đó với giá 5USD một gói nhỏ gồm 20 hạt giống. Trong
vòng hai thập kỉ, dòng, giống cà chua đã phát triển tới hàng mấy trăm năm [14].
Năm 1863, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở trường nông
nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng trọt.
A. Livington là người Mỹ đầu tiên nhận thức sự cần thiết phải chọn tạo giống cà
chua. Từ năm 1870 tới năm 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được
chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể. Cuối thế kỷ 19, trên hai trăm dòng,
giống cà chua được giới thiệu một cách rộng rãi.
Ở Bungari người ta đã sử dụng các loại hình cà chua dại thuộc các thứ Var.
racemigerum- có hàm lượng chất khô cao; Var. elongatum- có hàm lượng đường
cao, quả hình trụ; Var.pimpeneuifolium- chống bệnh sương mai (phythophtora
infestans) để lai với cà chua dạng trồng trọt thì kết quả thu được là ở dòng số 10 có
kháng bệnh, cải thiện kích thước quả, năng suất, chất lượng quả, hình thái quả như
độ cứng quả và chống nứt quả.
Để tập trung vào lĩnh vực chọn giống cà chua chịu nhiệt, nhiều nghiên cứu đã
sử dụng nguồn di truyền của các loài dại và bán dại làm nguồn gen chống chịu với
nhiệt độ cao. Bằng nhiều phương pháp: lai tạo, chọn lọc giao tử trên nền nhiệt độ
cao, chọn lọc hợp tử (phôi non)… đã thu được những kết quả bước đầu rất khả
quan, đặc biệt là các giống chịu nhiệt, có phổ thích ứng rộng, trồng được nhiều vụ
trong năm.
Lai giữa các loài và xử lý nhiệt độ là một phương pháp có hiệu quả để tăng
phổ biến dị, tăng khả năng thích ứng của loài với các điều kiện sống biến động của
môi trường (Orlova 1987) [19].
Điều kiện nhiệt độ của môi trượng có ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình xảy
ra ở cà chua như: hình thành giao tử đực, thụ tinh và hình thành phôi. Ở nhiệt độ
20- 210C hạt phấn nảy mầm và sinh trưởng ống phấn với tốc độ lớn nhất. Dưới tác
động của nhiệt độ 400C trong thời gian dài 4h thì hoa bị hỏng, làm giảm rất mạnh tỷ
lệ đậu quả. Thường các dạng cà chua đậu quả tốt ở điều kiện nhiệt độ cao thì cũng
biểu hiện khả năng đó ở nhiệt độ thấp (Restaino, Lombatdi, 1990) [27].
22
Chọn lọc nhân tạo hạt phấn trên cơ sở đa dạng hóa di truyền của chúng là một
trong những phương pháp chọn giống. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở cà chua bằng
cách chọn lọc hạt phấn với nhiệt độ cao, có thể nâng cao sự chống chịu của giai đoạn
sinh trưởng dinh dưỡng (Avdeev, 1982) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [4]
Ở cà chua dưới tác động của nhiệt độ cao, khả năng của hạt phấn giữ được sức
sống đi vào thụ tinh là khác nhau và phụ thuộc vào kiểu gen (Taracanov,
Krriuchcov, 1971) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998)[4].
Nhiệt độ cao gây chết ở cà chua nằm trong khoảng 40- 45 0C trong thời gian
6h. Các mẫu giống chịu nóng có ngưỡng đông đặc Protein là 55 0C. Ở nhiệt độ cao
(35- 500C) độ hữu dục của hạt phấn giảm đi, làm giảm tỷ lệ đậu quả (Gavrish,
Trong chọn lọc cac giống cà chua thích ứng (Scott, Olson, Chellemi et al.
1994) [31], ngoài việc tiến hành so sánh năng suất của các dòng chọn lọc với đối
chứng về tính chịu nóng, các tác giả còn chú trọng tới tính kháng bệnh như: bệnh
héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), kháng chủng 3 Fusarium oxysporum,
chịu thối vi khuẩn (Xanthomonas campestris PV.Vesicatoria). Kết quả đã chọn lọc
được được dòng chịu nóng Fla. 7324 và các con lai F1 của nó; dòng kháng héo vi
khuẩn Fla. 7421.
