Điều tra thành phần loài tảo silic (Bacillariophyta) và chất lượng nước trong một số đầm nuôi tôm tại huyện Quỳnh Lưu Nghệ An - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ THANH TÂN

§

Điều tra thành phần loài tảo Silic

(Bacillariophyta) và chất lượng nước trong một số
đầm nuôi tôm tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ
An”.

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ THANH TÂN

§ Điều

tra thành phần

loài

tảo Silic


bạn học viên lớp cao học 19 chuyên ngành Thực vật và những người thân
trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Thanh Tân


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU.........................................................................
1.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam..................10
1.1.1. Trên thế giới..........................................................................................................10
1.1.2. ỞViệt Nam............................................................................................................12
1.2. Đặc điểm hình thái của tảo Silic..............................................................................17
1.2.1. Hình thái vỏ (vách tế bào)....................................................................................17
1.2.2. Cấu trúc vỏ tảo.......................................................................................................18
1.3. Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản............................................20
1.4. Điều kiện tự nhiên của của địa bàn nghiên cứu........................................................21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
...............................................................................................................
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................................24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.............................................................................24
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu..............................................................................................24
2.2.2. Thời gian nghiên cứu.............................................................................................24
2.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................25

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt 1 thu mẫu
...............................................................................................................
Bảng 3.2. Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt 2 thu mẫu
...............................................................................................................
Bảng 3.3. Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu
...............................................................................................................
Biểu đồ 3.1. Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu
mẫu........................................................................................................
Bảng 3.4. Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu...........
Bảng 3.5. Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu.............
Biểu đồ 3.2. Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu
...............................................................................................................
Bảng 3.6. Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước tại các điểm nghiên
cứu qua 2 đợt thu mẫu..........................................................................
Biểu đồ 3.3. Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước tại các điểm
nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu..............................................................
Bảng 3.7. Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu..........
Bảng 3.8. Hàm lượng NO3- trung bình qua các đợt nghiên cứu...............................
Biểu đồ 3.4. Hàm lượng NO3- trung bình qua các đợt nghiên cứu...........................
Bảng 3.9. Hàm lượng NH4+ trung bình qua 2 đợt nghiên cứu.................................
Bảng 3.10. Hàm lượng PO43- trung bình qua các đợt nghiên cứu...........................
Biểu đồ 3.5. Hàm lượng PO43- trung bình qua các đợt nghiên cứu.........................
Bảng 3.11. Hàm lượng SiO2 trung bình qua các đợt nghiên cứu..............................
Biểu đồ 3.6. Hàm lượng SiO2 trung bình qua các đợt nghiên cứu...........................
Bảng 3.12. Danh lục thành phần loài tảo Silic tại một số đầm tôm ở huyện
Quỳnh Lưu - Nghệ An qua 2 đợt nghiên cứu.......................................




