Chất lượng nước và thành phần loài tảo Silic (Bacillariophyta) trong một số đầm nuôi tại huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 29

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH

Lấ TH THOCHấT LƯợNG NƯớC Và THàNH PHầN LOàI TảO SILIC
(BACILLARIOPHYTA) TRONG MộT Số ĐầM NUÔI TÔM
TạI HUYệN NGHI XUÂN TỉNH Hà TĩNH
LUN VN THC S SINH HC
NGH AN - 2014
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
Lấ TH THO
CHấT LƯợNG NƯớC Và THàNH PHầN LOàI TảO SILIC
(BACILLARIOPHYTA) TRONG MộT Số ĐầM NUÔI TÔM
TạI HUYệN NGHI XUÂN TỉNH Hà TĩNH
Chuyờn ngnh: Thc vt hc
Mó s: 60.42.01.11
LUN VN THC S SINH HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS. TS. NGUYN èNH SAN
NGH AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS. TS. Nguyễn Đình San
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo khoa Sinh học, Phòng đào tạo
Sau đại học Trường Đại học Vinh.
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo phụ trách các Phòng thí
nghiệm Môi trường - Hóa sinh, Thực vật, nuôi cấy mô thực vật thuộc Trung
tâm Thực hành thí nghiệm trường Đại học Vinh.

2.4. Phương pháp phân tích 19
2.4.1. Phương pháp phân tích thủy lý, thủy hóa [21]
2.4.2. Phương pháp định loại tảo silic
2.4.3. Phương pháp định lượng tảo silic
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
ii
3.1. Kết quả phân tích chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá mẫu nước ở một số đầm nuôi tôm
huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 21
3.1.1. Một số chỉ tiêu thủy lý
3.1.2. Một số chỉ tiêu thủy hóa
3.1.3. Đánh giá chung:
3.2. Kết quả phân tích mẫu tảo ở một số đầm nuôi tôm huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 38
3.2.1. Đa dạng về taxon tảo Silic (Bacillariophyta)
3.2.2. Đa dạng tảo Silic trong mối quan hệ với môi trường sống trong khu
vực nghiên cứu
3.2.3. Sự biến động số lượng tảo silic ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
1. Kết luận 52
2. Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 57
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Hình 1.1. Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ 12
Hình 1.2. Cấu tạo vỏ tảo Silic 13
Bảng 3.1. Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt 1 thu mẫu
21
Hình 3.1. Biểu đồ nhiệt độ nước ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt 1 thu mẫu
22

Nghi Xuân - Hà Tĩnh qua 2 đợt nghiên cứu 39
Bảng 3.13. Sự đa dạng bậc trên loài tảo Silic qua 2 đợt nghiên cứu trong một
số đầm nuôi tôm ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 46
Bảng 3.14. Sự phân bố taxon loài/dưới loài tảo Silic qua 2 đợt nghiên cứu
trong một số đầm nuôi tôm ở huyện Nghi Xuân 47
Bảng 3.15. Kết quả phân tích mẫu định lượng tảo silic ở Nghi Xuân (TB/lít)
50
v
vi
1
MỞ ĐẦU
Trong hệ sinh thái tự nhiên hay trong các ao đầm nuôi trồng thuỷ sản
(trong đó có ao nuôi tôm) thực vật nổi là một trong những yếu tố hữu sinh
đóng vai trò hết sức quan trọng trong trao đổi vật chất và năng lượng của hệ.
Chúng là cơ sở thức ăn tự nhiên, tác nhân lọc sinh học và là nguồn cung cấp
ôxy hoà tan trong nước, đặc biệt là ở các ao nuôi thương phẩm. Thực vật nổi
phản ứng rất nhanh với nguồn dinh dưỡng bổ sung vào môi trường nước, bởi
vậy được xem là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ dinh dưỡng của các
ao nuôi. Sinh khối và tốc độ sinh trưởng của thực vật nổi thay đổi theo mùa
và phụ thuộc vào các yếu tố môi trường (ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, muối
dinh dưỡng…). Nhưng mức độ biến động của thực vật nổi (khi chúng phát
triển quá nhiều hoặc quá ít) lại là tác nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng
nước của ao. Trong các ao nuôi với một số loài hay mật độ của chúng trong
khoảng cho phép sẽ có lợi hay ít nhất là vô hại đối với các đối tượng nuôi,
nhưng khi chúng phát triển quá mạnh, kèm theo đó là tàn lụi và lắng đọng
cũng như sự phân huỷ của chúng trong ao sẽ là nguyên nhân làm chậm sự
phát triển của đối tượng nuôi, gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng.
Không những thế, một số thực vật nổi gây hại đối với các đối tượng nuôi
(sống bám, tiết độc tố…).
Để ổn định và phát triển nghề nuôi tôm thương phẩm, chúng ta không

Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định chất lương nước và thành phần loài
tảo silic ở một số đầm nuôi trồng thủy sản tại huyện Nghi Xuân, đồng thời tìm
hiểu sự phân bố của chúng trong mối liên quan với một số yếu tố sinh thái của
3
môi trường làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật nhằm làm ổn định và nâng
cao chất lượng nguồn thức ăn tự nhiên trong cáo ao nuôi.
Để đạt được mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài là:
- Phân tích một số chỉ tiêu thủy lý - thủy hóa tại địa bàn nghiên cứu.
- Điều tra thành phần loài tảo silic cũng như số lượng của chúng ở một
số đầm nuôi trồng tôm tại Nghi Xuân - Hà Tĩnh.
Đề tài được tiến hành từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014 tại
các đầm nuôi tôm Nghi Xuân - Hà Tĩnh và phòng thí nghiệm Bộ môn Thực
vật, Trung tâm Thí nghiện thực hành - Trường Đại học Vinh.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu phân loại tảo Silic được tiến hành rất sớm, từ những thập
niên đầu thế kỷ XIX, với công trình đầu tiên là “Systema Algarum” của
Agardh C.A. năm 1824. Sau đó, Ehrenberg C.G., Kuetzing F.T., Smith W.,
Ralfs J. đã đề xuất các hệ thống phân loại tảo Silíc. Tuy nhiên, cơ sở phân
loại của các tác giả còn đơn giản, chủ yếu dựa và số lượng thể sắc tố và các
rãnh có hay không để phân loại. Sau đó, hệ thống phân loại tảo Silic đã được
Kastern G. (1928), Kokubo A. (1955), Kim Đức Tường (1965) bổ sung
[dẫn theo1].
Theo hướng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E.E. (1943) đã điều
tra, nghiên cứu thành phần loài tảo Silíc biển ven bờ ở khu vực Bắc Mỹ;
Crossby và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silíc ở Ôxtrâylia và Niudilân hay

sớm. Năm 1926, Rose M. đã công bố 13 chi với 20 loài tảo Silic khi nghiên
cứu vùng biển vịnh Nha Trang [1]. Hoàng Quốc Trương (1962 - 1963) đã
phát hiện 154 loài tảo Silic ở vịnh Nha Trang [19].
Năm 1966, trong cuốn “The plankton of South Vietnam”, cùng với các
loài tảo nước ngọt, Shirota A. đã giới thiệu 213 loài tảo Silic trong 15 vùng
nước lợ, nước mặn ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Kiên Giang [25]. Tuy chỉ
mới trình bày bảng tên loài cùng với những hình vẽ còn đơn giản, không có
phần mô tả hình thái mà chỉ nêu các kích thước nhưng đây là công trình
nghiên cứu quan trọng về thực vật phù du biển. Với danh mục loài phong phú,
6
công trình đã giới thiệu bao quát về thực vật nổi vùng ven biển miền Nam
Việt Nam - điều mà trước đó chưa có tác giả nào thực hiện được.
Trong danh mục loài thực vật phù du ở vùng biển Thuận Hải, Minh Hải
công bố năm 1982 do Viện nghiên cứu biển Nha Trang tổ chức điều tra năm
1977 - 1980 có ghi tên 170 loài tảo Silic [dẫn theo 1].
Ở miền Bắc, trong những năm từ 1959 - 1962 và 1965 - 1966, chương
trình hợp tác điều tra cơ bản tổng hợp vịnh Bắc Bộ đã được Trung Quốc và
Việt Nam tiến hành ở vịnh Bắc Bộ, kết quả có trên 140 loài tảo Silic đã được
công bố [dẫn theo 1].
Trần Trường Lưu (1970) [12], trong báo cáo “Tổng kết thực vật phù du
các vực nước điều tra”, đã thống kê được 74 chi thực vật nổi trong đó tảo Silic:
29, tảo lục: 23, tảo lam: 14, tảo mắt: 4, tảo giáp: 1, tảo vàng: 2, tảo vàng ánh:1.
Sau đó, năm 1972 Trương Ngọc An và một số đồng nghiệp đã tiến
hành khảo sát vùng cửa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ và vùng biển
ven bờ tỉnh Nam Hà. Kết quả sơ bộ cho thấy sự ưu thế vượt trội của tảo Silic
phù du (110 loài, chiếm 88%) trong những thủy vực nước lợ đó [2].
Năm 1972, Cudơmina A.l. có một báo cáo về thực vật phù du trong
mùa hè ở vịnh Bắc bộ, do tàu Peelamida vớt mẫu vào tháng 7 năm 1961 đã
đưa ra danh lục trong đó có 61 loài tảo Silic [dẫn theo 1].
Cũng Trần Trường Lưu (1975) [13] đã tiến hành nghiên cứu trên sông

