iii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
MAI THỊ THỦY
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ ĐỂ DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC
SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Vinh, năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
iii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
MAI THỊ THỦY
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ ĐỂ DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC
SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN& PPDH SINH HỌC
Mã số: 60. 14. 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Diễn thế sinh thái
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HĐKP
Hoạt động khám phá
HS
Học sinh
MT
Môi trường
STH
Sinh thái học
SGK
Sách giáo khoa
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”. Để đạt được mục
tiêu trên thì giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng và đổi mới giáo dục là một
yêu cầu bức thiết. Trong đó, đổi mới PPDH là một khâu đột phá quyết định việc
nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu thời đại.
Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay đòi hỏi GV gia công sư phạm nhiều để
tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức của HS. Hoạt động của GV bao gồm:
định hướng phát triển tư duy cho HS; lựa chọn nội dung vấn đề đảm bảo tính vừa
sức với HS; tổ chức HS hoạt động theo nhóm trên lớp; chuẩn bị các phương tiện
dạy học hỗ trợ cần thiết,… Hoạt động định hướng, chỉ đạo của GV như thế nào
để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực. Đó là
việc làm không dễ dàng, đòi hỏi GV phải đầu tư công phu vào nội dung bài
giảng. HS lĩnh hội các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ kiến
thức tích luỹ của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri
thức có tính chất tập thể, của lớp học; GV kết luận vấn đề làm cơ sở cho HS tự
kiểm tra, điều chỉnh kiến thức của mình tiếp cận với tri thức khoa học của nhân
loại. HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần phát triển kỹ năng tư duy
và năng lực tự học.
8
Tuy nhiên, đổi mới PPDH còn rất chậm, việc vận dụng các PPDH tích cực
còn ít và mang tính hình thức. Trong quá trình dạy học GV ít chú trọng đến phát
triển năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tự học và độc lập giải quyết vấn đề cho
HS. Mặt khác, SGK mới nói chung và sách Sinh học 12 THPT nói riêng mà cụ
thể là phần Sinh thái học được chuyển từ cách trình bày truyền thống thông báo;
giải thích; minh họa sang cách tổ chức các hoạt động tìm tòi khám phá, qua đó
phần sinh thái học sinh học 12 THPT
5.2.Khách thể nghiên cứu :
- Điều tra việc xây dựng và sử dụng các HĐKP để dạy học phần sinh thái
học sinh học 12 THPT ở một số trường THPT
- Điều tra mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh trong quá trình học tập
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế và sử dụng các HĐKP dạy học phần sinh thái học sinh học 12
THPT một cách hợp lí sẽ tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh , góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương , đường lối của đảng và nhà
nước trong công tác giáo dục và đổi mới PPDH. Các tài liệu lí luận dạy học , đặc
biệt là dạy học bằng các HĐKP làm cơ sở vận dụng vào phần sinh thái học sinh
học 12 THPT.
7.2. Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra thực trạng, phân tích nguyên nhân, hạn chế chất lượng dạy và học
Sinh học nói chung và phần Sinh thái học nói riêng ở THPT.
Đối với GV:
- Điều tra thực trạng giảng dạy bộ môn Sinh học nói chung, phần Sinh thái
học nói riêng
- Tham khảo giáo án và dự giờ một số GV
10
Đối với HS: Điều tra thực trạng học bộ môn Sinh học ở trường THPT.
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm bằng phương pháp thực nghiệm chéo ở 3 trường
THPT, mỗi trường chọn 2 lớp thực nghiệm (TN); 2 lớp đối chứng (ĐC) có số
n −1
- Độ lệch chuẩn S (đo mức độ phân tán của số liệu quanh giá trị trung bình):
S= ±
(
1
∑ Xi − X
n −1
)
2
ni
S cho biết mức độ phân tán quanh giá trị X , S càng bé độ phân tán càng ít .
- Hệ số biến thiên: Cv% =
S
100%
X
Khi có hai số trung bình cộng khác nhau, độ chuẩn khác nhau thì phải xét
đến hệ số biến thiên (Cv).
+ Cv = 0-10%
: Dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị tα được tra trong bảng phân phối
Student với mức ý nghĩa α =0,05 và bậc tự do f= n1+n2-2: - Nếu td ≥ tα: Sự khác
nhau giữa X 1 và X 2 là có ý nghĩa thống kê; - Nếu t d < tα: Sự khác nhau giữa X 1
và X 2 là không có ý nghĩa thống kê.
cao chất lượng dạy học bộ môn, năng lực tự học và tự giải quyết vấn đề của HS.
8. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
8.1. Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
8.2. Xây dựng các HĐKP dạy học phần Sinh thái học SH 12
8.3. Đề xuất quy trình sử dụng HĐKP để dạy học phần Sinh thái học SH 12 THPT
8.4. Xây dựng giáo án mẫu sử dụng các HĐKP trong dạy học phần Sinh thái học.
8.5. Bài báo khoa học theo hướng nghiên cứu của đề tài : Dạy học phần sinh thái
học 12 THPT bằng các hoạt động khám phá.
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 : Sử dụng HĐKP để dạy - học phần Sinh thái học Trung học
phổ thông
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
KHÁM PHÁ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về DHKP trong DH
1.1.1. Nước ngoài
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ
chủ yếu của quá trình dạy học. Vì vậy, nó luôn là trung tâm chú ý của các nhà
giáo dục học. Một trong những hướng dạy học nhằm nâng cao tính tích cực học
hướng vào việc hình thành nhân cách của các em. Trong những năm 1970-1980,
Bộ GD - ĐT Pháp đã khuyến khích tăng cường vai trò tích cực, chủ động của HS
trong quá trình học tập. Ở Hoa Kỳ, PPDH cá nhân hóa bằng cách GV xác định
mục tiêu, cung cấp phiếu hướng dẫn để HS tiến hành công việc độc lập theo nhịp
14
độ phù hợp với năng lực đã được tiến hành tại một số trường thực nghiệm những
năm 1970.
1.1.2. Trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức của HS cũng được
quan tâm từ những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, đặc biệt trong thời gian gần đây,
Đảng và Nhà nước thấy được tầm quan trọng của đổi mới PPDH. Đã có rất nhiều
tác giả nghiên cứu về PPDH tích cực như: Nguyễn Ngọc Quang, Đinh Quang
Báo, Nguyễn Đức Thành, ...[ 1;4; 5;7 ] .
Các PPDH tích cực được nghiên cứu, áp dụng nhiều trong đó dạy học
bằng các HĐKP thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà giáo dục. Có rất
nhiều tác giả nghiên cứu về PPDH này như: Nguyễn Thị Dung (Cao đẳng sư
phạm Hà Nội): Nâng cao năng lực tư duy của HS thông qua DHKP (Tạp chí
phát triển giáo dục, số 6 - Tháng 6/2005); Nguyễn Thị Hồng Nam (Đại học Cần
Thơ): Vận dụng hình thức DHKP vào dạy học Văn ở trường Đại học [15].
Trong số đó nổi bật là những bài viết của Trần Bá Hoành trên các báo, tạp
chí chuyên ngành như: Học bằng các HĐKP [7]; Đổi mới cách viết sách giáo
khoa bậc trung học (Tạp chí giáo dục, số 89, năm 2004)... Những bài viết này đã
được tác giả tập hợp lại trong cuốn sách: Đổi mới PPDH, chương trình và sách
giáo khoa, NXB Đại học sư phạm năm 2006. Trong các bài viết đó, tác giả nêu
bật bản chất của DHKP, phương pháp tổ chức các HĐKP, ưu nhược điểm và
những điều kiện áp dụng dạy học bằng các HĐKP.
Gần đây trên Tạp chí Giáo dục có nhiều bài viết đề cập đến DHKP: Lê
1.2.1.2. Hoạt động khám phá trong học tập
Hoạt động học tập là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp
hướng tới mục tiêu xác định của bài học.
16
Nét bản chất của DHKP trong học tập là HS phải giành lấy kiến thức qua
tư duy độc lập, sáng tạo hoặc hoạt động thực hành
Trong DHKP, đòi hỏi GV gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận
thức của HS. Hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển tư duy
cho HS, lựa chọn nội dung vấn đề đảm bảo tính vừa sức với HS; tổ chức HS hoạt
động theo nhóm trên lớp; chuẩn bị các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết…
Hoạt động chỉ đạo của GV như thế nào để cho mọi thành viên trong các
nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực. Đó là việc làm không dễ dàng đòi hỏi
người GV phải đầu tư công phu vào nội dung bài giảng [7].
HS tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri
thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành thi thức có
tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; GV kết luận cuộc đối thoại, đưa ra nội
dung vấn đề làm cơ sở cho HS tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân
tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại.
HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm
dẻo trong tư duy và năng lực tự học. Đó chính là nhân tố quyết định sự phát triển
bản thân người học.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận
thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà
nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài đã tích lũy được. Tuy nhiên, trong học tập
HS cũng phải "khám phá" ra những điều mới đối với bản thân.
HĐKP trong học tập không phải là một quá trình mò mẫm như trong
nghiên cứu khoa học mà là một quá trình có hướng dẫn của GV, trong đó GV
PPDH bằng các HĐKP có một số ưu điểm nổi bật sau:
18
- HS coi việc học là của mình từ đó phát huy được tính tích cực - độc lập chủ động - sáng tạo trong quá trình học tập.
- HĐKP tạo ra hứng thú, đem lại nguồn vui, kích thích trực tiếp lòng ham
mê học tập của HS. Đó chính là động lực của quá trình DH.
- HS hiểu sâu, nhớ lâu những nội dung cốt lõi của bài học qua các HĐKP.
Như vậy, các em không chỉ có kiến thức mà còn có phương pháp tìm
kiếm ra kiến thức, phát triển được năng lực tư duy.
- Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri
thức của mình là cơ sở hình thành phương pháp tự học.
- Giải quyết vấn đề nhỏ, vừa sức của HS được tổ chức thường xuyên trong
quá trình học tập là phương thức để HS tiếp cận với kiểu DH hình thành và giải
quyết vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn.
- Đối thoại thầy trò, trò trò tạo ra bầu không khí sôi nổi, tích cực góp phần
hình thành mối quan hệ giao tiếp trong lớp học, trong nhà trường.
1.2.3.2. Nhược điểm
- DH bằng các HĐKP nếu thực hiện không hợp lí HS lúng túng không
thực hiện được các hoạt động nhất là HS yếu kém, gây lãng phí thời gian, giảm
hứng thú, một số HS đâm ra lười biếng.
- Nếu hướng dẫn không tốt HS có thể đi tới những khám phá sai lầm.
- HĐKP cần nhiều thời gian, nếu HS chưa quen sẽ làm chậm tiến độ, phá
vỡ kế hoạch dự kiến của GV.
- Có những nội dung không thích hợp với DH bằng các HĐKP, nếu áp
dụng máy móc sẽ không hiệu quả [17 ].
1.2.4. Những yêu cầu khi thiết kế và sử dụng các HĐK
- Rèn luyện tư duy, năng lực xử lý tình
huống, giải quyết vấn đề.
Dạng hoạt động
- Trả lời câu hỏi
- Điền từ, điền bảng, điền tranh
câm.
- Lập bảng, biểu, đồ thị, sơ đồ,
bản đồ, đọc và phân tích.
- Làm thí nghiệm, đề xuất giả
thuyết, phân tích nguyên nhân,
thông báo kết quả.
- Thảo luận, tranh cãi về một vấn
đề.
- Giải bài toán nhận thức, xử lí
tình huống.
- Nghiên cứu ca điển hình, điều tra
thực trạng, đề xuất và thực nghiệm
phương pháp mới.
- Làm bài tập lớn, đề án, luận văn,
luận án.
Hình thức tổ chức hoạt động
- Hoạt động độc lập (cá nhân).
- Nhóm rì rầm (cặp hai người).
- Hợp tác trong nhóm nhỏ (nhóm
4-6 người).
- "Kim tự tháp" (hợp 2 nhóm 2
người thành nhóm 4 người, hợp 2
nhóm 4 người thành nhóm 8
chất lượng lĩnh hội tri thức của HS. Như vậy có thể xem CH, BT vừa là nội
dung; vừa là phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chức quá trình dạy học đạt
được mục tiêu.
- Khi sử dụng CH, BT trong DH ngoài việc quán triệt mối quan hệ giữa
mục tiêu- nội dung và phương pháp, thì còn tùy thuộc vào nội dung mà CH, BT
được sử dụng như là phương pháp hay biện pháp tổ chức quá trình DH.
22
- Trong các hình thức tổ chức DH khác như tham qua, BT ngoài giờ, BT
ngoại khóa, BT ở nhà thì CH, BT là phương tiện để tổ chức quá trình nhận thức
kết hợp với các phương tiện DH khác tạo thành phương pháp DH tích cực.
Như vậy, có thể ví CH, BT như là một mối quan hệ hữu cơ gắn kết giữa
các yếu tố cấu trúc của quá trình DH thành một chỉnh thể toàn vẹn, từ mục tiêu nội dung - phương pháp - phương tiện và các hình thức tổ chức DH. Sự có mặt
của chúng trong các yếu tố cấu trúc của quá trình DH giúp vận hành, thúc đẩy
quá trình DH đạt được chất lượng cao...