9
phải tìm ra những thành phần nào, những yếu tố và thời gian nào ảnh hưởng
đến tốc độ sinh trưởng và tạo sinh khối của thực vật nổi để tạo ra các biện
pháp cần thiết để điều khiển thực vật nổi trong ao nuôi. Song ở nước ta, các
công trình nghiên cứu về thực vật nổi và mối quan hệ giữa chúng với các yếu
tố môi trường lý, hóa học trong ao nuôi tôm còn quá ít. Vì thế chưa đánh giá
đúng mức về sự phát triển cũng như vai trò của thực vật nổi trong hệ sinh thái
ao nuôi, gây khó khăn cho việc quản lý chất lượng nước và khai thác nguồn
thức ăn tự nhiên trong ao nuôi.
Trong các thuỷ vực nước ngọt Tảo Silíc thường là một trong các thành
viên chính tạo nên năng suất sơ cấp cho thuỷ vực. Trong các biển và đại
dương Tảo Silíc luôn là thành phần chính cả về thành phần loài cũng như sinh
khối, thường chiếm trên 70%, có nơi có lúc chúng hầu như quyết định 100%.
Người ta ước tính hàng năm toàn bộ thực vật phù du trong đó chủ yếu là Tảo
Silíc đã tạo nên khoảng 19 tỷ tấn chất hữu cơ, nuôi sống khoảng 5 tỷ tấn động
vật không xương sống. Và trong ngành thuỷ sản sự xuất hiện của tảo Silíc là
một trong những tín hiệu quan tâm của người nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản.
Hiện nay, tại huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An nghề nuôi tôm công
nghiệp đã trở thành phong trào nơi đây. Nếu như cuối những năm 90 của thế
kỷ trước, người nông dân khu vực ven biển chỉ áp dụng kinh nghiệm của tỉnh
bạn cải tạo ao đầm ven biển để nuôi tôm theo lối quảng canh, thì đến nay
nghề nuôi tôm đã trở thành nghề chính cho nông dân ven biển khu vực này.
Có những xã diện tích nuôi tôm công nghiệp lên đến hàng trăm ha như Quỳnh
Xuân, Quỳnh Bảng, Trịnh Môn.
Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Điều tra thành phần loài tảo
Silic (Bacillariophyta) và chất lượng nước trong một số đầm nuôi tôm tại
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”.
Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định thành phần loài tảo Silic ở một số



11
Crossby và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silic ở Ôxtrâylia và Niudilân hay
Sournia A. (1968) khảo sát tảo Silic phù du ở vùng biển ven bờ Môzămbic.
Đáng chú ý hơn cả là những công trình điều tra, khảo sát Silic trên vùng biển
Ấn Độ Dương mà Kastern G. là người đầu tiên thực hiện vào năm 1907. Về
sau, vào những năm 1964 - 1965 một số nhà khoa học đã nghiên cứu đối
tượng này tại 103 điểm, trong đó có một số khu vực mà Kastern G. đã quan
tâm 60 năm trước đó. Kết quả được Reimer Simonsen (1974) tổng hợp trong
cuốn “The Diatoms Plankton of The India Ocean”, mô tả 247 taxon loài và
dưới loài thuộc 80 chi, trong đó có 15 loài, 1 thứ và 3 chi được coi là mới đối
với khoa học [Dẫn theo 4].
Kokubo A. (1955) đã công bố cuốn “Tảo Silic phù du” bằng tiếng
Nhật, trong đó đã mô tả chi tiết 370 loài tảo Silic ở biển và ao, hồ của Nhật
Bản. Năm 1965, Kim Đức Tường và cộng sự đã xuất bản cuốn “Trung Quốc
hải dương phù du khuê tảo loại” trình bày 228 loài tảo Silic phù du ở các
vùng biển Trung Quốc, là nơi có mối quan hệ mật thiết với biển và sông ngòi
của nước ta [Dẫn theo 1].
Nghiên cứu tảo Silíc trên thế giới phải kể đến các công trình của Foged
N. Ông đã dành trọn cuộc đời mình để nghiên cứu tảo Silic ở rất nhiều nơi trên
thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Mỹ đến châu Úc với hình vẽ chi tiết các
taxon tảo Silíc đã phát hiện được. Năm 1976 [25] ông đã tiến hành nghiên cứu
tảo Silic nước ngọt ở Srilanka trên 22 vùng khác nhau, công bố được 310 loài,
thuộc 34 chi, trong đó có 1 loài mới. Tiếp đó năm 1978 [26] tác giả tiến hành
nghiên cứu ở phía đông nước Úc đã phát hiện và công bố được 860 loài thuộc
70 chi, trong đó có 10 loài mới. Năm 1984 [27] trong công trình “Tảo Silic ven
biển Cuba” ông đã phát hiện và công bố 203 loài, trong đó có 16 loài mới.