Coscinodiscus spp, Skeletonema costatum và Rhizosolenia spp. Thành phần
loài thay đổi rõ rệt theo hai mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ và độ mặn là hai
yếu tố chính ảnh hưởng đến những thay đổi về mùa vụ. Đỉnh cao của tảo Silíc
cũng là đỉnh cao của tảo Hai Roi. Hàm lượng muối dinh dưỡng (silic,
photpho, nitơ) có liên quan chặt chẽ với độ mặn, nhưng các mối quan hệ giữa
các thành phần sinh học và các muối dinh dưỡng lại không rõ ràng [10].
8
Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành (1999), trong công trình “Chất lượng nước
và thành phần loài vi tảo (Microalgae) ở sông La - Hà Tĩnh” đã xác định
được 136 loài và dưới loài trong đó có 60 loài tảo Silic (chiếm 44,12%) [9].
Nguyễn Đình San (2001), giới thiệu trong Luận án Tiến sĩ Sinh học của
mình một danh mục gồm 196 loài thuộc 5 ngành tảo trong một số thủy vực bị
ô nhiễm ở 3 tỉnh Bắc miền Trung, trong đó có 59 loài tảo Silic phù du [16].
Ở sông Lam (Nghệ An), Lê Thị Thuý Hà (2004) với đề tài“Khu hệ
thực vật nổi ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An - Hà Tĩnh)”, Luận
án Tiến sỹ Sinh học, đã phát hiện được 165 loài tảo Silic, trong đó bộ
Discales và bộ Diraphinales có nhiều loài nhất. Tác giả cũng nghiên cứu yếu
tố phân bố địa lý theo Murapharov (1981) và đã kết luận yếu tố địa lý của tảo
Silic ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam mang đầy đủ các yếu tố: Yếu tố
phân bố rộng (134 loài), yếu tố ôn đới Bắc (17 loài), yếu tố nhiệt đới và á
nhiệt đới (7 loài), yếu tố châu Úc đại dương (1 loài) [8].
Trong các đầm nuôi tôm quảng canh cải tiến và bán thâm canh thuộc
hai vùng Quỳnh Lưu - Nghệ An và Thạch Hà - Hà Tĩnh) Nguyễn Đức Diện
và cộng sự đã công bố số loài tảo Silíc củng cao hơn các ngành khác (với
47/72 loài, chiếm 64,38%), kế đó là tảo Hai Roi với 10 loài (13,7%), ngành
tảo Mắt có số loài thấp nhất (4 loài, chiếm 5,48%). Thành phần loài TVN
trong đầm nuôi tôm ở hai vùng có sự khác nhau, với hệ số giống nhau
S = 0,34. Mật độ tế bào TVN trong các đầm này cũng khá phong phú
(17,8 - 25)
×