Kết quả thử nghiệm so sánh 156 giống nhập nội, Jiulong, Dahong đã đưa ra
giống Flora 544 và Heirse 6035 có năng suất vượt đối chứng tương ứng là 38% và
84%, giống chế biến Ohio 823 vượt đối chứng 29%. Cả 3 giống này đều chịu nóng
cao. Giống FL. 7221 được chọn là giống có chất lượng cao, đồng thời có khả năng
thương mại tốt. Bốn giống này thể hiện tính kháng bệnh Cucumovirus và
Tobamovirus (Liu Jinsheng; Wang Longzhi ey al, 1994) [21].
Để tăng cường giống cà chua trồng quanh năm, Chowdhury, 1989 [35] đã
nghiên cứu 32 giống nhập nội và 1 giống tự tạo, kết quả là 8 giống thích ứng đã
được chọn cho mùa hè và được sử dụng trong chương trình chọn giống có phổ thích
ứng rộng.
Một giống lai đã được sinh ra từ cặp lai Fla.7324 x Fla.7060 là giống
Equynox: sinh trưởng hữu hạn, chịu nóng, thích hợp ăn tươi sống, có tỷ lệ đậu quả
tốt ở nhiệt độ cao, có chất lượng thương mại tốt; quả thu vào mùa xuân và mùa thu
ở Florida, giống này kháng nứt quả tốt (Scott, Olson Howe et el, 1995) [27].
24
Công ty giống hoa quả Technisem của Pháp năm 1992 đã đưa ra nhiều giống
cà chua tốt có chất lượng cao như: Roma VF, Rossol VFA, Rio Gramde, Tropimech
VF1-2, Heinz, 1370, F1 campa, Fl Smal1 Fry VFN, Fl Perle Rouge VFN, Fl
Carmina, Fl Fantasia VFN, Xina, Carioca VFI- 2BW,...Các giống này đều có chung
đặc điểm là chịu nhiệt, năng suất cao, quả chắc, hàm lượng chất kho cao, chịu vận
chuyển và bảo quản lâu, chất lượng cảm quan tốt, chống chịu sâu bệnh [3].
Kháng thối thu hoạch- Chitinase gene
25
-
Kháng sâu- BT gen (From Bacillus thuringiensi).
(MC Gorvey, et al, 1994; Smith, Watson, 1990; Smith, Watson 1988) [23]
[30] [29].
Bằng phương pháp chọn lọc invitro từ giống UC82 mẫn cảm với
F.oxyspotum f. sp. Lycopersisi chủng 2 đã tạo ra được kiểu gen chống bệnh này
(Shahin, Spivey, 1986) [28].
Nhìn chung các giống mới dù được chọn tạo bằng phương pháp này hay
phương pháp khác cũng cần được chú ý tới sự kết hợp năng suất cao, chất lượng
ngon, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi.
Việc sử dụng ưu thế lai (ƯTL) đã tạo ra bước đột phá lớn trong công tác chọn
tạo giống cây trồng. Nhờ ƯTL đã tạo ra những cây trồng có năng suất rất cao và
phẩm chất đặc biệt. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà khoa học đã cho rằng thế
kỷ XXI là thế kỷ sinh vật học, trong đó các giống cây trồng vật nuôi ƯTL chiếm vị
trí tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp. Tổ hợp lai N0 10 × Mondavi đạt 816 tạ/ ha
và giống Main 12/20- 4 đạt 712 tạ/ha (Ksova, 1978). Do vậy, kết luận về ƯTL, viện
sĩ Daskalor đã nhấn mạnh:
Nghiên cứu ƯTL xác nhận rằng, trong một số tổ hợp lai hiệu quả được biểu
hiện chủ yếu là tăng sản lượng rất lớn, biến động từ 48,3- 73,8%.
Một số tổ hợp lai có chất lượng tốt có thể sử dụng rộng rãi trong sản xuất. Sản
xuất hạt lai ở một vùng lớn là hoàn toàn có khả năng và có giá trị kinh tế [3].
Ở các nước như Nhật, Pháp, Hà Lan, Anh…nhờ ứng dụng ƯTL đã tạo ra
những con lai siêu năng suất. Bình quân năng suất cà chua của Hà Lan đạt tới
425 tấn/ha. Trung Quốc là nước đầu tiên có công nghệ chuyển gen có tính chất