Sau đó, năm 1972 Trương Ngọc An và một số đồng nghiệp đã tiến
hành khảo sát vùng cửa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ và vùng biển
ven bờ tỉnh Nam Hà. Kết quả sơ bộ cho thấy sự ưu thế vượt trội của tảo Silic
phù du (110 loài, chiếm 88%) trong những thủy vực nước lợ đó [2].
Năm 1972, Cudơmina A.l. có một báo cáo về thực vật phù du trong
mùa hè ở vịnh Bắc bộ, do tàu Peelamida vớt mẫu vào tháng 7 năm 1961 đã
đưa ra danh lục trong đó có 61 loài tảo Silic [Dẫn theo 1].
Cũng Trần Trường Lưu (1975) [15] đã tiến hành nghiên cứu trên sông
Hồng, sông Đà, sông Mã và một số sông đào khác và đã thống kê được 98 chi
tảo sông thuộc các ngành: tảo Silic, tảo lục, tảo lam, tảo mắt, tảo giáp, tảo
vàng và tảo vàng ánh.
Năm 1978, trong báo cáo “Thực vật phù du vùng ven biển Quảng Ninh
- Hải Phòng”, Trương Ngọc An đã giới thiệu một bảng tên loài ghi danh 156
loài tảo Silic. Dựa vào các nguồn tài liệu trước đó ông đã biên soạn cuốn
“Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” mô tả 225 loài tảo thuộc 2 bộ, 18
họ, 60 chi tảo Silic [1]. Với danh mục loài phong phú, phần mô tả chi tiết, dễ
hiểu, các hình vẽ rõ ràng, cuốn sách thực sự là một tài liệu chuyên sâu về
phân loại có giá trị, rất cần thiết và thuận lợi trong nghiên cứu tảo Silic.
Dương Đức Tiến (1981) nghiên cứu thực vật nổi trên một số sông, suối
tiêu biểu thuộc các miền khác nhau ở Việt Nam, đã phát hiện được 286
loài/dưới loài, trong đó tảo Silic chiếm ưu thế với 180 loài. Ở một số con sông
lớn như sông Hồng, trong số 55 loài vi tảo đã phát hiện có 33 loài tảo Silic, ở
sông Hương có 64 loài tảo Silic (trong số 95 loài được tìm thấy), còn ở sông
Cửu Long tác giả đã phát hiện 136 loài vi tảo, trong đó tảo Silic có 83
loài/dưới loài .
Ở miền Trung, những nghiên cứu về TVN trong các vũng, vịnh, đầm
phá ven biển phía Nam có các công trình tiêu biểu sau: Tôn Thất Pháp (1993)


14

Thành phần loài TVN trong đầm nuôi tôm ở hai vùng có sự khác nhau, với hệ
số giống nhau S = 0,34. Mật độ tế bào TVN trong các đầm này cũng khá
phong phú (17,8 - 25) × 103tb/L ở đầm nuôi Quỳnh Lưu, 25 - 28 × 105tb/L ở
đầm nuôi Thạch Hà [5].
Võ Hành cùng Phan Tấn Lượm (2010) [8] đã thống kê được 110 loài
tảo Silic ở cửa Cung Hầu (sông Tiền Giang), trong đó các chi chủ đạo thuộc
về

Coscinodiscus,

Chaetoceros,

Pleurosigma,

Cyclotella,

Nitzschia,

Rhizosolenium, Gyrosigma và Biddulphia.
Lương Quang Đốc (2007) đã phát hiện 113 loài/dưới loài tảo Silic sống
trên nền đáy mềm ở đầm, phá tỉnh Thừa Thiên - Huế [6].
Ở Miền Nam, các công trình nghiên cứu về sự phân bố thành phần loài
tảo trong các ao nuôi tôm còn được đề cập trong công trình nghiên cứu của
Đỗ Thị Bích Lộc (2002) khi đánh giá sự ô nhiễm ao nuôi tôm Sú qua chỉ số
tảo (phytoplankton) trong các ao tôm tại Cần Giờ (TP. HCM), TVN có số loài
thấp (14 - 48 loài, tảo Silíc chiếm ưu thế), trong khi mật độ tế bào lại khá cao
từ 8 × 103 - 7.720 × 109tb/L. Các ao nuôi trên ruộng lúa có mật độ thấp hơn (3,2
- 7,7 ×106tb/L), ưu thế thuộc về các loài thuộc chi tảo Lam Phormidium,
Oscillatoria và tảo Silíc Nitzschia, Pleurosigma. Trong một số ao nuôi tôm
thuộc Cần Giuộc (Long An) tảo phát triển mạnh, gây ô nhiễm môi trường với