×
10
6
tb/L), ưu thế thuộc về các loài thuộc chi tảo Lam Phormidium,
Oscillatoria và tảo Silíc Nitzschia, Pleurosigma. Trong một số ao nuôi tôm
thuộc Cần Giuộc (Long An) tảo phát triển mạnh, gây ô nhiễm môi trường với
mật độ dao động 4.436
×
10
6
- 17.266
×
10
6
tb/m
3
cùng với chỉ số đa dạng loài
rất thấp (< 2). Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả kết luận rằng thành
phần loài TVN trong các ao nuôi thấp, trong khi mật độ tế bào lại cao hơn so
với kênh rạch (nơi cấp nước cho ao). Sự phát triển quá mạnh của một số loài
đã lấn át sự phát triển của các loài khác, vì thế độ đa dạng loài của TVN trong
ao nuôi tôm thấp hơn so với mực nước tự nhiên. Với môi trường nước tĩnh và
giàu dinh dưỡng là điều kiện tốt cho các loài tảo Lam phát triển mạnh, tạo
đỉnh cao về mật độ tế bào trong ao nuôi . Nguyễn Văn Hảo (2002) cũng đưa
ra một số dữ liệu về TVN trong các ao nuôi tôm ở Tiền Giang, Bến Tre, Cà
Mau với thành phần loài dao động 16 - 44 loài (tảo Silíc chiếm ưu thế) và
mật độ tế bào đạt từ 0,2 - 6,6
×
10
3

Tảo Silic là đơn bào dạng hạt sống đơn độc hay sống thành tập đoàn
dạng palmella, dạng sợi, dạng chuỗi, dạng zíc zắc, dạng băng, dạng sao, dạng
các ống nhầy không phân nhánh hay phân nhánh đơn giản hoặc phức tạp dạng
cây. Kích thước của tế bào từ vài µm đến vài trăm µm. Tế bào Tảo silíc có
11
nhân là lưỡng bội. Tảo silíc khác biệt với tất cả các ngành tảo khác bởi cấu
trúc độc đáo của vách tế bào là gồm hai mảnh cấu thành bởi lớp trong là
pectin và lớp ngoài là chất silíc (SiO
2
. 7H
2
O). Hai mảnh vỏ có cấu trúc như
hai nắp của một cái hộp lắp vào với nhau, bên trong chứa tế bào chất. Như
vậy có một mảnh vỏ lớn và một mảnh vỏ nhỏ hơn. Bề mặt của mỗi mảnh vỏ
là mặt vỏ của tế bào. Như vậy mỗi tế bào có hai mặt vỏ. Mặt bên của mảnh vỏ
khi lắp vào với mặt bên của mảnh vỏ thứ hai tạo thành mặt đai của tế bào.
Nếu mặt vỏ có hình tròn, hình elíp hay hình có hai góc thì mỗi tế bào chỉ có
hai mặt đai, còn mặt vỏ có hình nhiều góc thì tương ứng với mỗi cạnh của
hình đa giác của mặt vỏ là một mặt đai. Những Tảo silíc trên mặt vỏ có các
cấu trúc hoa văn là các vách hay sườn ngang hoặc xiên hoặc các chấm xếp
thành hang và đối xứng qua trục dọc tế bào theo kiểu lông chim thì thuộc lớp
Tảo silíc lông chim. Thường các hoa văn nằm hai bên mặt vỏ để lại một dăi ở
chính phần trục dọc không có hoa văn gọi là vùng trục Những Tảo silíc có
hoa văn là các đường vạch, là các chấm, các vân dạng vảy hay dạng mắt sàng
xếp lộn xộn hay xếp theo quy luật nhất định trên bề mặt vỏ thì thuộc lớp Tảo
silíc trung tâm.
1.2.1. Hình thái vỏ (vách tế bào)
Tảo Silic rất đa dạng về mặt hình thái, có ít nhất 16 kiểu khác nhau:
hình que, hình thuyền, hình đĩa, hình chuỗi, sợi, dải, sao [6].
12