1.2.5.2. HĐKP dạng thiết lập sơ đồ bảng biểu
*Khái niệm sơ đồ, bảng biểu:
- Sơ đồ, bảng biểu là biện pháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ
sơ đồ, bảng biểu. Mỗi loại kiến thức có thể được mô hình hóa bằng một lại sơ
đồ, bảng biểu đặc trung để phản ánh thuộc tính bản chất của loại kiến thức đó.
Trong DH có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy một khái niệm, một bài học,
một chương hoặc một phần.
*Vai trò khi dùng sơ đồ bảng biểu để xây dụng các HĐHT:
`- Ngôn ngữ sơ đồ, bảng biểu vừa cụ thể, trực quan, chi tiết nhưng vừa có
tính khái quát, trừu tượng và hệ thống cao. Sơ đồ, bảng biểu cho phép HS tiếp
cận với nội dung kiến thức bằng con đường logic tổng - phân - hợp.
- Nắm bắt nhanh, chính xác năng lực tu duy và trình độ nhận thức của HS
từ đó đưa ra những biện pháp giúp đỡ phù hợp.
đặc biệt là các PPDH tích cực; về vai trò ý nghĩa của CH, bài tập (BT) thực trạng
sử dụng chúng trong quá trình DH. Thông qua dự giờ, trao đổi ý kiến với 45 GV
của trường THCS & THPT Chu Văn An và THPT Trần Phú; trường THPT Lý
Thường Kiệt - Móng Cái - Quảng Ninh đã thu được kết quả các mặt sau:
1.3.2. PPDH của GV
24
Kết quả khảo sát GV về PPDHKP và những PPDH mà GV thường sử
dụng thể hiện: Số GV tham gia 45; số CH cho các phần: 20 câu. Câu trả lời
đúng: 405 (45%); câu trả lời sai 495 (55%). Phân tích các câu trả lời thu được từ
các số liệu trên, cùng việc trao đổi trực tiếp, dự giờ chúng tôi nhận thấy PPDH
của đa số GV vẫn là thầy đọc, trò chép. Một bộ phận không nhỏ GV cho rằng cứ
mang thật nhiều mẫu vật đến lớp, chia mỗi bàn 5 học sinh (HS) gọi là một nhóm,
có tranh vẽ, có phiếu học tập ghi sẵn một vài CH,... là DH theo PP tích cực!
Thực ra, đó chỉ là bề ngoài của PPDH tích cực. Điều quan trọng là tổ chức hoạt
động nhận thức bằng sự tìm tòi, bằng sử dụng các thao tác logic để gia công
thông tin. Điều đó lại ít được thể hiện trong thực tế DH của những GV mà chúng
tôi khảo sát.
Qua dự giờ, trao đổi với một số GV chúng tôi thấy GV vẫn “phát thanh”
lại SGK, ít chú ý phân tích logic bản chất nội dung kiến thức, cấu trúc bài giảng
luôn luôn cứng nhắc rập khuôn cách trình bày của SGK, chưa có nhiều sự gia
công về mặt sư phạm, để chính xác hoá các nội dung, để có thể thiết kế và sử
dụng CH, BT tổ chức hoạt động học của HS. Cùng với thực trạng đó là những
phương tiện DH hỗ trợ DH nhằm nâng cao chất lượng sử dụng CH, BT như
tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng, tài liệu tham khảo và các đồ dùng thí nghiệm học tập
còn thiếu, và nếu có thì cách sử dụng không hợp lí nên kết quả còn hạn chế.
Để chứng minh cho những nhận xét trên, khi đi sâu vào phân tích kết quả
trả lời các CH, ngay CH đầu tiên trong phiếu điều tra GV về các PPDH tích cực
chuẩn bị sẵn, HS nghe thụ động và nhớ máy móc. Để tìm hiểu thực trạng việc
học môn SH hiện nay ở một số trường như: THCS & THPT Chu Văn An,THPT
Trần Phú, THPT Lý Thường Kiệt - Móng cái - Quảng Ninh. Nhằm đưa ra các
giải pháp tích cực hoá hoạt động học tập cho HS, năm 2012, chúng tôi thiết kế và sử
dụng bộ câu hỏi (CH) test khảo sát HS về thái độ đối với bộ môn Sinh học và đối
với giờ học; và về PP học của HS hiện nay (xem phiếu điều tra HS).
1. Thái độ của HS đối với bộ môn Sinh học và đối với giờ học