phương pháp phân tích ADN được áp dụng với một số nhóm tảo, nhất là với
các nhóm có tính độc tố giúp cho việc xây dựng cây phát sinh chủng loại và
phát hiện các loài và dưới loài mới cũng như thẩm định lại các loài đã biết. Có
thể kể đến các công trình của Nguyễn Thị Thu Liên, Lê Như Hậu và Nguyễn
Hữu Đại, Đặng Diễm Hồng và cộng sự, Đặng Đình Kim và cộng sự. Các ứng
dụng về toán học và tin học trong sinh học cũng được sử dụng để đánh giá tác
động của các yếu tố môi trường lên tảo[Dẫn theo 18].
Bên cạnh những thành tựu nói trên, chắc chắn còn có nhiều cuộc điều
tra, khảo sát đã được tiến hành trên quy mô nhỏ hay mang tính địa phương


17
nhưng chưa được công bố đầy đủ, dù vậy chúng đều có những đóng góp đáng
kể trong việc nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta.
1.2. Đặc điểm hình thái của tảo Silic
Tảo Silic là cơ thể đơn bào dạng hạt sống đơn độc hay sống thành tập
đoàn dạng palmella, dạng sợi, dạng chuỗi, dạng zíc zắc, dạng băng, dạng sao,
dạng các ống nhầy không phân nhánh hay phân nhánh đơn giản hoặc phức tạp
dạng cây. Kích thước của tế bào từ vài µm đến vài trăm µm. Tế bào Tảo silíc
có nhân là lưỡng bội. Tảo silíc khác biệt với tất cả các ngành tảo khác bởi cấu
trúc độc đáo của vách tế bào là gồm hai mảnh cấu thành bởi lớp trong là
pectin và lớp ngoài là chất silíc (SiO 2. 7H2O). Hai mảnh vỏ có cấu trúc như
hai nắp của một cái hộp lắp vào với nhau, bên trong chứa tế bào chất. Như
vậy có một mảnh vỏ lớn và một mảnh vỏ nhỏ hơn. Bề mặt của mỗi mảnh vỏ
là mặt vỏ của tế bào. Như vậy mỗi tế bào có hai mặt vỏ. Mặt bên của mảnh vỏ
khi lắp vào với mặt bên của mảnh vỏ thứ hai tạo thành mặt đai của tế bào.
Nếu mặt vỏ có hình tròn, hình elíp hay hình có hai góc thì mỗi tế bào chỉ có
hai mặt đai, còn mặt vỏ có hình nhiều góc thì tương ứng với mỗi cạnh của
hình đa giác của mặt vỏ là một mặt đai. Những Tảo silíc trên mặt vỏ có các
cấu trúc hoa văn là các vách hay sườn ngang hoặc xiên hoặc các chấm xếp

- Dạng chữ chi (zigzag) hay hình sao: đầu mút của mỗi tế bào dính lại
với nhau theo kiểu zigzag hay hình sao nhờ các tấm chất nhầy.
1.2.2. Cấu trúc vỏ tảo


19
Tảo Silic có cấu tạo gồm hai mảnh vỏ lồng vào nhau tương tự như hộp
đĩa petri, nên khi quan sát tảo có thể thấy mặt đai (nhìn ngang) hoặc một vỏ
(nhìn từ trên xuống).