chiều cao) của tế bào tảo thì các cấu trúc và vi cấu trúc lỗ trên bề mặt của vỏ
tảo như hình dạng, số lượng, cách sắp xếp của chúng cũng phải được quan sát
để căn cứ vào đó mà định danh.
14
- Tảo Silic trung tâm: hình dạng, số lượng, cách sắp xếp dải lỗ vân (đơn
lẻ hay thành nhóm) từ trung tâm đến viền mép của mặt vỏ; bề mặt vỏ (lồi,
lõm, phẳng, hình nón hay gợn sóng); số lượng, hình dạng các u lồi, lông gai,
gai, mấu, chúng sắp xếp ở trung tâm hay viền mép mặt vỏ.
- Tảo Silic lông chim không rãnh: thường có dạng hình que, kích thước
rất nhỏ, đa số sống bám. Những đặc điểm cần chú ý: hình dạng, cách liên kết
các tế bào, có hay không có rãnh giả, số lượng các dải vân, sự sắp xếp các dải
vân, các dải trơn chạy dọc theo mặt vỏ, đặc điểm phân bố các dải vân ở trung
tâm với vùng đầu của mặt vỏ.
- Tảo Silic lông chim có rãnh: rãnh hay khe có phía ngoài rộng và hẹp ở
giữa, chia mặt vỏ thành hai phần bằng nhau hoặc có thể lệch sang bên, rãnh
có một u lồi ở trung tâm và kết thúc bởi 2 u lồi ở cực tế bào.
Ngoài ra, trong thực tế khi định danh còn phải sử dụng một số các đặc
điểm khác như: gần phía đầu mặt vỏ và hai bên mép mặt vỏ thắt lại rồi mở
rộng ra tạo thành hình đầu; đoạn kết thúc của rãnh ở trung tâm hoặc đầu mặt
vỏ có hình dạng như thế nào; quanh vùng trục có hay không có cấu trúc dạng
hạt; cấu trúc trơn dạng chữ H trên bề mặt vỏ; rãnh lệch tâm hay không lệch
tâm. Ở nhiều loài tảo Silic trung tâm chỉ có thể định danh qua hình dạng và
cấu trúc của mặt đai; một số loài tảo Silic lông chim có cấu trúc vỏ khác nhau:
một vỏ có rãnh (thường là nắp dưới) và một vỏ không có rãnh.
1.3. Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản
Vi tảo là sinh vật sản xuất của mọi hệ sinh thái thủy vực, cung cấp
chất hữu cơ và dưỡng khí cho các sinh vật khác sống trong nước. Đại dương
và biển chiếm 71% diện tích trái đất, nhiều tác giả cho rằng hàng năm tảo
sống trong đó đã tạo nên 19 - 53 tỉ tấn chất hữu cơ thậm chí một số tác giả
người Mỹ còn đưa ra con số 70 - 280 tỉ tấn/năm. Trong nghề nuôi cá thực

1.4. Vài nét về đặc điểm của Nghi Xuân - Hà Tĩnh
Huyện Nghi Xuân nằm trong dải đồng bằng ven biển xen với đồi núi.
Phần đồng bằng tương đối bằng phẳng có xu hướng dốc từ Tây sang Đông,
trung bình 1,2% có nơi 1,8%. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là
21.800 ha.
Trong đó: Đất nông nghiệp là 11.485ha (Chiếm hơn 50%), còn lại là
đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, diện tích mặt nước và các loại đất khác,
trong đó có 420ha diện tích có thể nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng
6.300.000m
3
nước để nuôi thuỷ sản. Ở đồng bằng ven biển và thung lũng
sông phân bố ở phía Bắc và phía Đông huyện đất chủ yếu là loại cát, cát pha
và phù sa ven sông là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi
trồng thuỷ sản.
Về khí hậu: Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa khô (mùa lạnh) từ
tháng 11 - 4 năm sau và mùa nóng (mùa mưa) từ tháng 5 - 10.
Nhiệt độ trung bình năm biến đổi không lớn, từ 20 - 28
o
C, tháng nóng
nhất là tháng 5 - 7, nhiệt độ trung bình có thể lên tới 37 - 38
o
C. Các tháng
mùa đông nhiệt độ trung bình 10,1 - 18,4
o
C, tháng lạnh nhất là tháng 12,
tháng 1 với nhiệt độ có thể xuống đến 8 - 10
o
C.
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 85 - 86%, trong đó mùa mưa
thường dao động trong khoảng: 80 - 90%, còn mùa khô: 50 - 70%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status