Cấu tạo vỏ tảo Silic
a. Nhìn thẳng, b. Nhìn nghiêng:
1. Mảnh vỏ ngoài; 2. Mảnh vỏ trong;
3. Đường rãnh; 4. U lồi
(Nguồn: Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam www.botanyvn.com)

Ngoài các đặc điểm về hình dạng, kích thước (chiều dài, chiều rộng,
chiều cao) của tế bào tảo thì các cấu trúc và vi cấu trúc lỗ trên bề mặt của vỏ
tảo như hình dạng, số lượng, cách sắp xếp của chúng cũng phải được quan sát
để căn cứ vào đó mà định danh.
- Tảo Silic trung tâm: hình dạng, số lượng, cách sắp xếp dải lỗ vân (đơn
lẻ hay thành nhóm) từ trung tâm đến viền mép của mặt vỏ; bề mặt vỏ (lồi,
lõm, phẳng, hình nón hay gợn sóng); số lượng, hình dạng các u lồi, lông gai,
gai, mấu, chúng sắp xếp ở trung tâm hay viền mép mặt vỏ.
- Tảo Silic lông chim không rãnh: thường có dạng hình que, kích thước
rất nhỏ, đa số sống bám. Những đặc điểm cần chú ý: hình dạng, cách liên kết
các tế bào, có hay không có rãnh giả, số lượng các dải vân, sự sắp xếp các dải
vân, các dải trơn chạy dọc theo mặt vỏ, đặc điểm phân bố các dải vân ở trung
tâm với vùng đầu của mặt vỏ.


21
này sẽ được dùng làm thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng và ấu thể ban đầu
của các loài giáp xác và cá [3].
Trên thế giới, năm 1910 Allen G.O. và Nelson E.M. đã sử dụng tảo Silic
làm nguồn thức ăn cho một số động vật không xương sống. Năm 1939 Bruce D.
đã phân lập và nuôi 2 loài tảo đơn bào (Isochrysis galbana và Pyramimonas
grosii) để nuôi ấu trùng hàu. Ở Nhật Bản việc nuôi tảo silíc Skeletonema
costatum và Chaetoceros sp. làm thức ăn cho ấu trùng tôm là điều kiện tiên
quyết sự thành bại của nghề nuôi tôm. Hiện nay, việc nuôi tảo theo quy mô công
nghiệp để phục vụ cho nuôi trồng thủy sản đã rất phổ biến và đang phát triển
thành công nghệ ở nhiều nước như: Ostrâylia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung
Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapo, Malaysia, Philippin… [Dẫn theo 22].
Ở Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm đưa Spirulina
vào thức ăn của cá mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, rô phi với tỉ lệ 5% đã làm tăng
tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá [18]. Từ năm 1980 đến nay nhiều địa
phương đã tiến hành nuôi trồng vi tảo để làm thức ăn cho các cơ sở nuôi
trồng thủy sản, đặc biệt ở Quảng Ninh, Đà nẵng, Bình Định, Khánh Hòa…
[Dẫn theo 22].
1.4. Điều kiện tự nhiên của của địa bàn nghiên cứu
Vị trí địa lý: Quỳnh Lưu là huyện đồng bằng ven biển, với diện tích
tự nhiên 43.762,87ha, dân số 279.977 (tính đến 03/4/2013); có 33 đơn vị
hành chính (gồm 32 xã và 1 thị trấn), 406 thôn, bản, khối phố. Huyện có
tuyến đường Quốc lộ 1A, Quốc lộ 48, đường sắt Bắc Nam, đường Tỉnh lộ
537 đi qua;
Quỳnh Lưu là huyện ven biển, nằm ở phía Bắc Tỉnh Nghệ An, cách
Thành phố Vinh 74 km. Có bờ biển dài 34 km từ xă Quỳnh Thọ đến xã
Quỳnh Lập (12 xã,), có 3 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn và lạch Thơi) và có
tới 12 xã chịu ảnh hưởng trực tiếp và hưởng lợi từ nguồn sản phẩm của biển.




23
Lao động và thu nhập
Tổng số lao động của huyện năm 2007 là 250.000 Lao động, trong đó
lao động nam chiếm 65%, còn lại là lao động nữ. Vùng ven biển có 50.000
lao động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 25%, lao động đánh cá là
19%, thấp nhất là nuôi tôm chỉ có 5%.
Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu ở Quỳnh Lưu khá cao so với các
huyện trong tỉnh và có xu hướng tăng nhờ lợi thế phát triển kinh tế thủy sản.
Riêng vùng ven biển, thu nhập bình quân của lao động cao hơn rất nhiều so
với các vùng khác.
Giá trị sản xuất
Do là một huyện vùng ven biển nên Quỳnh Lưu chủ yếu vẫn dựa vào
thế mạnh sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Tỷ trọng nông nghiệp của huyện
(gồm cả thuỷ sản) chiếm khoảng 48%. Vùng ven biển, tuy diện tích đất tự
nhiên chỉ chiếm 13,68% đất tự nhiên của toàn huyện nhưng tổng sản phẩm xã
hội chiếm khoảng 30% tổng thu nhập của toàn huyện.
Các hoạt động nuôi tôm chủ yếu tập trung dọc theo sông Mơ, từ xã
Quỳnh Lộc cho đến xã An Hoà, đặc biệt phát triển mạnh ở một số xã như:
Quỳnh Bảng, Quỳnh Liên, Mai Hùng, Quỳnh Lộc. Riêng hai xã Quỳnh Lộc
và Quỳnh Bảng, tổng diện tích tiềm năng chiếm gần 30% tổng diện tích của
huyện, phần lớn hệ thống nuôi tại đây phù hợp với nuôi tôm thâm canh năng
suất cao, đặc biệt với tôm chân trắng-là loài thích nghi với vùng bãi ngang.
Tiêu thụ các sản phẩm thuỷ hải sản thuận lợi. Giá cả tôm nuôi như sau: Tôm
sú (Penaeus monodon) có giá 100.000đ/kg (loại 40 con/kg), tôm chân trắng là
75.000 - 110 000 đ/kg (loại 60-70 con/kg) (năm 2010, 2011).


24
Chương 2

Mẫu nước được thu vào chai Thạch Bích 1,25 lít, bảo quản ở 4 0C và
phân tích trong vòng 24 giờ. Mẫu nước dùng để phân tích chỉ tiêu oxy hòa tan
(DO) được thu riêng và cố định ngay trong lọ thủy tinh nút mài 125 ml.
2.4.2. Phương pháp thu mẫu tảo Silic
Mẫu tảo được thu bằng lưới vớt thực vật nổi N 075, vợt qua vợt lại trên
tầng mặt nhiều lần để thu mẫu định tính. Lấy 10 lít nước lọc qua lưới nêu
trên để lấy 50 ml làm mẫu định lượng. Các mẫu tảo được cố định bằng
formol 4% (gồm 28 mẫu định tính và 28 mẫu định lượng, tất cả đều được
ghi nhãn đầy đủ).
2.5. Phương pháp phân tích
2.5.1. Phương pháp phân tích thủy lý, thủy hóa
- Nhiệt độ, pH được đo tại chỗ bằng máy đo Watertest.
- Độ trong đo bằng đĩa Secchi.
- Độ mặn được đo tại chỗ bằng máy đo độ mặn ATAGO.
- Xác định hàm lượng Oxi hòa tan (DO) bằng phương pháp Winkler.
- Xác định độ Oxi hóa học (COD) bằng phương pháp Kalipemanganat.
- Xác định hàm lượng NH4+: Sử dụng phương pháp so màu với thuốc
thử Nesler ở bước sóng λ = 420nm.
- Xác định hàm lượng NO3-: Sử dụng phương pháp so màu với axít
phenoldisunfonic ở bước sóng λ = 440nm.
- Xác định hàm lượng PO 43-: Sử dụng phương pháp so màu với thuốc
thử SnCl2 ở bước sóng λ = 650nm.
- Xác định hàm lượng SiO2 bằng phương pháp so màu với thuốc thử
K2CrO4 ở bước sóng λ = 440nm.
- Phương pháp so màu được thực hiện trên máy quang phổ tử ngoại.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status